Nâng cao tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình bằng việc sử dụng một số chất liệu từ thiên nhiên đối với trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non nghĩa ninh thành phố đồng hới quảng bình - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Trân trọng cảm ơn trường Đại học Quảng Bình cùng toàn thể các giảng
viên trong Khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non đã trực tiếp chỉ dẫn cho tôi
trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS. Nguyễn
Chiêu Sinh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cô và cháu trường Mầm non Nghĩa
Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong công tác nghiên cứu.
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy
cô, bạn bè để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Đồng Hới, tháng 5 năm 2017
Sinh viên : Đinh Thị Thanh Hiếu


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài. .......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. ............................................................. 2
3.1. Khách thể : ................................................................................................. 2
3.2. Đối tượng nghiên cứu : .............................................................................. 2
4. Nhiệm vụ của đề tài. ..................................................................................... 2
5. Giả thuyết khoa học. ..................................................................................... 3
6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................. 3
7.1. Nghiên cứu lý luận : ................................................................................... 3
7.2. Phương pháp quan sát tự nhiên: ................................................................. 3
7.3 Phương pháp điều tra : ................................................................................ 3

tạo hình. ........................................................................................................... 24
1.5.2. Sự tác động của nguyên vật liệu từ thiên nhiên đối với sự phát triển
trong hoạt động tạo hình của trẻ...................................................................... 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN
QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH BẰNG VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ CHẤT
LIỆU TỪ THIÊN NHIÊN Ở TRƯỜNG MẦM NON NGHĨA NINH ........... 28
2.1. Vài nét về trường Mầm non Nghĩa Ninh- TP Đồng Hới. ........................ 28
2.2. Thực trạng tính sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình
bằng việc sử dụng một số chất liệu thiên nhiên ở trường Mầm non Nghĩa
Ninh- TP Đồng Hới ......................................................................................... 29
2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng ........................................................... 29
2.2.2. Khách thể khảo sát. ............................................................................... 29
2.2.3. Nhiệm vụ và nội dung khảo sát ............................................................ 30
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu. ..................................................................... 30
2.2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng. ............................................................. 32
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO TÍNH SÁNG TẠO TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO
HÌNH THÔNG QUA MỘT SỐ CHÂT LIỆU TỪ THIÊN NHIÊN ĐỐI VỚI
TRẺ MẪU GIÁO LỚN TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGHĨA NINHTP.ĐỒNG HỚI................................................................................................ 50
3.1. Mục đích thực nghiệm. ............................................................................ 50


3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm. ......................................... 50
3.3. Nội dung thực nghiệm.............................................................................. 50
3.4. Quy trình thực nghiệm. ............................................................................ 53
3.4.1. Tiêu chí và thang đánh giá về tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong
hoạt động tạo hình. .......................................................................................... 53
3.4.2. Các bước tiến hành thực nghiệm. ......................................................... 55
3.4.3 Các bài soạn thực nghiệm. ..................................................................... 55
3.5. Kết quả thực nghiệm. ............................................................................... 62
C. KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ ......................................................................... 80

Bảng 3.8: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhóm ĐC và
TN sau khi TN (Tính theo nội dung) .............................................................. 75


DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước
khi TN (Tính theo tỉ lệ %)………………………………………..………….70
Biểu đồ 3.2: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ nhóm ĐC và TN trước
khi TN (Tính theo nội dung) ........................................................................... 64
Biểu đồ 3.3: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi nhóm TN trước
và sau khi TN (Tính theo tỉ lệ %) ................................................................... 66
Biểu đồ 3.4: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi nhóm TN trước
và sau khi TN (Tính theo nội dung) ................................................................ 67
Biểu đồ 3.5: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhóm ĐC
trước và sau khi TN (Tính theo tỉ lệ %) .......................................................... 72
Biểu đồ 3.6: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhóm ĐC
trước và sau khi TN (Tính theo nội dung) ...................................................... 73
Biểu đồ 3.7: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhóm ĐC
và TN sau khi TN (Tính theo tỉ lệ %) ............................................................. 75
Biểu đồ 3.8: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhóm ĐC
và TN sau khi TN (Tính theo nội dung) ......................................................... 79


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT

Viết tắt

Ý nghĩa đầy đủ


6

MGL

Mẫu giáo lớn

7

MN

Mầm non

8



Mức độ

9

TN

Thực nghiệm

10

NVL

Nguyên vật liệu



A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thế giới đang bước vào thời đại văn minh của trí tuệ sự sáng tạo của con
người đã mang đến cho xã hội những giá trị vật chất và tinh thần rất phong
phú. Tính sáng tạo được coi là phẩm chất quan trọng không thể thiếu của
người lao động mới. Giáo dục mầm non là bậc đầu tiên trong quá trình giáo
dục. “ Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển thể chất, tình
cẩm, trí tuệ, thẩm mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và
chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1”. Sự hình thành và phát triển các đặc điểm tâm
lý nói chung và khả năng sáng tạo nói riêng ở lứa tuổi mẫu giáo là cơ sở, nền
móng cho sự phát triển tâm lý, khả năng sáng tạo sau này của trẻ.
Hoạt động tạo hình của trẻ là một lĩnh vực mang tính thẩm mỹ và nó
không thể thiếu ở lứa tuổi mầm non. Qua nghiên cứu về vai trò của hoạt động
tạo hình đối với sự phát triển nhận thức của trẻ, có thể khẳng định rằng hoạt
động tạo hình là một trong những hoạt động tạo tích cực cho sự phát triển khả
năng tư duy sáng tạo của trẻ.
Muốn kích thích được tính sáng tạo của trẻ thì giáo viên phải tạo những
yếu tố mới lạ để hấp dẫn trẻ, thu hút trẻ tạo ra được sự chú ý có tính chất kiên
định với những đối tượng cần miêu tả nào đó. Một trong những yếu tố rất
quan trọng, luôn hấp dẫn trẻ, tạo cho trẻ niềm say mê sáng tạo chính là thiên
nhiên và các vật liệu tạo hình lấy từ thiên nhiên. Thiên nhiên xung quanh
chúng ta rất phong phú và đa dạng, đó là cả thế giới của những sắc màu, hình
dạng, ánh sáng... Thiên nhiên không bị bó hẹp trong các khuôn mẫu thô cứng
mà nó là tất cả những gì sinh động nhất, phong phú nhất và đẹp nhất. Giáo
viên có thể sử dụng vật liệu phong phú từ thiên nhiên làm nguồn tư liệu để tạo
ra ở trẻ vốn biểu tượng mới. Qua thiên nhiên, trẻ có thể học được nhiều cách
thể hiện khác nhau. Hơn nữa những vật liệu thiên nhiên đa số là gần gũi với
trẻ dễ tìm, dễ kiếm và không tốn kém.

4. Nhiệm vụ của đề tài.
- Đọc sách, thu thập tài liệu hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan
tới đề tài nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức hoạt động tạo hình và việc sử dụng
các vật liệu tạo hình ở một số trường mầm non hiện nay.

2


- Tổ chức thực nghiệm đưa vật liệu thiên nhiên vào hoạt động tạo hình và
kiểm tra kết quả thực nghiệm trong việc kích thích sự sáng tạo và nâng cao
hiệu quả của hoạt động tạo hình.
- Đề xuất một số ý kiến, một số hình thức nâng cao chất lượng của hoạt
động tạo hình trong giáo dục mầm non.
5. Giả thuyết khoa học.
Nếu tìm ra những hình thức thích hợp việc sử dụng chất liệu từ thiên
nhiên vào hoạt động tạo hình đối với trẻ mẫu giáo lớn có thể nâng cao được
tính sáng tạo của trẻ trong hoạt động tạo hình và phát triển khả năng tạo hình
cho trẻ.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động tạo hình bằng việc sử dụng chất liệu
thiên nhiên trên một số tiết học và ngoài tiết học của trẻ mẫu giáo lớn ( 5 – 6
tuổi ).
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nghiên cứu lý luận :
Đọc và tìm hiểu, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu tâm lý học, giáo
dục về tính sáng tạo, về hoạt động tạo hình của trẻ, nghiên cứu các tài liệu về
các vấn đề liên quan.
7.2. Phương pháp quan sát tự nhiên:
- Quan sát giờ tạo hình của giáo viên và trẻ để tìm hiểu mức độ sáng

- Tại nhóm thực nghiệm : Sử dụng nguyên vật liệu từ thiên nhiên vào
quá trình dạy học :
+ Tăng cường tổ chức cho trẻ được dạo chơi và quan sát thiên nhiên.
Để từ đó thấy trẻ gần gũi với thiên nhiên cũng như phát hiện và tìm kiếm ra
những nét mới lạ, vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng.... Điều này kích thích trí
tò mò, từ đó trẻ tìm hiểu thế giới xung quanh và trẻ sẽ tham gia hoạt động tạo
hình một cách hứng thú và say mê.
+ Sử dụng vật liệu thiên nhiên một cách tích cực trên tiết học tạo hình
và các hoạt động tạo hình ngoài tiết học để hình thành ở trẻ thái độ tích cực,
sáng tạo với hoạt động tạo hình, lòng yêu thích và ham muốn được hoạt động
tạo hình.
7.4.3. Thực nghiệm kiểm chứng.
- Ở hai nhóm trẻ ( đối chứng và thực nghiệm ) được tiến hành với hai
bài
+ Bài 1 : Đính, ghép cây xanh.

4


+ Bài 2 : Làm tranh những con vật sống dưới nước.
Từ đó đi đến nhận xét và kết luận sự khác biệt về mức độ sáng tạo giữa
hai nhóm trẻ.
7.5. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ.
Dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá để phân tích sản phẩm hoạt động của
trẻ
8. Cấu trúc của đề tài.
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận.
+ Chương 2: Thực trạng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động tạo

May (1961), Mackinon (1962), Yamamoto (1963), P.Torance (1965)…
Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian này đã được xuất bản nội dung
đề cập tới những vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo, các thuộc tính của
nhân cách sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, các giai đoạn
của quá trình sáng tạo, vấn đề kích thích năng lực sáng tạo…
b. Những nghiên cứu về tính sáng tạo của trẻ
Hoạt động tạo hình của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo là một trong những
hoạt động thu hút nhiều sự quan tâm chú ý của các nhà tâm lý học và giáo dục
học trong nước và nước ngoài.

6


Các nhà nghiên cứu như L.xưgootxki, B.cheplov, G.kerschensteiner,
V.bakusinxki, E.florina... Đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động
tạo hình ở trẻ em. Họ đã đi sâu vào tìm hiểu để tìm kiếm khả năng thâm nhập
vào thế giới bên trong rất đặc thù của trẻ, đồng thời tìm ra những hình thức
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thẩm mỹ, phát triển khả năng
tưởng tượng sáng tạo của trẻ. Theo nhiều tác giả, con đường thuận lợi nhất để
phát triển khả năng sáng tạo trong hoạt động tạo hình của trẻ là tổ chức môi
trường nghệ thuật và tổ chức cho trẻ học tập một cách có định hướng theo sự
hướng dẫn của người lớn nhằm tiếp thu kinh nghiệm của xã hội.
1.1.2. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu trong nước.
a. Những nghiên cứu về tính sáng tạo
Bên cạnh sự phát triển, nghiên cứu về vấn đề sáng tạo của các nước trên
thế giới thì ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động
sáng tạo và các tài năng sáng tạo. Nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi
dưỡng, khuyến khích những tài năng sáng tạo được tổ chức hàng năm: Hội thi
sáng chế kỹ thuật, tổ chức hỗ trợ sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam
thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Trung tâm sáng chế khoa học kỹ thuật

trưòng chơi có tác động rất nhiều tới quá trình và kết quả chơi. Việc tổ chức
môi trưòng chơi được các tác giả xem nó như là hình thức trong tổ chức hoạt
động chơi để phát triển một năng lực nào đó hay một số phẩm chất như: tính
tích cực, tính sáng tạo, tính tự lập… nhằm phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Một số công trình nghiên cứu về môi trường hoạt động như:
• Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Anh nghiên cứu “Biện pháp phát
triển tính tích cực sáng tạo của trẻ MG 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo
chủ đề”.
• Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu về “Phuơng
pháp hướng dẫn trẻ 2 – 3 tuổi chơi trò chơi phản ánh sinh hoạt”.
• Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hươngnghiên cứu về “Một số
biện pháp hình thành kỹ năng chơi đóng vai”, của Nguyễn Thị Vinh nghiên
cứu về “Tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ MG 5 –
6 tuổi ởtrường MN”.
• Báo cáo toàn văn đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Tp. HCM của
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Phượngvề “Xây dựng và tổ chức môi trường giáo
dục thúc đẩy trẻ 5 – 6 tuổi hoạt động tích cực trong môi trường MN”. Các bài
giảng của TS. Hoàng Thị Phương và TS. Nguyễn Thị Hồng Phượng với
chuyên đề cao học “Tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ MN”, của ThS.

8


Hoàng Thị Thu Hương với bài giảng “Tổ chức môi trường cho trẻ hoạt
động”–Vụ GDMN “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN chu kỳ II
(2004 – 2007)”, của CN. Trần Thị Hồng Sương với đề tài Khoa học Công
nghệ “Thực trạng trang bị, sắp xếp NVL hoạt động trong lớp của trẻ 3 – 4
tuổi”… Ngoài ra còn có các bài viết liên quan đến tổ chức môi trường cho trẻ
MN như: ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy với bài “Tổ chức môi trường thúc
đẩy học tập và khám phá thế giới xung quanh theo hướng đổi mới trong

ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm vĩ đại, mà ở khắp nơi nào
con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù
cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các thiên tài” [36,
Tr10]. Ông quan niệm rằng: “Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người
tạo ra được một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật của
thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống
và biểu lộ trong bản thân con người”. Như vậy, sáng tạo ở đây được hiểu là
hoạt động và hoạt động này tạo ra cái mới.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Trong từ
điển Tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên): “Sáng tạo là tạo ra cái mới, cách
giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có”.
Từ điển Tiếng Việt của tác giả Như Ý: “Sáng tạo là tìm thấy và làm nên
cái mới”. Khi đề cập đến quá trình sáng tạo, Nguyễn Đức Uy cho rằng “Đó là
sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự
độc đáo của một cá nhân một đằng và những tư liệu biến cố, nhân sự hay
những hoàn cảnh của đời người ấy, đằng khác” [30, Tr4].
PGS – TS Nguyễn Huy Tú định nghĩa:“Sáng tạo thể hiện khi con người
đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và
năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, và bằng tư
duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân
hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để
đưa ra những giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [25,
Tr5].
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau về
sáng tạo và các quan niệm này có đặc điểm chung là nhấn mạnh đến cái mới
và ý nghĩa xã hội của sáng tạo. Tuy nhiên mỗi tác giả lại nhìn nhận nó ở
những góc độ khác nhau. Có tác giả quan tâm tới cái mới của sản phẩm hoạt
động, có tác giả quan tâm đến cách thức, đến quá trình tạo ra cái mới đó.
Ngay cả cái mới cũng nhiều cấp độ, có cái mới đối với toàn xã hội, lại có cái


quyết sáng tạo đối với một vấn đề quan trọng thì nói chung phải tiêu tốn một
thời gian dài nung nấu với vấn đề đó, thu thập các tri thức có liên quan và
nghiền ngẫm nó.

11


- Giai đoạn ấp ủ (Incubation): Những cách giải quyết sáng tạo thường
nảy sinh sau một thời gian ấp ủ - đó là khoảng thời gian mà trong đó con
người ngừng suy nghĩ tích cực về vấn đề cần giải quyết và chuyển sang
những việc khác. Thời gian ấp ủ có thể làm cho con người có cơ hội để phục
hồi sau giai đoạn chuẩn bị căng thẳng, mệt nhọc. trong giai đoạn ấp ủ, hoạt
động bổ sung với vấn đề được quan tâm có thể diễn ra thậm chí trong trạng
thái vô thức, ví dụ trong giấc ngủ.
- Giai đoạn chiếu sáng (Illumination): sáng tạo thường xuất hiện trong
sự bừng sáng bất ngờ (Insight). Tại thời điểm đó, con người đột nhiên nhìn
thấy, dưới dạng chưa hoàn chỉnh, sự le lói ban đầu của giải pháp mà họ đang
phải tìm kiếm trong hàng tháng, thậm chí trong hàng năm trời.
- Giai đoạn xác minh (Verification): giai đoạn chiếu sáng chưa phải là
giai đoạn kết thúc quá trình sáng tạo, thường phải có sự sàng lọc cẩn thận tiếp
theo. Ý tưởng mới mẻ phải được tôi luyện, phải được chuyển sang dạng có
thể thử nghiệm được, rồi thử nghiệm thực sự. Chỉ khi nào các chứng cứ chỉ ra
rằng nó là đúng, thì giải pháp sáng tạo mới được khẳng định.
Mô hình 4 giai đoạn của Walles về quá trình sáng tạo cho chúng ta một
cái khung quan niệm (Conceptual framework) để phân tích sự sáng tạo một
cách có hiệu quả [24, Tr3].
Trong thực tế, quá trình sáng tạo diễn ra rất linh hoạt. Không phải giai
đoạn sau bao giờ cũng được bắt đầu sau khi hoàn thành giai đoạn trước. Tuy
rằng mỗi giai đoạn là một thành phần trọn vẹn và cần thiết của quá trình sáng
tạo nhưng chúng thường đan xen vào nhau, có khi ở giai đoạn kết thúc công

Như vậy có thể khẳng định, hoạt động sáng tạo của con người bao giờ
cũng mang bản chất xã hội. Sáng tạo xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của
xã hội và phục vụ cho chính nhu cầu của xã hội đó.
Thứ hai, bản chất của quá trình sáng tạo là do các yếu tố tâm lý tham gia.
Có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề bản chất của quá trình sáng
tạo là do các yếu tố tâm lý tham gia. Tuy nhiên, để xác định yếu tố tâm lý nào
là mắt xích trung tâm của quá trình sáng tạo thì còn nhiều ý kiến khác nhau.
Một là, các nhà nghiên cứu như B.M. Kedrow, M.A. Blok, K.
Chikomiop, V.N. Puskin, L.A. Aponomation … cho rằng chính cảm hứng,
linh cảm, vô cảm là những khả năng đã giúp con người giải quyết đúng đắn
trước một tình huống khó khăn hay nguy cấp mà có khi con người lại không
biết chính xác tại sao mình lại làm được như vậy. Thực tế có nhiều nhà văn,

13


nhà sáng tạo trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng đã tạo ra các tác phẩm mà
không cần đến sự nổ lực của lao động.
Trong lịch sử đã chứng kiến nhiều câu chuyện ly kỳ về những phát minh
của các nhà khoa học nổi tiếng mà trực giác đã đưa họ đến nhiều thành công
vang dội như Acsimet (Thế kỉ 13 trước Công nguyên) với câu chuyện
“Ơrêka” nổi tiếng. Hay A. Eintein nói rằng đã mơ thấy “Thuyết tương đối”…
đã chứng minh cho quan điểm này.
Thực tế, để có được những linh cảm, cảm hứng hay trực giác trong sáng
tạo đó chính là kết quả của sự lao động không mệt mỏi của bản thân mỗi con
người.
Sự bừng sáng của tư duy ấy là kết quả của sự tích lũy kiến thức, của sự
say mê, kiên trì suy nghĩ sáng tạo. Phát minh không nằm ngoài tầm hoạt động
kiên trì với định hướng khoa học nghiêm túc. Linh cảm, trực giác không đến
với người lười biếng, đó chỉ là yếu tố bổ sung tuyệt vời cho kinh nghiệm và

thực khách quan và mang bản chất xã hội. Sáng tạo là một hoạt động khó
khăn, vất vả của con người nhằm cải thiện cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát
triển. Nó là hoạt động có ý thức và có mục đích của con người chứ không
phải là một hoạt động mang tính chất huyền bí hay là sự may rủi nào đó.
1.2.4. Đặc điểm của sáng tạo.
Đặc điểm của tính sáng tạo được bộc lộ ở 3 thuộc tính cơ bản đó là: tính
mới mẻ, tính độc lập và tính hiện thực.
Thứ nhất, tính sáng tạo bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy
hay hành động, tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội.
Khi đề cập đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà
phát minh sáng chế, sáng tác… là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội.
Ở lứa tuổi học sinh, trong quá trình sáng tạo, cái mới được phát hiện
không nhất thiết phải có ý nghĩa toàn xã hội mà chỉ là đối với bản thân mình.
Tuy nhiên, bản thân quá trình sáng tạo đó có ý nghĩa cực kì quan trọng đối
với xã hội.
Tâm lý học đã xác định được tính tương tự giữa quá trình sáng tạo của
học sinh và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học, sáng chế sáng tác. Sự
khác nhau ở đây chỉ là vấn đề cần giải quyết ở trình độ tự lập trong diễn tiến
các giai đoạn của quá trình sáng tạo. Còn cơ chế dẫn đến cái mới về nguyên
tắc không có sự khác biệt nào giữa sáng tạo của học sinh và người lớn. Do đó
sự sáng tạo của học sinh thường không mang lại cái mới cho toàn xã hội,

15


nhưng hoạt động này thường có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ
được rèn luyện để trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội.
Thứ hai, tính sáng tạo thể hiện ở tính độc lập trong tư duy và hành động.
Tư duy độc lập làm tiền đề để nảy sinh những ý tưởng mới, giải pháp và
phương pháp mới.

nó có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nhân cách, đặc biệt là trong phát
triển trí tuệ. Nó là cái mới với chính người tạo ra nó. Đây là sản phẩm chủ yếu
do trẻ nhỏ tạo ra trong quá trình chơi và học tập. Chúng ta tập cho trẻ học
cách sáng tạo, được thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có ở trẻ, không bị phụ
thuộc vào một công thức, một giải pháp, một đường mòn có sẵn. Chúng ta
giúp cho trẻ trở thành người sáng tạo.
Lợi ích này chính bản thân của trẻ cũng chưa ý thức được, nhưng nó
mang một ý nghĩa xã hội to lớn.
Tóm lại, xét trên bình diện toàn xã hội thì hoạt động chơi và học tập là
hoạt động tái tạo, nhưng trên bình diện cá nhân thì hoạt động chơi và học tập
là hoạt động sáng tạo, sáng tạo cho bản thân mình. Vì vậy được gọi là sáng
tạo đặc biệt. Do đó, chúng ta phải động viên, chỉ dẫn và khuyến khích trẻ để
trẻ tiếp tục sáng tạo và đó là điều kiện rất tốt cho sự sáng tạo thực sự sau này
của trẻ.
1.2.5. Quá trình sáng tạo.
Sáng tạo là sản phẩm hoạt động của con người, là quá trinh tạo ra sản
phẩm mới về chất trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hóa văn nghệ và
hoạt động thực tiễn. Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu hoạt động sáng tạo
có nhiều quan điểm về “ mắt xích trung tâm” của sáng tạo. Nhiều nhà Tâm lý
học quan niệm rằng, sáng tạo là kết quả của cảm hứng, linh cảm hay trực giác.
Đại diện là B.M. Kedrop, V.N. Puskin, K. Chikhomirop, họ cho rằng linh
cảm, vô thức là khả năng con người có thể hành động một cách đúng đắn
trước một tình huống hoặc có thể tạo ra một tác phẩm trong khi không biết
chính xác tại sao mình hoạt động như vậy. Theo quan niệm này, thì linh cảm
(trực giác) có liên hệ với hoạt động vô thức của con người và nóp quyết định
hoạt động sáng tạo. Các nhà Tâm lý học khác cho rằng, tư duy, tưởng tượng
là nội dung cơ bản của hoạt động sáng tạo. Đại diện cho xu hướng là A.N.
Leonchiep, L.X.Vuwgotxki, X.L. Rubistein.
Theo quan điểm này, hoạt động có ý thức của con người có vai trò quyết
định trong hoạt động sáng tạo. Cả hai quan điểm trên đều đúng nhưng chưa

không chỉ đi vào lịch sử của cá nhân người sáng tạo mà còn đi vào lịch sử
Khoa học kỹ thuật, Nghệ thuật. Một số nhà Tâm lý học người Mỹ như Claus
Meier, Ripple, Taylor, Kogan quan niệm cấu trúc năng lực sáng tạo gồm các
yếu tố:
a. Tính linh hoạt: Là khả năng biến đổi những thông tin đã thu nhận
được, khả năng thay đổi dễ dàng và nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status