Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
****************
LƯƠNG THỊ CHÁNH
ĐỔI MỚI THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẼ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN TẠI TRƯỜNG MẦM NON XUÂN HÒA,
THỊ XÃ PHÚC YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Người hướng dẫn khoa học
VŨ LONG GIANG
Hà Nội - 2012
Lương Thị Chánh
1
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu ở trường Đại học. Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề
tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non qua các bài thơ viết cho thiếu nhi
của nữ sĩ Xuân Quỳnh”. không có sự trùng lặp của bất kì một đề tài nào
khác. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lương Thị Chánh
Lương Thị Chánh
3
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
MN: Mầm non
SL: số lượng
1.3.1 Đặc điểm phát triểm tâm – sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn…………....7
1.3.2 Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn nói chung…………..11
1.3.3 Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn qua từng nội dung….13
1.4. Vai trò của hoạt động vẽ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ…14
1.4.1 Hoạt động vẽ đối với sự phát triển nhận thức, trí tuệ………….….14
1.4.2 Hoạt động vẽ đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, kĩ năng giao
tiếp xã hội…………………………………………………………………..15
1.4.3 Hoạt động vẽ đối với sự phát triển thẩm mĩ……………….………16
4.4 Hoạt động vẽ đối với sự phát triển thể chất………………………….16
4.5 Hoạt động vẽ đối với việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông….17
1.5. Hình thức tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mầm non………………....18
1.5.1 Hình thức tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mầm non………………...18
Lương Thị Chánh
5
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
1.5.2 Tổ chức hoạt động vẽ trên tiết học………………………………..20
1.5.3 Tổ chức hoạt động vẽ ngoài tiết học………………………....……21
1.5.4 Tổ chức hoạt động vẽ trong lớp học…………………………........22
1.5.5 Tổ chức hoạt động vẽ ngoài lớp học…………………….….……..25
1.5.6 Các hình thức tổ chức hoạt động vẽ theo từng nội dung….………26
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoạt động vẽ là một trong những nội dung giáo dục toàn diện cho trẻ
mầm non. Thông qua đó phát triển cảm xúc, tri giác, phát triển khả năng
cảm thụ và khả năng sáng tạo của trẻ. Đồng thời, vẽ còn là sự biểu hiện thái
độ, tình cảm của trẻ đối với môi trường xung quanh. Đối với trẻ, thế giới
xung quanh thật mới mẻ và lý thú, trẻ luôn muốn thông qua mọi phương tiện
để biểu đạt những cảm xúc của mình. Trong điều kiện khả năng ngôn ngữ
phát triển chưa hoàn thiện thì hội họa là phương tiện để biểu đạt hiệu quả
nhất, lý thú nhất. Hơn thế nữa, tranh vẽ cũng là một phương pháp truyền đạt
thông tin khá hiệu quả của trẻ. Vẽ là hoạt động tạo hình phổ biến ở các
trường mầm non, hoạt động này được trẻ rất yêu thích và làm quen ngay từ
lứa tuổi nhà trẻ. Trong hoạt động vẽ, trẻ có cơ hội được trải nghiệm những
cảm xúc đa dạng, được thể hiện các hình ảnh - hình tượng theo cảm xúc và ý
tưởng riêng của mình một cách linh hoạt, với sự thay đổi của sắc thái màu
sắc hay chỉ là những nét vẽ rất đơn giản.
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, đây là lứa tuổi gần đến trường phổ thông.
Khi các đặc điểm tâm sinh lí của trẻ đã phát triển hoàn thiện. Lúc này, trẻ có
nhiều ham muốn học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Đặc biệt, trẻ rất thích thú với
hoạt động tạo hình, trong đó hoạt động vẽ là hoạt động mà trẻ được tham gia
ngay từ lứa tuổi nhỏ nên các đặc điểm vẽ của trẻ có những nét đặc trưng
riêng.
Tuy vậy, trong thực tế, hầu hết các trường mầm non chưa thực sự giúp
trẻ khám phá các phương tiện truyền cảm của hoạt động vẽ. Trong quá trình
tổ chức hoạt động, giáo viên thường cho trẻ vẽ một vật cụ thể, hướng trẻ
quan tâm nhiều đến hình ảnh mô tả, đến cách tạo ra hình mà ít chú ý đến các
vào việc trả lời cho câu hỏi “ Trẻ em vẽ gì?”.
Tác giả Nguyễn Quốc Toản [77, 94]: Chương 5, Các hình thức tổ
chức hoạt động vẽ cho trẻ mầm non.
Tác giả Ngô Bá Công: Tu duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo qua tranh
vẽ.
Tuy nhiên, đề tài “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mẫu giáo
lớn tại trường mầm non Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên ” thì chưa được tìm
hiểu, nghiên cứu và thực hiện.
Lương Thị Chánh
8
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài đổi mới hình thức tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mẫu
giáo lớn nhằm tìm ra các hình thức tổ chức hoạt động vẽ mới để nâng cao
chất lượng giáo dục trẻ trong hoạt động vẽ.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận:
Phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng:
Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động vẽ đặc biệt là các hình thức tổ
- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành dạy thực nghiệm trên 20 trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm
non Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
- Phương pháp phân tích sản phẩm
Thu thập các sản phẩm vẽ của trẻ sau đó tiến hành phân tích và đánh
giá sự ảnh hưởng của việc sử dụng các hình thức tổ chức hoạt động vẽ.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm ra được các hình thức đổi mới để tổ chức hoạt động vẽ của trẻ
thì sẽ phát triển được kĩ năng vẽ cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tư
duy, sự ham thích sáng tạo, học tốt hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn tại
trường mầm non Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên nói riêng và môn tạo hình nói
chung ở trường phổ thông sau này.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị thì nội dung chính của khóa
luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mẫu
giáo lớn tại trường mầm non Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên.
Chương 3: Đề xuất một số hình thức tổ chức hoạt động vẽ cho trẻ mẫu
giáo lớn tại trường mầm non Xuân Hòa.
Lương Thị Chánh
10
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
to lớn nhất của quá trình hoạt động chính là sự biến đổi, phát triển của chính
bản thân chủ thể hoạt động (trẻ em).
- Một đặc điểm rất rõ nét trong hoạt của tạo hình của trẻ em đó là tính
duy kỷ. Xem tranh vẽ của trẻ nhỏ ta thấy cái mà trẻ quan tâm hơn cả trong
quá trình vẽ đó là việc “vẽ cái gì?” chứ không phải “vẽ như thế nào”. Tính
duy kỷ làm cho trẻ nhỏ đến với hoạt động vẽ một cách dễ dàng: trẻ sẵn sàng
vẽ bất cứ cái gì, không biết sợ, không biết tới khó khăn trong miêu tả. Càng
nhỏ tuổi, trẻ càng dễ lựa chọn đối tượng miêu tả bởi lẽ đối tượng, đó thường
là cái nó thích, nó muốn chứ không phải là cái dễ vẽ.
Mối quan tâm chính trong hoạt động tạo hình của trẻ tập trung vào sự
thể hiện, biểu cảm chứ chưa phải là “hình thức nghệ thuật” thực sự của tác
phẩm. Trẻ càng nhỏ càng ít quan tâm tới sự đánh giá thẩm mĩ của người xem
mà chỉ cố gắng truyền đạt, giúp người xem hiểu được những suy nghĩ,
những thái độ, tình cảm của mình qua những gì được miêu tả. Bởi vậy, sự
hạn chế của khả năng tạo hình thường được trẻ bù đắp rất tích cực bằng âm
thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ,… Sự chú tâm vào ý tưởng của tranh vẽ
thường làm cho trẻ (đặc biệt ở các lứa tuổi mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ) hài
lòng với các hình vẽ sơ đồ đơn giản.
- Cùng với tính duy kỷ, tính không chủ định cũng là một đặc điểm tâm
lý rất đặc trưng tạo cho sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ vẻ hấp dẫn
riêng. Do tính không chủ định mà trong quá trình tạo hình, trẻ mẫu giáo
chưa có khả năng độc lập suy tính công việc sắp tới một cách chi tiết, các ý
định miêu tả của trẻ thường nảy sinh một cách tình cờ. Để thực hiện ý định
mà người ta đã tận dụng để đi sâu tìm hiểu đặc điểm tâm lí của trẻ. Tuy
nhiên, cứ để lặp lại hiện tượng này thì có thể là một nhược điểm gây khó
khăn cho sự phát triển hoạt động tạo hình nói chung của trẻ, hạn chế sự phát
triển của hình tượng nghệ thuật. Để khắc phục nhược điểm này, cần giúp trẻ
bổ sung cho nội dung tranh vẽ của mình bằng những kinh nghiệm thu từ quá
trình quan sát, từ các sự vật, hiện tượng có trong hiện thực, những hình
tượng có trong tác phẩm nghệ thuật.
1.3. Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn
1.3.1 Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn.
1.3.1.1 Đặc điểm sinh lý
Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hớn so với giai đoạn
trước. Về số lượng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 – 6cm, đạt từ 105,5 –
Lương Thị Chánh
13
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
125,2cm. Về cân nặng tăng khoảng 1 – 2,5kg, đạt khoảng 25,7kg. Có sự
thay đổi rõ rệt về chất lượng.
Về hệ thần kinh, ở trẻ mẫu giáo lớn, cường độ và tính linh hoạt của
các quá trình thần kinh tăng lên rõ rệt. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối
tượng nhất định trong thời gian 15 – 20 phút. Đồng thời, lứa tuổi này, vai trò
của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng. Tư duy bằng từ đã tăng lên, ngôn ngữ
bên trong xuất hiện. Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt
biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến. Ngược lại, khi giận giữ, trẻ lại dung
ngữ điệu thô và mạnh.
Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp. Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích
lũy được khá phong phú, không chỉ về danh từ mà cả về động từ, tính từ,
liên từ,… không chỉ hiểu được từ ngữ mà trẻ còn nắm vững ngữ pháp một
cách vững vàng đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày.
Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng
nắm được ý nghĩa của các từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của
người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là
nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những qui luật ngôn ngữ tinh
vi nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc,
thoải mái.
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý.
Tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có biểu hiện ý chí tương đối lâu. Trong sự phát triển
các hành động ý chí của trẻ có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: Thứ
nhất là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan
hệ giữa mục đích của hành động với động cơ, thứ ba là tăng vai trò điều
chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động.
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – Tư duy trực quan
sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic. Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng
hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng
có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật. Trong thời gian này, trẻ bắt
đầu hiểu rằng, có thể biểu thị một sự vật hay một hình tượng nào đó bằng từ
ngữ hay các kí hiệu khác nhau khi phải giải những bài toán tư duy độc lập.
Cả tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng đều
liên hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp
Lương Thị Chánh
Đứa trẻ bước vào trường học cần phải có một tri thức nhất định về thế
giới xung quanh, về giới hữu sinh, về con người và lao động của họ về nhiều
mặt của đời sống xã hội, về các chuẩn mực đạo đức hành vi. Đặc biệt là khơi
dậy ở trẻ lòng ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới
tự nhiên và cuộc sống xã hội.
Lương Thị Chánh
16
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Trình độ phát triển ngôn ngữ được coi là một điều kiện hết sức quan
trọng trong việc lĩnh hội các tri thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa
học xã hội. Bởi vậy, lứa tuổi mẫu giáo lớn, việc trẻ em sử dụng thông thạo
tiếng mẹ đẻ được coi là yêu cầu nghiêm túc. Trước khi đến trường, trẻ phải
biết nói năng mạch lạc khi giao tiếp với người xung quanh, biết sử dụng
ngôn ngữ như một phương tiện để tư duy, để giao tiếp.
Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập
ở trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh
chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có
ý thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung. Đó là những động cơ
xã hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập
và duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi.
1.3.2 Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo lớn nói chung
- Ở độ tuổi này, trẻ đã biết cầm bút, sáp, màu một cách gọn, nhẹ
nhàng, thoái mái hơn. Điều khiển các khớp ngón tay, cổ tay linh hoạt, do đó
khi vẽ sẽ dễ dàng hơn.
- Về vẽ nét, vẽ hình:
+ Trẻ em 5 – 6 tuổi vẽ nét theo ý muốn, định hướng được dài - ngắn,
cao - thấp - vừa với bố cục ở phần giấy cho phép, không vượt qua ranh giới
chung.
+ Nét vẽ tự nhiên, không bị gò bó về kĩ thuật mà đưa nét theo sự thích
thú. Vì thế nét vẽ đã hạn chế được đậm nhạt, đều đều, khô cứng đã có chỗ
đậm nhạt, chỗ lửng (ngắt quãng), biểu cảm hơn.
+ Hình vẽ rõ đặc điểm đối tượng, những hình ảnh phụ phục vụ cho nội
dung xuất hiện ngày càng nhiều tạo cho bài vẽ rõ đề tài, phong phú và vui
mắt
+ Tuy nhiên, hình vẽ, bài vẽ của một số trẻ ở lứa tuổi này còn những
điểm cần chú ý:
Vẽ hình nhỏ và đều làm cho bài vẽ vụn.
Vẽ hình nhiều, bài vẽ trở nên rối.
Sắp xếp hình vẽ như kể, liệt kê, ít che khuất, thường là dân theo hàng
ngang, không có trên - dưới.
- Về vẽ màu:
+ Vẽ màu tươi sáng, đã chú ý đến độ đậm nhạt của của màu và vẽ
màu gọn trong hình.
Lương Thị Chánh
18
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thị Chánh
19
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Trẻ mẫu giáo lớn làm bài tập theo ý mình, có thể không giống mẫu và
hình hướng dẫn mà giáo viên đã giới thiệu, khác với hoạt động vẽ theo mẫu,
hoạt động vẽ trang trí phát triển ở trẻ khả năng suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo, tạo
ra các bài vẽ theo cảm nhận riêng, không giống mẫu, không giống bài của
các bạn về bố cục, về hoạt tiết và về màu sắc.
Ví dụ: Vẽ trang trí đường diềm, trang trí hình tròn, hình vuông.
Yêu cầu đối với trẻ khi tham gia vào hoạt động vẽ trang trí như sau:
- Trẻ biết được cách sắp xếp họa tiết trong các hình thể trang trí:
đường diềm, hình vuông,… và một số đồ vật quen thuộc.
- Nhận ra các cách sắp xếp họa tiết: nhắc lại, xen kẽ, đối xứng.
- Vẽ được họa tiết theo mẫu hoặc tự vẽ vào các hình trang trí theo các
cách khác nhau.
- Vẽ màu vào họa tiết và nền, có đậm, có nhạt, màu ít ra ngoài hình.
1.3.2.3. Hoạt động vẽ tranh
Trẻ tập vẽ các thể loại đơn giản như: tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh,
tranh chân dung, tranh đề tài sinh hoạt và tranh các con vật quen thuộc.
Ở độ tuổi này, trẻ quan sát, nhận biết và cảm thụ vẻ đẹp ở các hình ảnh trong
tranh, ảnh và tự mình vẽ tranh theo khả năng và cảm nhận của mình.
Khi vẽ tranh theo đề tài cho trước (cả lớp cùng vẽ một đề tài) nhưng
tượng…
- Hoạt động vẽ còn giúp trẻ tiếp thu, mở rộng và hệ thống hóa các
chuẩn mực cảm giác về hình, màu sắc, tỉ lệ, kích thước,… Thông qua quá
trình quan sát đối tượng miêu tả mà trẻ tích lũy được một số lượng lớn các
thông tin hình ảnh cùng những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng trong cuộc
sống xung quanh, từ đó trẻ nắm được mối quan hệ có tính chất qui luật của
mọi vật trong thế giới xung quanh.
- Qúa trình vẽ đòi hỏi trẻ phải luôn tìm hiểu khám phá, phát hiện ra
tính chất của các sự vật hiện tượng. Trong quá trình này trẻ lĩnh hội được
các kĩ năng sử dụng các loại dụng cụ như bút, sáp, màu… Đây chính là điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của trí tuệ và nhân cách.
- Tham gia quan sát, phân tích và thể hiện trong bài vẽ trẻ sẽ dần dần
học hỏi, nắm bắt được các kinh nghiệm hoạt động nhận thức, sẽ được rèn
luyện khả năng độc lập tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình nhận thức
của mình.
Lương Thị Chánh
21
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
1.4.2 Hoạt động vẽ đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, kĩ năng giao
tiếp xã hội.
- Hoạt động vẽ có một vai trò rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
- Các đặc điểm thẩm mĩ phong phú và đa dạng của đối tượng miêu tả
là những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, những xúc
cảm thẩm mĩ (cảm xúc về vẻ đẹp của hình, màu, nhịp điệu,…). Từ các xúc
cảm thẩm mĩ hình thành nên những tình cảm thẩm mĩ, thái độ thẩm mĩ, giúp
trẻ biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên và từ các tác phẩm nghệ thuật.
- Qúa trình thể hiện các sản phẩm vẽ là điều kiện thuận lợi cho trẻ
tích cực vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy để phối
hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm vẽ của trẻ ngày càng
trở nên sinh động, đầy sức hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật.
- Khác với mọi hoạt động khác trong trường mầm non, tham gia hoạt
động vẽ trẻ không chỉ được làm quen với cái đẹp trong đời sống mà cả trong
nghệ thuật (qua tranh ảnh, các sản phẩm vẽ,…). Các sản phẩm vẽ phù hợp
với lứa tuổi sẽ mở ra trước mắt trẻ sự phong phú sống động, vẻ rực rỡ của
các màu sắc, hình dạng,…
- Sự phản ánh hiện thực và biểu lộ tình cảm qua các phương tiện
truyền cảm đặc trưng cho loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, hình
dạng, bố cục, màu sắc,… chính là con đường lĩnh hội các kinh nghiệm văn
hóa thẩm mĩ rất phù hợp với lứa tuổi của trẻ em, trên cơ sở đó mà hình thành
thị hiếu thẩm mĩ sau này.
1.4.4 Hoạt động vẽ đối với sự phát triển thể chất
Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng, có ảnh
hưởng to lớn đến sức khỏe tinh thần và phát triển về thể chất cho trẻ nhỏ.
- Những phút hoạt động tự do trong môi trường thẩm mĩ, trong bầu
không khí thoải mái sinh động sẽ tạo cho trẻ niềm vui sướng, phấn khởi.
Chính sự phấn khởi này đã tác động không ít đến hệ tim mạch, điều hòa hoạt
- Việc rèn luyện các kĩ năng đồ họa trong các giờ vẽ sẽ giúp phát
triển ở trẻ khả năng phối hợp, điều chỉnh hoạt động ở mắt và tay, rèn luyện
sự khéo léo linh hoạt trong vận động của tay, từ đó giúp cho việc học viết ở
trường phổ thông sẽ tốt hơn.
- Hoạt động vẽ góp phần vào việc chuẩn bị tâm lí cho trẻ bước vào
học tập ở trường phổ thông: hoạt động này giáo dục trẻ lòng ham muốn nhận
thức, ham muốn tiếp thu những điều mới lạ, những phương thức hoạt động
mới, giúp trẻ hình thành thói quen học tập một cách có mục đích, có tổ chức,
biết lắng nghe và thực hiện lời chỉ bảo của thầy cô.
1.5. Hình thức tổ chức hoạt động vẽ của trẻ mầm non
Lương Thị Chánh
24
Khoa Giáo dục Tiểu học
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
1.5.1 Hình thức tổ chức hoạt động vẽ.
Sự phát triển của trẻ diễn ra trong đời sống hàng ngày của chúng,
trong quá trình giao tiếp với người lớn, chơi với các bạn cùng tuổi, trong lao
động, trong các buổi đi dạo, cũng như trong quá trình dạy học có hệ thống ở
trường mầm non. Do hình thức hoạt động của trẻ ở trường phổ thông là học
tập, còn ở trẻ mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ yếu nên nội dung và cách
thức tổ chức các hoạt động ở trường mầm non có nhiệm vụ cung cấp cho trẻ
những tri thức xác thực về khoa học, nhưng rất sơ đẳng về các sự vật, hiện
tượng xung quanh. Đó là những tri thức văn hóa chung nhất biểu hiện dưới