Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại
học Quảng Bình.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học
Quảng Bình đặc biệt là những thầy cô khoa sư phạm Tiểu học- Mầm
non và những thầy cô đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời
gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đên ThS. Nguyễn Chiêu Sinh, người
thầy kính mến đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn
nghiên cứu tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên trường
Mầm non Đồng Phú đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát để hoàn thành
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, 5/2016
Tác giả: Lương Thị Hồng Thúy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng
dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Chiêu Sinh. Các số liệu, kết quả trong khóa luận là
trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây.
Ngoài ra trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu
của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội
dung khóa luận của mình.
Đồng Hới, 5/2016
Tác giả: Lương Thị Hồng Thúy
Hoạt động tạo hình ra đời từ rất sớm. Từ xa xưa con người đã biết mô tả cuộc
sống của mình qua những bức tranh, những hình vẽ trên các vách đá với rất nhiều hình
ảnh sống động như săn bắn, cảnh trồng trọt hay nhảy múa, những đàn súc vật muông
thú cỏ cây… các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những tượng đá, tượng đồng những đền
đá có hình chạm trổ nằm trong lòng đất đó là kết quả tạo hình của loài người từ hàng
nghìn năm về trước. Nó gắn liền với nền văn minh, văn hóa, tồn tại và phát triển cùng
với xã hội loài người. Trong đời sống con người hoạt động tạo hình là một hoạt động
nghệ thuật góp phần đem đến cái đẹp làm phong phú cho đời sống con người. Hoạt
động tạo hình còn là phương tiện quan trọng giáo dục trẻ. Nó có tác động to lớn trong
việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ Mầm non. Tác động tích cực
đến 5 mặt giáo dục: đức, trí, thể, mỹ, lao động của trẻ ở tuổi mầm non. Một nhà giáo
dục xô viết đã nói: “ Phải giáo dục cho trẻ biết yêu cái đẹp từ tuổi bé nhất vì đó là cơ
sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người”
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn tạo hình nói chung và
hoạt động vẽ theo ý thích nói riêng đối với sự phát triển của trẻ nên tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “ Một số hình thức tổ chức thực hiện hoạt động vẽ theo ý thích
cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường Mầm non ”
Do điều kiện và thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy
kính mong được sự góp ý chân thành của Ban giám hiệu nhà trường, các cán bộ
chuyên môn để đề tài của tôi được hoàn chỉnh và mang lại hiệu quả cao.
1. Lý do chọn đề tài
Tạo hình là một loại hình nghệ thuật xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển của
xã hội loài người. Nó trở nên gần gũi, cần thiết và quan trọng đối với cuộc sống. Nó có
sức hấp dẫn thu hút hầu hết các lứa tuổi, nhất là lứa tuổi mầm non.
Hoạt động tạo hình trong chương trình mẫu giáo nhằm cho trẻ tiếp xúc, làm quen
với nghệ thuật tạo hình ở mức độ sơ đẳng đơn giản gần gũi quen thuộc với cuộc sống
hàng ngày mà trẻ được tiếp xúc. Từ đó trẻ thấy được vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh,
có thái độ tích cực đối với những đối tượng xung quanh.
Chức năng cơ bản của hoạt động tạo hình là phản ánh hiện thực bằng hình tượng,
nhằm phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ và cảm xúc thẩm mỹ, hình thành tình yêu cái
Khi trẻ được vẽ sẽ góp phần hình thành cảm xúc thẩm mỹ ở trẻ đó là sự rung cảm
trước cái đẹp của nghệ thuật, của sáng tạo, là sự thỏa mãn, thích thú khi làm nên một
cái gì đó bởi đôi tay nhỏ bé của chính mình. Thông qua hoạt động vẽ bước đầu giúp trẻ
làm quen với các phương tiện và ngôn ngữ tạo hình: Giấy vẽ, sáp màu, đường nét,
hình dáng, màu sắc, bố cục… Từ đó phát triển khả năng quan sát, phát triển trí nhớ, trí
tưởng tượng, sự sáng tạo ở trẻ. Trẻ còn học được cách lập kế hoạch hoạt động như : Sẽ
vẽ gì? Dùng màu gì? Vẽ trong thời gian bao lâu? Nó góp phần đem lại hiệu quả công
việc cao hơn.
Ngoài ra khi hoạt động tập thể trẻ còn biết đánh giá sản phẩm tạo hình của bạn và
của mình. Được các bạn góp ý sẽ quen dần với việc khen chê của người người khác,
đồng thời kỹ năng xã hội được hình thành như: Chờ đến lượt, Chia nhau đồ dùng,
Cùng nhau bàn bạc… Cùng nhau tham gia tích cực hoạt động tạo hình bao nhiêu thì
trẻ càng tự tin trong việc sử dụng bút, giá vẽ, màu sắc và rất có lợi cho việc học tập.
2
Tất nhiên dạy vẽ ở bậc học mầm non không nhằm đào tạo cho trẻ thành các họa
sỹ mà chủ yếu thông qua đó nhằm khơi dậy và phát triển năng khiếu thẩm mỹ vốn có ở
trẻ, tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ cho trẻ, đồng thời góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện.
Là một giáo viên mầm non dạy trẻ lớp mẫu giáo lớn (5- 6) tuổi, tôi nhận thấy trẻ
rất thích học tạo hình đặc biệt trẻ rất thích thể hiện những tưởng tượng của mình về thế
giới xung quanh qua những bức tranh mà chính mình vẽ nên.
Chính sự say mê đó đã thôi thúc tôi tìm tới những biện pháp dạy sao cho phù hợp
và đạt hiệu quả cao. Đó cũng là lí do thúc đẩy tôi thực hiện đề tài: “ Một số hình thức
tổ chức hoạt động vẽ theo ý thích cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Đồng
Phú” với mong muốn giúp trẻ hứng thú hơn trong hoạt động vẽ theo ý thích nhằm góp
phần nâng cao chất lượng dạy- học ở trường mầm non.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý thuyết: Một số hình thức tổ chức họat động vẽ theo ý thích cho trẻ mẫu
giáo lớn tại trường Mầm non. Tìm hiểu khả năng vẽ theo ý thích của trẻ đối với hoạt
động tạo hình.
- Nghiên cứu thực trạng của đề tài, tìm hiểu thực trạng trong việc tổ chức HĐTH
của trẻ ở trường Mầm non.
7. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình tạo hứng thú cho trẻ mẫu giáo lớn tích cực tham gia hoạt động vẽ
theo ý thích ở trường Mầm non giáo viên cần có các hình thức nhằm kích thích trí
tưởng tượng sáng tạo của trẻ. Nên áp dụng một số biện pháp tác động như: Tổ chức
cho trẻ các bài tập, trò chơi “tưởng tượng có định hướng” nhằm giúp trẻ hình thành
thói quen độc lập trong việc tìm kiếm ý tưởng, tạo ra những biểu tượng, những cách
biểu đạt linh hoạt, độc đáo. Tổ chức quá trình tri giác với dụng cụ trực quan đa dạng
về chủng loại và hình thức. Tạo hứng thú, phát triển ở trẻ những xúc cảm, tình cảm
thẩm mỹ có thể nâng cao mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ để hoạt động vẽ theo ý
thích đạt hiệu quả cao hơn.
8. Các phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Phân tích, tổng hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
8.2. Quan sát tự nhiên
Quan sát HĐTH của cô và trẻ từ đó nhận xét, phân tích thực trạng của nghiên
cứu. Quan sát trẻ về tốc độ vẽ, độ tập trung, sự bình luận, sự biểu hiện cảm xúc trong
quá trình vẽ.
8.3. Phương pháp điều tra
- Điều tra gián tiếp: Điều tra bằng phiếu câu hỏi, đưa ra hệ thống câu hỏi xoay
quanh HĐTH và cách tổ chức tiết HĐTH ra sao tại trường Mầm non đối tượng MGL.
Hệ thống câu hỏi đưa ra cho giáo viên đánh dấu vào những phần mình đã thực hiện
được và ý kiến đề xuất các hình thức biện pháp nhằm nâng cao HĐTH.
- Điều tra trực tiếp: gặp gỡ trực tiếp các cô giáo, trò chuyện tìm hiểu về những
đối với trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non.
Phần cuối khóa luận có một danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ HOẠT
ĐỘNG VẼ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON
1. Cơ sở lý luận
Hoạt động tạo hình đóng một vai trò quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ ở
trường Mầm non. Với mục đích chung của giáo dục Mầm non thì hoạt động tạo hình là
một bộ phận của văn hóa tinh thần, nó gắn liền với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và thể
hiện nghệ thuật. Thông qua hoạt động tạo hình đem đến cho trẻ ấn tượng về cái đẹp và
những cảm xúc chân thật, những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách con người. Nó là
một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với trẻ MG, tạo hình giúp trẻ tìm hiểu,
khám phá và tái hiện lại một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế giới
xung quanh, những gì làm trẻ rung động mạnh mẽ và gây cho chúng xúc cảm, tình
cảm tích cực. HĐTH là một hoạt động có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự tác động
toàn bộ lên mọi mặt phát triển của trẻ em về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và hình
thành các kỹ năng ban đầu của con người như một thành viên trong xã hội biết tích
cực, sáng tạo. HĐTH phát triển ở trẻ kỹ năng quan sát, trí tưởng tượng, sáng tạo, khả
năng phối hợp giữa mắt và tay, hoàn thiện một số kỹ năng cơ bản (vẽ, nặn, xé, cắt
dán).
Chính vì thế là một GVMN tương lai tôi luôn mong muốn được mở rộng kiến
thức của bản thân, đồng thời góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục trẻ. Hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ những chức năng tâm lý, cơ sở
ban đầu của nhân cách, năng lực làm người và một số kỹ năng cơ bản để trẻ chuẩn bị
bước vào trường phổ thông.
GVMN ngày càng đòi hỏi chất lượng dạy và học nhằm đáp ứng kịp thời sự thay
mê hứng thú khám phá, quan sát tìm tòi sáng tạo sau đó tự mình muốn thể hiện được
sản phẩm. Trước hết giáo viên phải xây dựng một môi trường phong phú, hấp dẫn để
kích thích hứng thú trẻ lần sau đến lớp những hình ảnh chủ đích đập vào mắt trẻ để trẻ
muốn lên quan sát, sờ lên bức tranh, tự trò chuyện về cảnh vật trong tranh qua đó phát
huy được tính sáng tạo cũng như ngôn ngữ đồng thời giáo dục được tính thẩm mỹ cho
trẻ.
3. Đặc điểm tâm sinh lý
3.1. Hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn học tập vẫn là “học mà chơi, chơi mà học”. Học theo nghĩa là
chơi nhưng vẫn theo một trình tự hành động gần giống như học. Nội dung học vừa nhẹ
nhàng, vừa hấp dẫn trẻ tạo cho trẻ một tâm lý thoải mái, không bị gò bó, khó chịu. Các
trình tự học tập diễn ra giống với tiết học nhưng không nghiêm ngặt, căng thẳng như
tiết học. Nhưng tiết học vẫn đủ các bước lên lớp như: tổ chức lớp, tiến hành tiết dạy
(vào bài, nêu câu hỏi đặt vấn đề, giảng giải khái niệm), kết thúc tiết dạy bằng cách cho
trẻ nhắc lại những khái niệm đã được học.
Những chức năng tâm lý trong tiết học giống như tiết học ở lớp một, học sinh
phải chú ý nghe giáo viên hướng dẫn bài, nghe giáo viên giảng giải, phải sử dụng các
hình thức nhớ, các thao tác tư duy diễn ra theo yêu cầu của tiết học.
Quan hệ bạn bè trong khi “học mà chơi” cũng được thiết lập gần như quan hệ bạn
bè ở lớp một, quan hệ giữa giáo viên và trẻ cũng tương tự như giáo viên và học sinh ở
lớp một giáo viên có thể đứng giảng bài nhưng cũng có thể ngồi cùng trẻ để giải thích,
phân tích cho trẻ hiểu.
7
Trẻ tập làm quen với các tiết học để lĩnh hội những tri thức đơn giản, gần gũi đối
với trẻ, nhưng là tiền đề để trẻ vào lớp 1. Trẻ dần dần nhận thức được nhiệm vụ học
tập, bổn phận, trách nhiệm của học sinh phải làm gì cho giáo viên vui lòng, bạn bè yêu
mến.
mức độ phong phú của từ, về cách diễn đạt mạch lạc, nói đúng ngữ pháp và thể hiện
lời nói đúng với hoàn cảnh giao tiếp, vì vậy giáo viên cần cung cấp vốn từ và tích cực
hóa vốn từ cho trẻ.
8
3.4. Sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Tất cả các kỹ năng xã hội đều là những hành vi được học. Trẻ mẫu giáo sẽ học
các kỹ năng xã hội thông qua quan sát cha mẹ và những người xung quanh giao tiếp.
Trẻ ở độ tuổi này có vốn từ vựng tăng lên mỗi ngày, vì vậy việc nói chuyện với cha
mẹ và bạn bè là rất quan trọng. Trẻ trong độ tuổi này thường có những phát triển vượt
bậc về mọi mặt, những kỹ năng trẻ học được trong thời điểm này sẽ đi theo trẻ suốt
đời.
Phát triển các kiến thức và kỹ năng cơ bản liên quan đến thế giới xung quanh để
giúp trẻ hòa nhập và từng bước có những hoạt động độc lập trong môi trường gần gũi.
Ví dụ như phát triển các kiến thức và kỹ năng cơ bản về tự nhiên ( nước, động thực
vật…), phát triển các kiến thức và kỹ năng cơ bản về xã hội (mối quan hệ của trẻ với
những người gần gũi, phương tiện giao thông, các nghề cơ bản…), phát triển các kiến
thức và kỹ năng cơ bản về thẩm mỹ (âm nhạc, tạo hình). Người lớn cần hiểu được
vùng phát triển gần nhất của trẻ mẫu giáo lớn là gì, đặc biệt là trong lĩnh vực nhận
thức, để có thể đưa ra các biện pháp giáo dục có hiệu quả, chuẩn bị tốt cho trẻ bước
vào lớp 1.
3.5. Sự phát triển hoạt động cảm nhận của trẻ mẫu giáo lớn
Tri giác của trẻ bắt đầu chuyển từ ngoài vào trong, khi tiếp xúc với sự vật hiện
tượng mới nhưng đã biết kiềm chế lại sự tò mò của mình.
Ví dụ như khi nhìn thấy ổ điện thì không thò tay vào vì biết rất nguy hiểm, sau đó
biết khảo sát, mô tả chi tiết đối tượng. Khi tiếp xúc với đồ vật, trẻ cầm lên tay, nhìn
ngắm, sờ mó và chú ý đến đặc điểm nổi bật của đồ vật đó.
Trẻ đã biết tri giác không gian rõ ràng, nhận ra các hướng phức tạp như góc bên
phải, góc dưới bên trái, biết định hướng không gian mà không cần dựa vào vị trí của
Dễ dao động, dễ thay đổi, dễ khóc, dễ cười.
Xúc cảm chi phối mạnh vào các hoạt động tâm lý, vì vậy hiện thực đối với trẻ
bao giờ cũng mang màu sắc cảm xúc mạnh mẽ, thích cái gì thì đòi bằng được cái đó,
không thích thì vứt đi…
Ý chí:
Tính mục đích phát triển từ tuổi lên hai khi trẻ đã làm chủ được một số hành vi
của mình. Từng bước một, trẻ 6 tuổi có thể điều khiển được quá trình ghi nhớ và nhớ
lại một tài liệu nào đó do người lớn giao cho, ghi nhớ một bài thơ ngắn trẻ thích.
Do hiểu được nhiều hành vi ngôn ngữ và biết sử dụng những hành vi ngôn ngữ,
trẻ có thể bước đầu vận dụng để lập kế hoạch hành động và chỉ đạo hành động, trẻ
thường nói to khi hành động.
Việc phát triển, bộc lộ ý chí của trẻ mẫu giáo lớn phụ thuộc vào các nhiệm vụ mà
người lớn giao cho trẻ (nhiệm vụ phải vừa sức với trẻ).
Để giáo dục ý chí cho trẻ cần phải giáo dục động cơ cho trẻ. Thường ở lứa tuổi
này mục đích và động cơ trùng nhau chưa tách ra được.
4. Hoạt động vẽ theo ý thích
4.1. Khái niệm hoạt động vẽ theo ý thích
Vẽ theo ý thích là vẽ những gì mà trẻ thích, không theo một đề tài cho trước. Trẻ
được quyền lựa chọn nội dung đề tài mà mình thích. Vẽ theo ý thích nhằm rèn luyện
trí nhớ, trí tưởng tượng sáng tạo.
Vẽ theo ý thích một hoạt động tạo hình được nhiều trẻ yêu thích, trẻ có điều kiện
thể hiện những ấn tượng của mình về thế giới xung quanh ở mọi lúc, mọi nơi mà
không phải chờ đến khi có điều kiện mới thực hiện được. Cụ thể như khi đang chơi ở
10
sân trẻ muốn thể hiện một ấn tượng nào, trẻ chỉ việc dùng viên phấn, cục gạch, cái que
để vẽ là trẻ có thể thực hiện được ý thích của mình.
Theo từ điển tiếng Việt thì: “ Vẽ là dùng bút mà tả hình dạng các vật cho được
như thực bằng đường nét hoặc màu sắc”. [47, 1807]
trẻ mô tả những hiểu biết của mình về thế giới xung quanh. Vì thế tranh vẽ của trẻ đã
lôi cuốn được sự nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học như N.P.Xaculina,
T.X.Comarôva , G.G.Grigorieva, đưa ra những đặc điểm nổi bật trong tranh vẽ của trẻ
mẫu giáo như sau:
11
- Tính duy kỷ: Trong quá trình vẽ trẻ quan tâm đến “ việc vẽ cái gì”, chứ không
phải vẽ như thế nào? Tính duy kỷ làm cho trẻ tiến đến hoạt động vẽ một cách dễ dàng.
Trẻ sẵn sàng vẽ bất cứ cái gì mà không cảm thấy sợ hãi hay khó khăn. Đối tượng trẻ
vẽ thường là cái gì mà trẻ thích, trẻ muốn chứ không phải là cái dễ vẽ. Mối quan tâm
của trẻ trong hoạt động này là trẻ cố gắng truyền đạt giúp người xem hiểu được những
suy nghĩ, thái độ, tình cảm mà trẻ miêu tả chứ không phải là sự đánh giá về thẩm mỹ,
do đó trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ thương hài lòng với
các hình vẽ sơ đồ đơn giản. Sự hạn chế và khả năng biểu cảm bằng ngôn ngữ tạo hình
thường được trẻ bù đắp tích cực bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ. Trẻ càng biết nhiều về
thế giới xung quanh, nội dung vẽ của trẻ càng phong phú, đa dạng và sinh động. Tuy
nhiên càng về cuối tuổi mẫu giáo, ở trẻ có sự thay đổi, trẻ dần có sự thận trọng hơn bởi
chúng ý thức được khả năng của mình.
- Tính không chủ định:
Trong hoạt động vẽ chưa có khả năng suy tính sắp xếp công việc một cách chi
tiết, các ý định miêu tả thường nảy sinh một cách tình cờ. Đôi khi để thực hiện ý định
miêu tả trẻ cũng hình dung ra kế hoạch chung song các kế hoạch này thường nhanh
chóng bị thay đổi bởi các yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình quan sát, trí nhớ, xúc cảm
hay tưởng tượng. Chú ý vào việc nội dung thể hiện các “ý tưởng”, trẻ thường miêu tả
rất say sưa. Nhưng mỗi khi vẽ xong các chi tiết, trẻ hầu như không quan tâm đến
chúng nữa, không quay trở lại sửa sang hay tô vẽ lại.
Tranh vẽ của trẻ giống như một câu chuyện đồ họa. “Câu chuyện” ấy thường bắt
đầu từ một chi tiết bất kì nào đó, sau đó thêm thắt dần các chi tiết mới. Đôi khi trẻ liên
kết vào một bức tranh vài hành động, vài sự việc xảy ra cùng với một nhân vật (nhân
hơn các đối tượng khác.
Phần lớn sự tri giác của trẻ về đối tượng xung quanh thật đơn giản và tươi vui,
điều này được thể hiện qua những hình ảnh được mô tả rất rực rỡ. Mặc dù các hình
ảnh trong tranh vẽ của trẻ còn khá sơ lược dưới con mắt của trẻ rất sống động và “như
thật”.
4.5. Ý nghĩa của hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng đối
với sự phát triển toàn diện của trẻ
Hoạt động tạo hình là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật trong đó con người
không chỉ nhận thức cái đẹp của thế giới xung quanh mà còn cải tạo nó theo quy luật
của cái đẹp.
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động thú vị nhất đối với trẻ lứa tuổi
Mầm non. Nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì
chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh, những gì làm trẻ rung động và gây cho trẻ
những xúc cảm, tình cảm đích thực.
Hoạt động tạo hình là một phương tiện quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện.
Các giờ vẽ, nặn… có ảnh hưởng đến việc giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể lực
và hình thành các phẩm chất, kỹ năng lao động giản đơn đối với trẻ mẫu giáo.
- Ý nghĩa của hoạt động tạo hình đối với giáo dục trí tuệ, ngôn ngữ:
Trong quá trình hoạt động tạo hình trẻ có nhiều cơ hội để tìm hiểu, khám phá các
sự vật, hiện tượng, biết quan sát, phân tích, so sánh, đánh giá vật này với vật khác.
Ngoài ra, trẻ còn tìm hiểu bản chất của các vật liệu tạo hình và sự liên quan giữa kết
quả thu được và vật liệu tạo hình.
Hoạt động tạo hình là môi trường thuận lợi hình thành ở trẻ các phẩm chất trí tuệ
như tính tự giác, tính ham hiểu biết, tính tích cực nhận thức và óc sáng tạo.
13
Hoạt động tạo hình còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Trong quá trình nhận biết
các đối tượng, so sánh và nhận xét sản phẩm tạo hình sẽ giúp trẻ phát triển vốn từ, lời
nói, hình tượng - truyền cảm và ngôn ngữ mạch lạc hơn.
diện cho trẻ
Từ ngay những năm đầu tiên của cuộc sống, trẻ đã bị lôi cuốn một cách vô thức
vào tất cả những gì trong sáng và hấp dẫn, chúng thích thú với những đồ chơi và màu
14
sắc rực rỡ, những âm thanh và nhịp điệu rộn rã vui tươi. Tất cả những cái đó gây cho
trẻ cảm giác vui sướng.
Từ “đẹp” sớm đi vào cuộc sống của trẻ, tình yêu, cái đẹp trong thiên nhiên, trong
cuộc sống và trong nghệ thuật, thực chất đó là hình được khêu gợi bởi những xúc cảm
về cái đẹp. Quá trình tri giác cho hoạt động vẽ tạo điều kiện cho trẻ trực tiếp tiếp xúc
với cái đẹp, nghĩa là trẻ phải tập trung quan sát, tập nhận biết, cảm nhận các đặc điểm
thẩm mỹ của đối tượng (hình dáng, màu sắc, kích thước, cấu trúc, tỷ lệ, vị trí, không
gian…)
Trong quá trình này trẻ nắm bắt đầy đủ, chính xác các đặc điểm, các vẻ bên ngoài
của đối tượng và xuất hiện cảm xúc về cái đẹp trong hình dáng, màu sắc, nhịp điệu…
Đó chính là cảm xúc thẩm mỹ.
Từ những cảm xúc này dần dần hình thành ở trẻ tình cảm thẩm mỹ, quá trình thể
hiện cảm xúc thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc và trí tưởng tượng mang tính
nghệ thuật của trẻ ngày càng trở nên phong phú hơn.
Do đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo mà ở lứa tuổi này được coi là thời
kỳ “hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ. Vì vậy vai trò của hoạt động tạo hình đối với
việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mầm non là vô cùng quan trọng. Xúc cảm qua hoạt
động vẽ sẽ trở thành những tài sản riêng của những tài năng cho tương lai.
Bước sang tuổi thứ 6 trẻ cần được cung cấp biểu tượng và tạo hứng thú cho trẻ.
Mở rộng hiểu biết về những vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh qua màu
sắc, hình dáng, đường nét, bố cục, tỉ lệ, không gian… Nhằm tạo cho trẻ có nhiều biểu
tượng đa dạng, phong phú về thế giới xung quanh.
Hoạt động tạo hình càng được tổ chức phong phú bao nhiêu đứa trẻ sẽ có cơ hội
quanh cái gì cũng lạ, cũng hấp dẫn muốn nói mà chưa đủ từ (bập bẹ, bí ba bí bô là vì
thế), và vẽ là cái mà trẻ “làm” được trẻ vẽ để nói thay lời. Lúc này trẻ không vẽ như
lúc ban đầu, đơn giản chỉ là hoạt động tự thân nữa, mà vẽ ở đây là có sự kết hợp giữa
tác động bên ngoài với nội tại.
Nhận thức của trẻ ngày càng phong phú về thế giới xung quanh, đối với trẻ vẽ
không chỉ là hoạt động thích thú, mà còn là phương tiện để diễn đạt (thay lời nói), là
phương tiện để biểu lộ nhận thức của mình về thế giới xung quanh. Hình vẽ của trẻ
ngày phức tạp, nhiều chi tiết, càng gần với những gì chúng thấy ở xung quanh, chứng
tỏ trẻ em nhận thức ngày càng phong phú hơn. Hình vẽ đã đem lại cho trẻ niềm vui, và
từ đó trẻ thích vẽ hơn. Trẻ rất tự tin vào hình vẽ của mình: “cháu vẽ đấy”, “cháu vẽ
con mèo”, “cháu vẽ có đẹp không nào”,…Đó là những câu nói của trẻ sau khi hoàn
thành “tác phẩm”. Ở những câu nói ngây thơ ấy, ta thấy chứa đựng niềm tin, niềm tự
hào và niềm vui của trẻ.
4.8. Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình trong tranh vẽ của trẻ
- Đường nét:
Đường nét, hình dạng là những dấu hiệu đầu tiên của hình vẽ giúp trẻ nhận ra và
hiểu được mối liên hệ giữa sự vật thật và hình ảnh biểu đạt sự vật đó.
Lúc đầu do khả năng thao tác để tạo ra những đường nét còn hạn chế nên hình vẽ
của trẻ còn mang tính sơ đồ, lắp ráp từ hình học. Do sự phát triển nhanh về cơ bắp, thể
lực và khéo léo của vận động, trẻ MGL đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính
chất khác nhau khá phức tạp. Với trình độ phát triển của năng lực nhận thức thẩm mỹ
và kỹ năng vận động trẻ ở lứa tuổi này có thể cảm nhận được tính nguyên thể của các
hình ảnh đối tượng miêu tả và biết dùng đường nét liền mạch, mềm mại, uyển chuyển
để truyền đạt hình dáng trọn vẹn của mọi sự vật trong cấu trúc hợp lý, đồng thời thể
16
hiện tư thế vận động, hành động phù hợp với nội dung sáng tạo. Đặc biệt trẻ 5- 6 tuổi
đã có vốn kinh nghiệm phong phú cho nên các biểu tượng hình thành khá đầy đủ về
hình dáng, cấu trúc và đặc điểm riêng biệt, khá linh hoạt trong việc biến đổi, phù hợp
các mối quan hệ giữa các sự vật, nhân vật để tạo ra một không gian có chiều sâu với
nhiều tầng cảnh. Tính nhịp điệu trong bố cục tranh vẽ của trẻ 5- 6 tuổi thể hiện ở nhiều
vẻ: bằng sự sắp xếp lặp đi lặp lại của các hình cùng loại, bằng sự phân biệt thể hiện
17
quan hệ chính- phụ… Tuy nhiên tranh vẽ thường mang tính liệt kê, trẻ trải đều các
hình vẽ trên mặt giấy, ít có trước, sau, xa, gần và ít tuân theo tỉ lệ trong thực tế.
Hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện tạo hình trong tranh vẽ của trẻ phụ
thuộc rất nhiều vào khả năng tri giác hình tượng, sự lựa chọn góc độ nhìn và khả năng
cảm nhận vẻ đẹp, đa dạng của thế giới xung quanh đồng thời phụ thuộc vào khả năng
tưởng tượng sáng tạo biến đổi hình tượng mà mức độ phong phú sâu sắc của xúc cảm,
tình cảm thẩm mỹ của trẻ.
5. Các thể loại vẽ trong chương trình Giáo dục Mầm non
5.1. Vẽ theo mẫu
Vẽ theo mẫu hay còn gọi là vẽ hình họa. Vẽ theo mẫu giữ vị trí quan trọng trong
nghệ thuật tạo hình nói chung và hội họa nói riêng, nó là môn học cơ bản của hội họa.
Vẽ theo mẫu là miêu tả đối tượng một cách có khoa học, chính xác về đặc điểm
cấu trúc, hình dáng, màu sắc của đồ vật, con người bằng đường nét đậm nhạt, màu sắc
và cảm xúc của người vẽ trên mặt phẳng của giấy vẽ, tạo cho người xem một cảm giác
như thật. Để thực hiện được những yêu cầu cơ bản của vẽ theo mẫu cần nắm được
những khái niệm về các phương tiện diễn tả như: đường nét- hình- mảng- khối- bố
cục.
Các bài mẫu dành cho trẻ là các bài phối hợp các kỹ năng đã học ở lớp dưới. Ở
thể loại này giáo viên cần nắm vững yêu cầu của từng bài để chuẩn bị mẫu và giới
thiệu rõ ràng, hướng dẫn trẻ quan sát cụ thể. Tiết vẽ theo mẫu phải có mẫu, mẫu do
giáo viên vẽ hoặc dùng vật thật để trẻ quan sát từ đầu đến cuối tiết học, trẻ vẽ theo
mẫu và nhận xét theo mẫu.
5.2. Vẽ theo đề tài