Nguyễn Cẩm Thanh và Nguyễn Văn Khôi
BIÊNN PHÁP TĂNG CƯỜNG TÍNH TƯƠNG TÁC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC THỰC HÀNH KỸ THUẬT
Nguyễn Cẩm Thanh, Nguyễn Văn Khôi, (2012). Biện pháp tăng cường tính tương tác tích cực trong
dạy học thực hành kỹ thuật, tạp chí khoa học số 4 ĐHSP Hà Nội, tr. 48-56.
I. MỞ ĐẦU
Trong quá trình dạy học thực hành kỹ thuật (THKT) dù được thực hiện theo
quan điểm dạy học nào thì cũng đều có quá trình tương tác giữa ba nhân tố là người
học, người dạy và môi trường dạy học. Nhưng việc quan tâm tới các cặp tương tác (sự
tác động qua lại giữa các nhân tố nói trên) để tương tác được diễn ra theo chủ định thì
chưa được xem xét đúng mức, chưa có những biện pháp cụ thể để tương tác tích cực,
hướng đến việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học.
Xem xét chức năng, nhiệm vụ của dạy học THKT với dạy học lý thuyết kỹ thuật
luôn bổ sung, thống nhất với nhau, thay đổi và kế thừa nhau trong đào tạo nghề kỹ
thuật. Dạy học THKT cần quan tâm đến cả hai loại hình hoạt động: thực hành trí tuệ và
thực hành vật chất. Hình thức tổ chức dạy học THKT thông qua các hoạt động tương
tác giữa ba nhân tố chính trong hệ dạy học là người học, người dạy và môi trường dạy
học. Trong đó môi trường dạy học chỉ xem xét ở phạm vi trong lớp học nó chứa đựng
cả nội dung dạy học. Như vậy, môi trường là một trong những tác nhân chủ yếu của quá
trình dạy học. Các hoạt động tương tác cần tích cực nhờ vào các biện pháp cụ thể như:
chẩn đoán về người học; đưa người học vào làm việc trong môi trường tri thức; tạo
khung kiến thức cơ bản đối với nhu cầu người học; khuyến khích người học độc lập học
tập; đảm bảo cho người học khả năng tiếp cận công cụ; phát triển kỹ năng thảo luận;
người dạy chú ý tác động vào vùng phát triển gần của người học.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm
a) Dạy học thực hành kỹ thuật
Thực hành là: "Làm để cho thành sự thực; bắt tay vào việc áp dụng thực sự lý
thuyết đã học" [7, tr711].
Xem xét vai trò, mối liên hệ qua lại giữa ba nhân tố: người học, người dạy, môi
trường:
- Người học (học sinh/sinh viên) cần xác định là người tích cực, chủ động dùng
tất cả năng lực cá nhân để lĩnh hội và tự điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng
và thái độ mới. Người học giữ vai trò tác nhân chính quyết định chất lượng của quá
trình đào tạo. Như vậy, người học cần có hoạt động học theo đúng bản chất của nó.
Hoạt động học chính là hoạt động hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học,
tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, việc tiếp thu cả
những tri thức của chính bản thân hoạt động học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao,
người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về
chính bản thân hoạt động học. Để có được hoạt động học thì trước hết ở người học phải
2
Nguyễn Cẩm Thanh và Nguyễn Văn Khôi
có động cơ, mục đích, hứng thú học tập từ đó hình thành các hành động học tập. Hành
động học ở đây được hiểu là hành động thao tác trí tuệ, vật chất, nhằm chiếm lĩnh tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo. Các hành động học điển hình, cơ bản đó là: hành động phân tích,
tổng hợp, so sánh, liên hệ, khái quát hóa, hành động mô hình hoá, hành động cụ thể hoá
(nhằm vận dụng giúp người học hiểu được rõ nhất bản chất của vấn đề, giải quyết
những vấn đề trong mối liên hệ cụ thể từng lĩnh vực).
- Người dạy dùng kiến thức, kinh nghiệm của mình hướng dẫn người học.
“Người dạy chỉ cho người học cái đích phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú
học và đưa họ tới đích. Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học chiếm lĩnh
các tri thức, hình thành kỹ năng và kỹ xảo. Người dạy phục vụ người học” [8, tr18].
- Môi trường dạy học rất đa dạng và phong phú, bao gồm môi trường bên trong
(tiềm năng, giá trị, cảm xúc...), môi trường bên ngoài (thầy, bạn, gia đình, xã hội, không
gian thời gian...). Như vậy "Môi trường là toàn bộ các yếu tố và các điều kiện bao
Người dạy tổ chức hoạt động dạy sẽ có dự liệu trước về điều kiện môi trường
cho phù hợp (xắp xếp bàn ghế, chuẩn bị tài liệu học tập, phương tiện trực quan, phương
tiện thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy - học...) với nội dung học tập. Trong quá trình dạy học người dạy có thể tác động, điều chỉnh môi trường theo nội dung học tập, nhịp độ
học tập (thay đổi bầu không khí lớp học, cung cấp thêm tư liệu dạy học cần thiết, kích
thích tính tò mò...).
Như vậy, có thể hiểu môi trường trong dạy học tương tác tích cực như sau:
Môi trường dạy học là nhân tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học, nó không chỉ
ảnh hưởng đến người dạy, người học, mà điều quan trọng là làm thay đổi người học,
người dạy nhằm đảm bảo sự thích nghi của người học, người dạy với môi trường và
ngược lại chính người dạy, người học cũng làm môi trường thay đổi.
2.2 Các cặp tương tác trong dạy học thực hành kỹ thuật
Công cụ để thực hiện tương tác có thể là ngôn ngữ, thái độ, cử chỉ, cách ứng xử,
ký hiệu, chữ viết... Nội dung tương tác là các vấn đề thuộc nhiệm vụ học tập. Mục đích
tương tác rõ ràng, được tổ chức và phân công trách nhiệm, đặc biệt diễn ra nhiều chiều,
mỗi thành viên tham gia phải tích cực.
Các cặp tương tác gồm:
- Người dạy ⇔ người học
- Người học ⇔ bạn học
- Người học ⇔ bản thân người học
- Môi trường dạy học ⇔ người học
- Môi trường dạy học ⇔ người dạy.
a) Người dạy ⇔ người học, đây là cặp tương tác phổ biến nhất vốn luôn tồn tại
trong quá trình dạy học. Nhưng mức độ được quan tâm như thế nào để tương tác tích
cực thì cần phải làm rõ, cụ thể trong từng hoạt động dạy tương ứng với hoạt động học.
Ban đầu việc tác động của người dạy đến người học bằng nhiều biện pháp (gây hứng
thú, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện, câu hỏi, tạo tình huống,...). Người học bằng
phương pháp học của mình, tổng hợp các hành động học, phản hồi đến người dạy
những thông tin thể hiện qua ngôn ngữ, bằng bình luận, các câu hỏi hoặc thể hiện dưới
dạng phi ngôn ngữ như thái độ, cử chỉ hay cách ứng xử,... Khi đó, người dạy phản ứng
không có các thiết bị dạy thì không thể tiến hành hoạt động dạy - học. Các thiết bị kỹ
thuật hiện đại, máy móc, phần mềm chương trình không những có tác động lớn đến
người học mà còn như là những người thầy vô hình ẩn trong đó. Ngày nay do khoa học
kỹ thuật, công nghệ phát triển mạnh nên đã xuất hiện các loại hình thiết bị dạy học có
khả năng tương tác mạnh với người học, các phần mềm dạy học tương tác rất đa dạng
phong phú. Việc tác động ngược trở lại của người học với môi trường làm thay đổi môi
trường (thay đổi bầu không khí, thay đổi vị trí thiết bị, thay đổi góc nhìn vào đối tượng
6
Nguyễn Cẩm Thanh và Nguyễn Văn Khôi
nghiên cứu...) là do các tình huống nảy sinh, động cơ ham muốn chinh phục, khám
phá,... Với cặp tương tác này mang tính ẩn ngầm và thường diễn ra ở bên trong mỗi
người học nên khó kiểm soát.
e) Môi trường dạy học ⇔ người dạy, ở cặp tương tác này thực chất là môi trường
tương tác đến người học thông qua người dạy, nhưng thực tế lại ít được người dạy quan
tâm khai thác, do đó trở nên mờ nhạt. Vì vậy, trước đây, môi trường chưa được phát
huy đúng chức năng trong quan hệ với các yếu tố khác của hệ dạy học, đặc biệt là với
yếu tố học. Môi trường có thể ảnh hưởng tới phương pháp học của người học và
phương pháp sư phạm của người dạy. Môi trường có tạo điều kiện thuận lợi hoặc bất
lợi đến cả người học và người dạy, khi đó người học và người dạy phản ứng bằng
cách sàng lọc những ảnh hưởng có lợi của môi trường hoặc điều chỉnh các ảnh hưởng
bất lợi của môi trường để người dạy và người học có thể thích nghi.
2.3 Một số biện pháp tăng khả năng tương tác tích cực trong dạy học thực
hành kỹ thuật
Trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba nhân tố:
người dạy, người học và môi trường dạy học [5]. Nhưng các tương tác tích cực được
diễn ra vào thời điểm nào của quá trình dạy học, với thầy giáo, bạn học hay môi trường
tình huống thực tế. Người học có thể thảo luận, hợp tác với bạn học để rút ra những
nhận định về các đặc điểm cấu tạo của piston. Trên có sở đó sẽ giúp việc thực hiện tháo
và lắp đúng đáp ứng theo yêu cầu kỹ thuật.
c) Tạo khung kiến thức cơ bản đối với nhu cầu người học (cách thức, phương
pháp khai thác, sử dụng công cụ). Khuyến khích người học độc lập tìm kiếm các giải
pháp, độc lập thử thách chính mình, tự mình vượt qua khó khăn, nhưng sẵn sàng đón
nhận sự trợ giúp khi bế tắc.
Ví dụ: Trong thực hành lắp bánh răng cam với bánh răng trục khuỷu của động cơ
đốt trong 4 kỳ - 4 xylanh thẳng hàng, dùng xupáp treo. Nếu trên bánh răng không có
dấu hoặc bị mất dấu thì cần lắp thế nào? Khung kiến thức cơ bản được tạo ra là việc
thực hiện các bước cân cam cho động cơ. Người dạy cho người học trao đổi với nhau,
tự lực suy nghĩ đưa ra các phương án thực hiện. Trong đó người dạy có thể giúp đỡ
người học qua các gợi ý (tìm hiểu xem vị trí xilanh số 1, xác định cam hút, cam xả),
giúp người học xác định từng bước thực hiện.
d) Phát triển tư duy cho người học bằng phương pháp học qua nghiên cứu, chiến
lược phân tích, giải quyết vấn đề, sử dụng công cụ,...
Ví dụ: Thực tế người học chỉ được học và thực hành điều chỉnh khe hở nhiệt của
xupáp trên những động cơ đốt trong truyền thống. Nhưng nếu đặt người học vào tình
huống phải thực hiện việc điều chỉnh khe hở nhiệt cho động cơ đốt trong đời mới có
ứng dụng công nghệ tự động điều chỉnh xupáp hút, xả (trên động cơ của hãng TOYOTA
gọi là công nghệ VVT-i, Honda gọi là công nghệ i-VTEC, Mitsubishi gọi là công nghệ
MIVEC, Nissan gọi là công nghệ VVEL...). Trong thực tiễn hiện nay, những động cơ
8
Nguyễn Cẩm Thanh và Nguyễn Văn Khôi
trên ôtô có ứng dụng các công nghệ kể trên rất phổ biến. Vậy đòi hỏi người học vẫn
phải biết cách điều chỉnh khe hở nhiệt, để thực hiện được rõ ràng người dạy cần phải
9
Nguyễn Cẩm Thanh và Nguyễn Văn Khôi
động và biến đổi. Sự tham gia tương tác giữa hai nhân tố bao giờ cũng bị ảnh hưởng bởi
nhân tố còn lại. Đặc biệt với với nhân tố môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người
dạy, người học, mà điều quan trọng là làm thay đổi người học, người dạy nhằm đảm
bảo sự thích nghi của người học, người dạy với môi trường và ngược lại chính người
dạy, người học cũng làm môi trường thay đổi.
Để dạy học THKT theo quan điểm dạy học tương tác tích cực người dạy cần biết
tổ chức dạy học thông qua các hoạt động tương tác, vận dụng và khai thác các biện
pháp tăng khả năng tương tác tích cực trên đây. Tuy nhiên, người dạy cần nghiên cứu
kỹ nội dung kiến thức THKT phải dạy, để từ đó xác định hoạt động dạy học cụ thể được
đặt vào cặp tương tác nào là chủ đạo thì phù hợp, vận dụng biện pháp tương tác tích cực
nào sẽ đem lại hiệu quả cao nhất. Như vậy quá trình dạy học theo quan điểm dạy học
tương tác tích cực chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng dạy học THKT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Phạm Văn Công (2011), Một số cách tiếp cận dạy học trong sư phạm tương tác,
Tạp chí Dạy và học ngày nay, số (5/2011), Hà Nội.
[2]. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học môn Giáo dục
học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo quan điểm sư phạm học tương tác, Luận án
tiến sỹ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội.
[3]. Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Thị Thu Hà (1999), Vận dụng quan điểm, tích cực hoạt
động học tập của học sinh như thế nào, Trường ĐHSP Hà Nội, Thông báo khoa học
(6/1999).
[4]. Nguyễn Văn Khôi (2001), Một số vấn đề cơ bản về lý luận dạy học thực hành kỹ
thuật, NXB Giáo dục, Hà Nội.
METHODS IN STRENGTHENING ACTIVE INTERACTION
IN TECHNICAL PRACTICE TEACHING
The form of technical practice teaching via interaction activities, among 3 main factors
in teaching system are learner, teacher and teaching environment. Especially,
environment factor that contains teaching content not only has effects on teachers,
learners but what also is important is to change learners, teachers in order to ensure the
adaption of learners and teachers to environment and vice verse, that is learners and
teachers who also make environment changed. So as interaction couple to be active,
learners need to know how to exploit, apply specific methods such as: recognize
learners, bring learners to work in knowledgeable environment, create primary
knowledge scale for learner’s demands, encourage learners to study independently,
ensure that learners be able to approach tools, develop discussion skills; Educators pay
attention to impact on near development area of learners.
11