LỜI NÓI ĐẦU
Những năm tháng chiến tranh đã qua và đã đi vào quá khứ những khi nhớ lại
những gì trong các cuộc chiến tranh thì ta không khỏi bàng hoàng, những gì đã qua đi
nó để lại cho toàn dân Việt Nam một nỗi đau, sự mất mát to lớn của những anh hùng đã
hy sinh trong cuộc các cuộc kháng chiến để bảo vệ Tổ quốc, đạo lý “uống nước nhớ
nguồn” chính là nhắc chúng ta không bao giờ quên những gì mình có ngày hôm nay.
Quan tâm đối với những người đã góp sức người, sức của và hy sinh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân nhằm
phát huy truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh
Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2017), Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố tổ chức gặp mặt
người có công tiêu biểu để ôn lại truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ
quốc của quân và dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách dành
cho người có công với cách mạng và qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước chính
sách ưu đãi người có công lại sửa đổi, bổ sung phù hợp, nhằm nâng cao, cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần cho ngững người có công với cách mạng nói chung và người có
công là bệnh binh nói riêng. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao
đời sống cho người có công cần được quan tâm, đầu tư đúng mức. Thông qua các
chính sách như giải quyết việc làm, giáo dục, xây nhà tình nghĩa, vay vốn, trợ cấp
hàng tháng, chăm sóc sức khỏe, mai táng phí... cho đối tượng khác nhau.
Để bù đắp về mặt tinh thần cho các chiến sĩ trở về mà mang trên mình những
vết thương chiến tranh cũng như những anh hùng đã ngã xuống và Nhà nước chúng
ta đề ra chính sách người có công, có thể nó tồn tại rất lâu từ khi có cuộc chiến tranh
bắt đầu nhưng nó không được phát triển như bây giờ. Chính vì vậy, tôi chọn chủ đề
liên quan đến người có công, để có thể thấy được chính sách người có công đã áp
dụng vào thực tế như thế nào? Cũng như hiểu được người có công sẽ nói gì về
1
những năm tháng mà mình đã trải qua. Giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn và tự hào
điều kiện cho tôi có được sự trải nghiệm với môi trường thực tế; đặc biệt tôi xin cảm
ơn giảng viên hướng dẫn Ts. Nguyễn Minh Tuấn và thầy Ths. Phạm Thanh Hải đã tận
tình hướng dẫn trong thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
3
Đồng thời tôi cũng gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến các cô, chú, anh, chị
tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Buôn Ma Thuột đã tạo
thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành báo cáo tốt nghiệp; gia đình thân chủ tạo
điều kiện tốt nhất cho tôi thực tập tốt nghiệp trên địa bàn.
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài báo cáo tốt nghiệp này
không tránh khỏi những thiếu sót, vì thế rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy
cô giáo, các bạn sinh viên. Cuối cùng xin kính chúc toàn thể đơn vị, quý thầy cô và
gia đình thân chủ có sức khỏe dồi dào, hạnh phúc, gặt hái được nhiều thành công.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
4
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọ đề tài
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Việt Nam liên tục phải đối mặt
với chiến tranh. Mỗi cuộc chiến qua đi để lại những hậu quả nặng nề mà Nhân dân ta
phải gánh chịu và khắc phục. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ ở thế kỷ
XX, những tổn thất của Nhân dân ta về người và của, về cơ hội để phát triển đất
nước là vô cùng to lớn. Nó không chỉ ảnh hưởng đến những con người của thời
chiến, những người đã trực tiếp tham gia và cả những người đã đóng góp công sức
vào cuộc kháng chiến, mà những di chứng của nó vẫn gieo rắc lên các thế hệ tương
lai. Khó khăn lại càng chồng chất khó khăn. Điều đó đã tạo ra không ít thách thức
nói chung và đối với Bệnh binh nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng. Nhất là những
thương binh, bệnh binh vấn đề này càng cấp thiết và cần quan tâm nhiều hơn hết.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Buôn Ma Thuột là một
đơn vị có tầm quan trọng rất lớn trong việc tổ chức, triển khai và thực hiện các chính
sách cho các đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi xã hội. Trong năm 2016, công tác tổ
chức thực thi chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công tại Phòng Lao động
Thương binh và Xã hội Thành phố đã có những thành tích góp phần cải thiện nâng
cao chất lượng cuộc sống cho người có công trên địa bàn; đưa chính sách ưu đãi áp
dụng vào thực tế cuộc sống. Song quá trình đó còn gặp nhiều khó khăn, công tác tổ
chức thực thi các chính sách đối với người có công tại Phòng còn có những hạn chế
cần khắc phục trong thời gian tới để phát huy và nâng cao hiệu quả các chính sách.
Trên thực tế, nhu cầu được hưởng các chính sách xã hội cũng là nhu cầu phổ biến,
nguyện vọng của Người có công nếu không được giải quyết tốt, trước hết sẽ trực tiếp tác
6
động xấu đến sức khỏe và cuộc sống, sau đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc
sống của gia đình họ cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đặc biệt đối với Bệnh binh trên địa bàn Thành phố gặp muôn vàn khó khăn
trong đời sống, phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài
"An sinh xã hội và công tác xã hội cá nhân đối với Bệnh binh tại thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” nghiên cứu để thực tập tốt nghiệp lần này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Tìm hiểu về thực trạng, tình hình thực hiện chính sách An sinh xã hội và mô
hình hỗ trợ đối với Bệnh binh. Trên cơ sở đó, xác định được vấn đề, nhu cầu để lựa
chọn một thân chủ. Sử dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân để hỗ trợ về sức
khỏe đối với bệnh binh, lên kế hoạch trị liệu, đồng thời đưa ra một số giải pháp trị
liệu cho thân chủ là Bệnh binh nhằm thực hiện an sinh xã hôi nâng cao hơn nữa đời
- Thời gian nghiên cứu: Năm 2016
- Thời gian thực tập: từ 13/06/2017 đến 13/08/2017.
4. Ý nghĩa của Đề tài
4.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài "Tình hình thực hiện An sinh xã hội và công tác xã hội cá nhân đối
với Người có công là Bệnh binh tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”
này có ý nghĩa thiết thực, để tìm hiểu các chính sách an sinh xã hội đối với người có
công là Bệnh binh, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Hướng dẫn của
Phòng Lao động Thương binh xã hội thành phố. Khái quát tình hình thực hiện chính
sách an sinh xã hội đối với người có công là Bệnh binh tại thành phố. Đồng thời,
thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân với một trường hợp người có công
là bệnh binh, vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học, cùng với thân chủ xác
định vấn đề và xây dựng kế hoạch thực hiện việc hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề.
Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho công tác quản lý thực hiện chính sách
an sinh xã hội và công tác xã hội cá nhân tại địa phương.
8
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài này góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng chính sách An
sinh xã hội đối với Bệnh binh, đặc biệt là tiến trình công tác xã hội cá nhân, đề xuất
một số kiến nghị có cơ sở khoa học để thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với
Bệnh binh, thực hiện tiến trình làm việc giữa nhân viên xã hội và thân chủ trong
công tác xã hội cá nhân tại địa phương đạt hiệu quả. Vì vậy, đề tài có giá trị thực
tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo cho cán bộ viên chức và cho các nghiên cứu sau này
về lĩnh vực cải thiện đời sống, vật chất tinh thần đối với Bệnh binh ở địa phương.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp này được sử dụng để phân tích, đánh giá những tài liệu, hồ sơ
pháp kỹ thuật chuyên sâu được sử dụng để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy
nghĩ, thái độ tình cảm, động cơ, quan điểm, chính kiến của đối tượng được phỏng
vấn đối với các vấn đề liên quan.
- Phỏng vấn giúp sinh viên tìm kiếm những thông tin liên quan đến thân chủ
từ các đối tượng bên ngoài như những đối tượng liên quan tiếp xúc thường xuyên
với thân chủ. Từ đó xác định các nhu cầu cũng như lập đươc kế hoạch cụ thể để hỗ
trợ cho thân chủ tốt nhất.
5.4. Phương pháp phân tích và thống kê số liệu
Từ những số liệu thu thập được qua các nguồn khác nhau, sinh viên tổng hợp,
phân tích sao cho những số liệu đó nêu lên nội dung nổi bật của đề tài. Tổng hợp tất
cả các thông tin đã thu thập được từ các kỹ năng khác nhau để tìm ra những điểm
mạnh và hạn chế để tìm vấn đề thân chủ và lập kế hoạch hỗ trợ cho thân chủ.
5.5. Phương pháp Công tác xã hội đặc thù
Những phương pháp công tác xã hội đặc thù được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
Tham vấn, phương pháp công tác xã hội cá nhân và các kỹ năng nghề nghiệp.
5.5.1. Tham vấn cá nhân
- Tham vấn là một quá trình tương tác trao đổi tích cực với thân chủ nhằm hỗ
trợ thân chủ tìm kiếm giải pháp cho vấn đề đang tồn tại.
- Tham vấn được sử dụng để làm việc trực tiếp với thân chủ, nhằm giúp thân
chủ giải tỏa những căng thẳng tâm lý như: buồn chán, bệnh tật; tham vấn giúp thân
10
chủ thay đổi cảm xúc, tăng cường sức mạnh, cải thiện vấn đề và giải quyết vấn đề
của thân chủ.
5.5.2. Phương pháp công tác xã hội với cá nhân
- Là một tiến trình làm việc giữa nhân viên công tác xã hội với cá nhân hoặc môi
trường xung quanh cá nhân đó, nhằm giải quyết vấn đề của một cá nhân.
- Được sử dụng trong nghiên cứu trường hợp, ứng dụng trong tiến trình can
thiệp cá nhân nhằm giúp cá nhân tìm ra vấn đề và giải quyết vấn đề ưu tiên, thông
Đắk Lắk.
Thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là Đô thị loại I trực thuộc tỉnh
Đắk Lắk (Quyết định số 228/QĐ-TTg, ngày 08/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ),
là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Tỉnh, có diện tích tự nhiên
37.718ha, có 21 đơn vị hành chính (gồm: 13 phường, 08 xã), có dân số 335.008
người, với 86.000 hộ, gồm 40 dân tộc anh em, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu
số có 49.763 người, với 10.585 hộ (chiếm 14,85% dân số toàn thành phố); có 04 tôn
giáo chính: Phật giáo, Công giáo, Tin lành,Cao đài với tổng số tín đồ 112.369 người.
Nằm ở vùng trung tâm của Tây Nguyên, Thành phố có tiềm năng và lợi thế
phát triển công nghiệp với vùng nguyên liệu dồi dào và phong phú, nguồn thủy điện
lớn; có lợi thế về du lịch sinh thái, du lịch lịch sử và du lịch văn hóa… Năm 2012,
tốc độ tăng trưởng kinh tế 14,71%. Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Xây dựng 44,92%;
Dịch vụ 47,58%; Nông - Lâm nghiệp 7,50%.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Địa hình
Nằm trên Cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy Trường Sơn, thành phố Buôn Ma
Thuột có địa hình dốc thoải, bị chia cắt bởi một số dòng suối thượng nguồn của sông Sêrêpok.
12
Địa hình có hướng dốc chủ yếu tù Đông Bắc xuống Tây Nam, có độ dốc từ 0,510%, cá biệt có nhiều đồi núi có độ dốc hơn 30%. Cao độ trung bình khoảng 500m so
với mặt nước biển. Cao nhất ở dải đồi phía Bắc 560m so với mặt nước biển. Thấp nhất
ở khu ruộng trồng phía Nam 350m, so với mặt nước biển.
Đặc trưng của địa hình cơ bản thuộc 3 dạng sau: Dạng địa hình đồi núi, độ dốc
lớn, độ dốc đặc trưng cấp III và IV; dạng địa hình chân đồi và ven suối độ dốc đặc trưng
cấp II; dạng địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc đặc trưng cấp I.
Hình 1: Bản đồ hành chính và Trụ sở Thành ủy, HĐND,UBND thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
1.1.1.2.Khí hậu
- Nhiều ngành nghề, cơ sở sản xuất được mở rộng, tăng nhanh như: điện, cửa
sắt, cửa nhôm, tôn lợp, cán thép, ván ốp lát, cà phê bột, cà phê hòa tan, nước tinh
khiết. Nhiều cơ sở sản xuất có quy mô lớn được đầu tư xây dựng như nhà máy thủy
điện buôn Kuốp công xuất 280MW (đã phát điện 140MW), nhà máy bia Sài Gòn Đắk Lắk mở rộng 2 công suất 70 triệu lít/năm, nhà máy sản xuất thép…
- Một số khu, cụm công nghiệp được hình thành như khu công nghiệp Hòa
Phú diện tích 181ha đã có 12 dự án đăng ký đầu tư; cụm công nghiệp Tân An diện
tích 48,5ha có 27 cơ sở sản xuất thuê đất, lấp đầy 100% diện tích đất sản xuất; cụm
14
công nghiệp Tân An 2 (56,25ha) đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết, đã đăng ký
đầu tư trên 1/3 diện tích, cụm công nghiệp Thành Nhất (40,33ha) đang phê duyệt
quy hoạch chi tiết.
- Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống nhất là dệt thổ cẩm
được chú trọng phục hồi và phát triển.
NHÀ MÁY BIA SÀI GÒN ĐẮK LẮK
NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN BUÔN KUỐP
Hình ảnh 2: Nhà máy bia Sài Gòn và Nhà máy Thủy điện buôn Kuốp tại Đắk Lắk
1.1.2.2. Sản xuất nông nghiệp
Đạt mức tăng trưởng bình quân 1,1%/năm. Năm 2016 tổng sản lượng
lương thực đạt 7.302 tấn. Năng suất lúa nước bình quân đạt 6,64 tấn/ha; năng suất
cà phê đạt 2,3 tấn/ha. Chăn nuôi cũng phát triển nhất là heo, gia cầm. Trồng và
bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ trước, 8 năm qua trồng mới được 288 ha rừng.
1.2.2.3. Dịch vụ, hoạt động dịch vụ
- Rất phong phú, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân, tổng mức lưu
chuyển hàng hóa bán lẻ tăng bình quân 20%/năm, mạng lưới chợ được bố trí đều đặn
15
kết với trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh và Thành phố đào tạo cán bộ không
chỉ cho Đắk Lắk mà cho cả Tây Nguyên. Hệ thống giáo dục cao đẳng - Trung cấp,
đa ngành, đa lĩnh vực đảm bảo cung cấp nhân lực cho nền kinh tế - xã hội của Đắk
Lắk - Đắk Nông.
1.1.3.3. Y tế
Hình ảnh 4: Bệnh vện Đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột
17
- Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân
được nâng lên rõ rệt. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, công
tác y tế dự phòng có hiệu quả, chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch
bệnh, nhiều năm liền không xảy ra dịch bệnh.
- Trên địa bàn Thành phố có 06 bệnh viện với tổng số giường bệnh 1.200,
100% trạm y tế có bác sĩ, 85% phường, xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế.
- Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực y tế đạt kết quả như: Y học cổ truyền và
Dịch vụ Y tế tư nhân phát triển (đã có bệnh viện tư nhân) góp phần nâng cao chất
lượng khám chữa bệnh không chỉ cho nhân dân Đắk Lắk mà còn một phần của Đắk
Nông và một số tỉnh ở Campuchia.
Nhìn chung, tình hình hoạt động của chức sắc, tín đồ thuộc các tôn giáo trên
địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột trong những năm qua diễn ra bình thường. Các
nhu cầu tôn giáo đã được chính quyền các cấp xem xét, giải quyết kịp thời đúng
theo quy định. Đại bộ phận chức sắc và tín đồ các tôn giáo tin tưởng chấp hành
đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước “Sống tốt đời, đẹp đạo”,
làm tốt công tác từ thiện, nhân đạo xã hội, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, giữ vững ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn.
1.2. Hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng quyền hạn, nhiệm vụ của Phòng
người có công
và bảo trợ xã hội
và đào tạo nghề
Hình: Sơ đồ bộ máy tổ chức Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, có chức năng tham mưu, giúp UBND
thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực: lao động; việc làm;
dạy nghề; tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; an toàn lao
động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; phòng, chống tệ nạn
xã hội; bình đẳng giới (gọi chung các lĩnh vực trên là lao động, người có công và xã
hội); thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND thành phố
và theo quy định của pháp luật.
1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức viên chức và lao động
Tổng số cán bộ, công chức phòng Lao động - Thương binh và Xã hội 15
người, trong đó 07 nam, 08 nữ. Biên chế 11 người (hợp đồng 04 người). Về chất
lượng cán bộ, công chức:
- Đảng viên: 12/15 đồng chí.
- Độ tuổi từ 22-30 tuổi: 02 đồng chí, chiếm: 13.3%; Từ 31-40 tuổi: 08 đồng
chí, chiếm: 53.3%; Từ 41 tuổi trở lên 05 đồng chí, chiếm 33.4%.
Bảng 1.3: Cán bộ công chức, người lao động của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột
Giới tính
TT Họ và tên
1
Đại học
20
3
Nguyễn Tiến Cường
X
P.trưởng phòng
Đại học
12
4
Bùi Thị Phương Thảo
X
Đại học
09
5
Nguyễn Thị Kim Loan
22
8
Vũ Thị Nguyệt
X
Chuyên viên
Đại học
Cao đẳng
9
Nguyễn Thị Hợi
X
Chuyên viên
Đại học
19
10
Phạm Thị Huệ
X
13
Hoàng Văn Sáng
X
Chuyên viên
Đại học
02
14
Nguyễn Thành Đạt
X
Chuyên viên
Đại học
03
15
H’ Thủy Niê
X
Sự đoàn kết, thống nhất phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chính trị được
giao của toàn thể cán bộ, đảng viên cơ quan; số đảng viên là cán bộ lãnh đạo đã được
đào tạo cơ bản, có trình độ, phát huy năng lực tốt; không ngừng học tập các Nghị
quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, nên việc triển khai và
thực hiện nhiệm vụ của Chi bộ khá tốt và kịp thời.
Đội ngũ cán bộ, công chức ổn định, có trình độ chuyên môn, có nhiều kinh
nghiệm trong công tác, luôn sáng tạo, tìm tòi nghiên cứu để không ngừng nâng cao
trình độ, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Được sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy, HĐND, UBND và sự hướng dẫn của
UBMTTQ, các Ban ngành, Đoàn thể của Thành phố, cùng với tinh thần đoàn kết thống
nhất của Cấp ủy, Ban công tác Mặt trận, sự đồng thuận của Nhân dân ra sức thi đua lao
động sản xuất, thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - Văn hóa - Xã hội, giữ vững
An ninh Quốc phòng, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, góp phần hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết của Đảng bộ đề ra.
Trong năm vừa qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ
Thành ủy, giám sát của HĐND Thành phố, sự quản lý, điều hành của UBND Thành phố
và hướng dẫn của sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh cùng với sự nỗ lực phấn đấu
của tập thể cán bộ, công chức và phối hợp của các phòng, ban, ngành đoàn thể từ thành
phố đến các xã, phường nên đã đạt được kết quả khá tốt; các chỉ tiêu đều đạt và vượt
theo Nghị quyết đề ra, thực hiện Pháp lệnh đạt kết quả tốt; công tác chính sách đối với
người có công được triển khai thực hiện chu đáo, chi trả trợ cấp kịp thời, đảm bảo đúng
thời gian, đúng chế độ, đúng đối tượng; triển khai thực hiện tốt công tác xây dựng nhà
tình nghĩa, hỗ trợ xây dựng nhà cho các đối tượng chính sách; công tác vận động quỹ
Đền ơn đáp nghĩa vượt kế hoạch hàng năm; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề
21
ngắn hạn miễn phí cho lao động nghèo, lao động thuộc gia đình chính sách đạt và vượt
chỉ tiêu hàng năm; thực hiện tốt công tác chăm lo giúp đỡ đời sống, vật chất, tinh thần,
Từ thời xa xưa ông cha ta luôn mang trong mình một dòng máu anh hùng,
một dòng máu yêu nước, chúng ta không thể phủ nhận điều đó được, vì nhân
chứng lịch sử đã nói lên tất cả, các trang sách còn thơm mùi công lao to lớn của
các anh hùng, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp, đó
cũng chính là 2 cuộc kháng chiến đã để lại sự mất mát to lớn nhất cho toàn dân
tộc ta. Càng trân trọng ghi ơn và tự hào về những thành quả cách mạng mà các
thế hệ cha anh đi trước đã lập nên bàng mồ hôi, xương máu và trí tuệ. Mỗi
người chúng ta cần ghi nhớ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và càng phải ra sức
học tập, công tác lao động sản xuất với hiệu quả chất lượng cao nhất để xứng
đáng với truyền thống quê hương Buôn Ma Thuột anh hùng.
Chiến tranh đã đẩy lùi vào quá khứ, lịch sử mãi mãi trường tồn theo thời
gian, những chiến công vĩ đại của quân và dân thành phố Buôn Ma Thuột (Thị
xã Buôn Ma Thuột) mãi mãi in đậm trong lịch sử sáng ngồi của dân tộc Việt
Nam. Đó là niềm tự hào của mỗi chúng ta hôm nay và là hành trang cho các thế
hệ con cháu muôn đời mai sau.
2.1.1. Quy mô của đối tượng là bệnh binh
23
Được nghiên cứu trong phạm vi 21 xã, phường thuộc thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/ 2013 Hướng dẫn Pháp lệnh ưu
đãi người có công với cách mạng
Theo thông tư 05/2013/TT- BLĐTBXH ngày 15/5/ 2013 của Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực
hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân.
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của
tỉnh Đắk Lắk, có 13 phường, 8 xã với 248 thôn, buôn, tổ dân phố, với tổng dân
số trên 360 ngàn người. Hiện nay thành phố đang quản lý trên 10 ngàn đối
10
3.5%
3
Phường Tân An
17
6.0%
4
Phường Thống Nhất
3
1.1%
5
Phường Thành Nhất
16
5.6%
6
24
8.4%
10
Phường Tân Tiến
7
2.4%
11
Phường Tự An
17
6.0%
12
Phường Ea Tam
16
5.6%
13
17
Xã Hòa Thắng
14
5.0%
18
Xã Ea Kao
19
6.6%
19
Xã Hòa Phú
16
5.6%
20
Xã Hòa Khánh
10