Vốn xã hội trong sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người ê đê ở xã ea tu, thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk - Pdf 42

LÊ THỊ HỒNG GÁI

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HỒNG GÁI

XÃ HỘI HỌC

VỐN XÃ HỘI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI Ê – ĐÊ Ở XÃ EA TU,
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
KHÓA VI- ĐỢT I/2015
HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HỒNG GÁI

VỐN XÃ HỘI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI Ê – ĐÊ Ở XÃ EA TU,
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01.

các kiến thức, kỹ năng nghiên cứu để tôi có thể thực hiện nghiên cứu này.
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Lãnh đạo Viện Khoa học xã hội vùng
Tây Nguyên, sự chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị, bạn bè đồng nghiệp đã
giúp cho tôi thực hiện luận văn này một cách thuận lợi.
Cuối cùng, cảm ơn các cô, chú, bác anh chị, làm việc tại UBND xã Ea Tu,
các bác trưởng, phó buôn, trưởng các Đoàn thể và toàn thể người dân ở buôn Ju và
buôn Ea Nao A đã chia sẻ, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2016
Người thực hiện

Lê Thị Hồng Gái


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ........................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 14
4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu ........................................................ 15
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................................. 15
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .......................................................... 19
7. Cơ cấu của luận văn............................................................................................ 20
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................................. 21
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 21
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sản xuất nông nghiệp xã Ea
Tu……….. .............................................................................................................29
1.3. Tiểu kết ........................................................................................................... 33
Chương 2. SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI Ê-ĐÊ ..................................................................... 35
2.1. Loại hình mạng lưới xã hội của hộ gia đình .................................................. 35

THCS
THPT
Tr.
UBND
VXH

Viết đầy đủ
Chính sách xã hội
Mạng lưới xã hội
Phỏng vấn sâu
Trình độ học vấn
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trang
Ủy ban Nhân dân
Vốn xã hội


DANH MỤC BẢNG
Bảng
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10

Trang
37
39
41
44
46
47
48
48
49
56
68
70
75


DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP
Tên biểu đồ, hộp

Biểu đồ, hộp

Trang

Sử dụng mạng lưới xã hội trong tư vấn hoạt động
Biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.2

sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình
Sử dụng mạng lưới xã hội trong hoạt động vay
vốn của hộ gia đình

Sử dụng mạng lưới xã hội trong tư vấn hoạt động
sản xuất nông nghiệp

51

Sự hỗ trợ về vốn của Hội Nông dân và hội Phụ nữ
buôn Ju

54

Mạng lưới xã hội trong khâu chọn giống, gieo
trồng và chăm sóc

57

Hộp 2.4

Mạng lưới xã hội trong khâu thu hoạch

61

Hộp 2.5

Mạng lưới xã hội trong khâu tiêu thụ sản phẩm

62

Hộp 2.6

Hộp 3.1

85% tỷ trọng kinh tế toàn xã [38].
Người Ê-đê ở Ea Tu từ truyền thống đến nay vẫn duy trì nền sản xuất nông
nghiệp, tuy nhiên đã có sự chuyển biến về cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với nền
kinh thị trường hiện nay. Là xã hội nông nghiệp, đề cao tính cộng đồng trong ứng
xử, các mối quan hệ của họ gắn với gia đình, dòng họ, cộng đồng. Tuy nhiên, hiện
nay, quá trình di cư của các các lớp người từ nơi khác đến cùng với sự tác động của
kinh tế thị trường,… đã có tác động rất lớn đối với họ cả về kinh tế, văn hóa và xã
hội. Với một nền kinh tế thị trường đầy biến động và trước những biến đổi mạnh mẽ
về kinh tế, xã hội trong thập kỷ qua, người Ê-đê đang đứng trước nhiều thách thức
cũng như những cơ hội trong quá trình phát triển kinh tế. Chính vì vậy, họ cần thiết
phải tạo ra những nguồn lực hỗ trợ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình.

1


Trước đây, nguồn vốn chủ yếu trong các hoạt động kinh tế là vốn vật chất và vốn tài
chính. Tuy nhiên, hiện nay, trong nền kinh tế thị trường người ta thấy cần thiết phải
có thêm những nguồn vốn khác như: VXH, vốn con người, vốn văn hóa,… trong quá
trình sản xuất, trong đó, VXH ngày càng có vai trò quan trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp hộ gia đình.
VXH ở người Ê-đê là các mối quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng làng; các
tổ chức xã hội và các quan hệ xã hội mà họ có, bên cạnh đó là lòng tin, là chuẩn mực
mà các cá nhân thể hiện trong các mối quan hệ của họ cũng như quá trình mà họ tham
gia vào các hoạt động xã hội. Vấn đề đặt ra là: Người Ê-đê đã sử dụng VXH như thế
nào trong quá trình phát triển kinh tế? Việc sử dụng VXH có tác động gì trong hoạt
động sản xuất nông nghiệp của họ? Là những câu hỏi cần có lời giải đáp.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về VXH và
cũng có rất nhiều nghiên cứu về dân tộc Ê-đê ở Đắk Lắk, song nghiên cứu chuyên
sâu về VXH trong cộng đồng người Ê-đê nói riêng và VXH trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số nói chung còn vắng bóng. Vì vậy, nghiên cứu này của chúng tôi

mà anh ta có thể huy động được trong thực tế” [26, tr.50]. Hạn chế của Bourdieu là
ông nhấn mạnh đến VXH của một cá nhân chứ không đề cập đến VXH của gia đình
hay cộng đồng.
Năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ Coleman đưa ra một cách định nghĩa về
VXH khác với Bourdieu, ông hiểu VXH bao gồm các đặc trưng trong đời sống xã
hội như sau: các MLXH (social network), các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy
trong xã hội (social trust) - là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động
chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung [26, tr.51]. Năm
1995, Putnam đã lặp lại ý tưởng của Coleman và đưa ra định nghĩa trong nghiên
cứu Chơi Bowling một mình (Bowling Alone): Hiểu một cách tương tự như vốn vật
thể và vốn con người, VXH nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội
như các MLXH, các chuẩn mực và sự tin cậy xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương” [26, tr.52].
Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh đến VXH với tư cách là một tài sản
của mỗi cá nhân, bỏ qua tính cộng đồng thì ngược lại Coleman và Putnam lại hiểu
VXH như là một thứ tài sản chung của cả cộng đồng hay xã hội mà bỏ quên những
nỗ lực của cá nhân.

3


Bên cạnh các nghiên cứu lý thuyết trên, khá nhiều các nghiên cứu khác đề cập
đến vai trò của VXH đối với kinh tế và đời sống con người. Vai trò của VXH trong
phát triển kinh tế được khẳng định bởi Woolcock (1998) qua nghiên cứu Vốn xã hội
và phát triển kinh tế: Hướng tới sự tổng hợp một lý thuyết và khung chính sách. Tác
giả này nhấn mạnh VXH có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực nhằm
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu Nguồn vốn xã hội và phát triển kinh tế của
Patrick Francois (2010) đã phân tích những vấn đề lý thuyết về VXH và phát triển kinh
tế, mối quan hệ giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau,
những vấn đề lý luận liên quan đến niềm tin, uy tín, sự đoàn kết trong nội bộ doanh

người, kinh tế, xã hội trong nhiều bối cảnh khác nhau. Tuy nhiên, ông chưa nghiên
cứu sâu về sự áp dụng VXH vào các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình.
Về mặt phương pháp: Trần Hữu Quang cho rằng, vì tính chất tổng hợp và
phức tạp của khái niệm này nên khó lòng đo lường hay định lượng hóa được VXH
mà chỉ có thể đề cập đến nó về mặt định tính. Tuy vậy, vẫn có thể đo lường và định
lượng những biểu hiện bên ngoài của nó như sự tin cậy, sự hợp tác, sự tham gia
vào các hội đoàn và MLXH [26].
Tóm lại, những nghiên cứu trên cũng tập trung đã đưa ra những quan điểm, lý
thuyết, khái niệm VXH và vai trò của VXH trong phát triển kinh tế, sức khỏe, xóa
đói giảm nghèo và đời sống xã hội của con người.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, kể từ đầu những năm 2000, giới nghiên cứu đã bắt đầu chú ý
đến VXH như một yếu tố cho phát triển và được nghiên cứu rầm rộ trong những
năm gần đây. Các nghiên cứu được thể hiện chủ yếu dưới dạng các bài báo, bài viết
đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các webside, các luận văn, luận án, các
công trình nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu trường hợp nhỏ chứ hầu như chưa có
nghiên cứu tổng quan, bao trùm về vấn đề này.
Đến nay, có thể chia các nghiên cứu về VXH trong nước thành 2 nhóm. Nhóm
thứ nhất, quan tâm đến việc tổng kết, giới thiệu lý thuyết về VXH và nhóm thứ hai, tập
trung vận dụng lý thuyết VXH trong các nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam.
2.2.1. Các nghiên cứu về lý thuyết, khái niệm vốn xã hội

5


Các nghiên cứu tập trung nhiều đến việc đưa ra các quan điểm khác nhau về
khái niệm VXH của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó, đưa ra đánh giá, kết luận
của bản thân về vấn đề đó.
Điển hình cho những nghiên cứu lý thuyết giai đoạn khởi nguyên là Trần
Hữu Dũng (2003) trong nghiên cứu này, ông đã tổng kết lại các khái niệm VXH của

Nam chủ yếu được dựa trên cơ sở lý luận, những sự kiện trong lịch sử và những nhận
xét về các quan sát hiện thực trong cuộc sống. Nhiều tác giả khác như Nguyễn Đăng
Doanh, Trần Kiêm Đoàn, Nguyễn Trung, Thái Kim Lai, Đoàn Khắc Xuyên,… đều có
những nhận định về VXH và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế dưới góc nhìn từ
thực tiễn Việt Nam.
Trần Hữu Quang (2006) trong Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội cũng dựa trên
cách định nghĩa của các tác giả kinh điển như Piere Buordieu, James Coleman,
Robert Putnam,… để giải nghĩa VXH và theo ông, VXH thường được định nghĩa
xoay quanh ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau là: khả năng làm việc chung với
nhau; sự tin cậy giữa con người với nhau và các MLXH. Sau đó, ông cũng đi vào
phân tích các kích thước văn hóa và định chế của VXH và cho rằng mỗi xã hội có
những kiểu liên kết đặc thù giữa con người với con người, do đó mỗi xã hội có thể
có một kiểu VXH riêng biệt, không giống với VXH ở các xã hội khác [24].
Trong mấy năm gần đây, các nghiên cứu lý thuyết vẫn tiếp tục được đem ra
mổ xẻ, bàn luận. Nguyễn Tuấn Anh (2011) đã lược sử những quan điểm khác nhau
về VXH và cho rằng, sự bất đồng giữa các quan điểm về VXH bên cạnh thuận lợi
nó cũng tạo ra những khó khăn trong việc thao tác và ứng dụng vào nghiên cứu thực
tiễn. Tác giả cũng đã chỉ ra tác động hai chiều của nguồn vốn này đến con người,
đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng điểm qua một số
nghiên cứu ở Việt Nam và đưa ra một số vấn đề cần quan tâm, lưu ý khi nghiên cứu
VXH ở Việt Nam [6]. Mới đây nhất là cuốn sách Lòng tin và vốn xã hội (2014)
được xuất bản là sự tổng hợp các bài viết của nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về
VXH như: Trần Hữu Quang quan tâm đến thành tố lòng tin; Lê Minh Tiến quan tâm
đến vấn đề đo lường; Lương Văn Hy đề cập đến dòng quà tặng - một trong những
hình thức đầu tư, duy trì VXH phổ biến trong xã hội Việt Nam đương; Nguyễn Đức
Lộc đề cập đến vai trò của mạng lưới thân thuộc trong ứng phó với rủi ro của công
nhân,… Tóm lại, các bài viết đều quan tâm đến việc phân tích và đo lường khái

7


8


Lê Ngọc Hùng cũng là người có nhiều nghiên cứu về VXH trong giai đoạn
đầu, trong một nghiên cứu của ông vào năm 2003, đã đề cập đến lý thuyết và
phương pháp tiếp cận MLXH trong tìm kiếm việc làm của sinh viên. Theo tác giả,
nên sử dụng lý thuyết tương tác xã hội của Georg Simmel, thuyết cấu trúc - chức
năng của Emile Durkheim,... và có thể kết hợp 2 phương pháp định tính và định
lượng trong nghiên cứu. Ở một nghiên cứu khác, ông đã đưa ra mô hình tổng hợp về
VXH, vốn con người và MLXH qua một số nghiên cứu thực tiễn; những phát hiện về
nó qua việc áp dụng trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên đồng thời gợi mở một
số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ở Việt Nam [18], [19].
Khẳng định VXH là động lực phát triển đặc biệt là về kinh tế, Trịnh Hoà
Bình (2007) đã chỉ ra những thuộc tính của VXH, khẳng định vai trò của VXH
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bằng những phân tích từ lịch sử đến hiện
tại, bài viết khẳng định khái niệm VXH có nội hàm rộng, bao chứa nhiều vấn đề cho
đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong bài viết của mình, ông khẳng định,
VXH là nguồn lực, còn hơn thế - là động lực để phát triển xã hội [9]. Trong một
nghiên cứu của Ngô Đức Thịnh (2008) dưới góc độ văn hóa, ông cho rằng môi
trường họ hàng thân tộc và làng - xã mãi trường tồn trong xã hội nông thôn Việt
Nam ở cả hiện tại và tương lai, tức là khẳng định vai trò của mạng lưới gia đình dòng họ - cộng đồng trong đời sống và trong phát triển kinh tế. Tuy vậy, tác giả
cũng chỉ ra được mặt hạn chế của mạng lưới này ở nông thôn như tính cục bộ, sự
ganh đua, thiếu sự bứt phá,… và những điều này làm kìm hãm sự phát triển [31].
Hoàng Bá Thịnh (2009) bên cạnh việc nêu rõ chức năng, tầm quan trọng của VXH
trong cộng đồng thì tác giả còn tập trung phân tích những “phí tổn” trong việc duy
trì MLXH và VXH [30].
Nguyễn Thị Minh Phương (2011) qua nghiên cứu định tính và định lượng
cũng bàn về VXH ở một cộng đồng nông thôn và kết quả nghiên cứu cho thấy:
VXH chưa thực sự phát huy được thế mạnh như vốn có, chưa chuyển hóa được
thành các nguồn lực để có thể sinh lợi. Theo tác giả “nếu nhìn theo góc độ tình cảm

trong nghiên cứu Vốn xã hội trong phát triển ngành nghề phục vụ xây dựng nông
thôn mới qua kết quả điều tra, khảo sát kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
trên phạm vi cả nước đã khẳng định vai trò quan trọng của VXH trong việc phát triển
các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam và gắn nó với việc huy động cho

10


quá trình xây dựng nông thôn mới [33]. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ giới
hạn nghiên cứu với khách thể là các doanh nghiệp, với ngành nghề phi nông nghiệp
chứ chưa đề cập đến vai trò của VXH đối với những người sản xuất nông nghiệp ở
khu vực nông thôn.
Quan tâm đến vai trò của VXH đối với sinh kế của người dân ở đô thị, bài
viết của Nguyễn Duy Thắng (2007) đã chỉ ra được thực trạng sử dụng những
MLXH, uy tín của những mối quan hệ cá nhân trong chiến lược sinh kế của các cư
dân ven đô trước ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa [32]. Tác giả Nguyễn
Thị Bích Thủy (2015) lại hướng đến một khách thể khác là những người nhập cư một trong những đối tượng đặc thù ở các đô thị hiện nay là điểm mới ấn tượng.
Nghiên cứu đã phân tích rõ vai trò của VXH với người nhập cư từ khi có ý định di
cư đến khi tìm việc việc làm, chỗ ở tại nơi ở mới và cách thức mà họ xây dựng, phát
triển các quan hệ xã hội của họ. Lòng tin và sự có đi - có lại được nhấn mạnh trong
nghiên cứu này và tác giả cho rằng nó là rường cột để phát triển các MLXH hay
VXH với người nhập cư [35].
Trịnh Thị Ngọc Diệp (2014) qua nghiên cứu định tính và định lượng đã có
điểm nhấn mới trong nghiên cứu về VXH khi quan tâm đến vai trò của nguồn vốn
này đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ. Theo đó, tác giả đã phân tích thực
trạng sử dụng VXH; những tác động tích cực và tác động tiêu cực của VXH cũng
như những yếu tố tác động đến VXH của nguồn nhân lực trẻ ở Nghệ An. Hạn chế
của nghiên cứu này là chỉ nghiên cứu nguồn nhân lực trẻ làm việc ở khu vực Nhà
nước tại đô thị chứ chưa quan tâm đến nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn - một trong
những nguồn cung lao động lớn [12].

dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã vận dụng triệt để VXH bao gồm: các tổ
chức xã hội quan phương; các tổ chức xã hội và MLXH phi quan phương được thiết
lập dựa trên sự tin cậy và quan hệ có đi - có lại từ hai phía vào các hoạt động
chuyển đổi sinh kế và cho rằng những tổ chức này có vai trò rất lớn trong hoạt động
sản xuất của người dân [20].
Khúc Thị Thanh Vân là tác giả có nhiều nghiên cứu khá sâu sắc về lĩnh vực
này. Trong bối cảnh các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đang có sự chuyển biến mạnh mẽ
về cơ cấu kinh tế, tác giả đã khẳng định VXH có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
và thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển, trong đó có hoạt động sản xuất nông

12


nghiệp. Tác giả khẳng định, các quan hệ xã hội và MLXH là thành tố quan trọng
của VXH, bên cạnh vốn “đóng” (trong phạm vi cộng đồng) thì vốn “mở” (các mối
quan hệ ngoài cộng đồng) có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa
bàn nghiên cứu [45]; [46].
Nguyễn Đức Chiện (2015) thông qua nghiên cứu định tính cũng đã góp phần
nhận diện loại hình MLXH, nhận diện về sự liên kết MLXH trong phát triển kinh tế
của các nhóm hộ gia đình ở nông thôn, trong đó lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Tác
giả cũng đưa ra một số bàn luận về liên kết mạng lưới trong phát triển kinh tế hộ gia
đình trong bối cảnh nông thôn đồng bằng sông Hồng đang chuyển đổi nhanh và
ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng [10]. Cùng bàn về MLXH, Lê Hữu Phước
(2016) qua nghiên cứu định tính đã bàn về MLXH đối với việc sản xuất, kinh doanh
của các hộ trang trại ở nông thôn Tây Nguyên. Tác giả đã khảo tả về MLXH và việc
vận dụng mạng lưới đó vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các hộ trang trại. Kết
quả cho thấy, bên cạnh những tác động tích cực nhờ vào các mối quan hệ đan xen,
hỗn hợp thì cũng có những tác động tiêu cực do mối quan hệ khép kín của buôn
làng mang lại và làm kìm hãm sự phát triển. Điểm đặc biệt trong nghiên cứu này là
tác giả đã đề cập đến sự khác biệt trong vận dụng MLXH giữa các dân tộc và cho

Luận văn sẽ tập trung nhận diện VXH của hộ gia đình người Ê-đê tại địa bàn nghiên
cứu và việc sử dụng nguồn vốn này vào hoạt động sản xuất nông nghiệp của họ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhận diện các loại hình VXH và việc sử dụng chúng trong sản xuất nông
nghiệp của hộ gia đình người Ê-đê, trên cơ sở đó đánh giá tác động của VXH đến
sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người Ê-đê trên địa bàn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận của luận văn: làm rõ các khái niệm chủ chốt và lý
thuyết áp dụng trong luận văn.
- Tìm hiểu các loại hình VXH và việc sử dụng VXH trong sản xuất nông
nghiệp của hộ gia đình người Ê-đê.
- Phân tích tác động tích cực và tiêu cực của VXH đến sản xuất nông nghiệp;
liên kết mạnh và liên kết yếu trong các nhóm hộ gia đình người Ê-đê trên địa bàn.

14


4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu về VXH trong sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình
người Ê-đê.
Khách thể: Các nhóm hộ gia đình người Ê-đê tại xã Ea Tu, thành phố Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại địa bàn xã Ea Tu, thành phố Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian: Để tìm hiểu các hoạt động kinh tế nông nghiệp của các hộ
gia đình người Ê-đê, chúng tôi nghiên cứu, cập nhật các số liệu từ năm 2015 đến

- VXH có tác động tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo sự gắn kết, chia
sẻ giữa các thành viên đồng thời cũng có những tác động tiêu cực làm kìm hãm sự
phát triển sản xuất, gây mâu thuẫn, sự phân hóa trong cộng đồng.
5.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phân tích tài liệu: Luận văn sưu tầm và đọc các tài liệu, các tạp chí, sách
chuyên khảo, các đề tài nghiên cứu về VXH, về người Ê-đê ở địa phương. Đồng
thời chúng tôi cũng thu thập các tài liệu thứ cấp từ địa phương liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước, những số liệu thứ cấp tại địa bàn
giúp tác giả có những gợi mở cho vấn đề nghiên cứu của mình.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng sẽ tiếp tục tìm tòi, cập nhật
những nghiên cứu về VXH để tham khảo, học hỏi, tiếp tục bổ sung vào nghiên cứu
những kiến thức về lý luận và thực tiễn về VXH. Tác giả cũng ý thức được việc so
sánh, đối chiếu những nhận định, kết luận rút ra từ nghiên cứu so với kết quả của
các nghiên cứu khác.
- Nghiên cứu định tính và định lượng: Chúng tôi sử dụng kết hợp phương
pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập thông tin phục vụ mục tiêu
nghiên cứu.
Người Ê-đê ở xã Ea Tu cư trú ở 6 buôn là: buôn Ea Nao A, buôn Ea Nao B,
buôn Kô Tam, buôn Ju, buôn Krông A, buôn Krông B. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện đề tài, do hạn chế về thời gian, kinh phí, nhân lực,… chúng tôi không tiến

16


hành khảo sát ở cả 6 buôn này mà chỉ chọn điểm 2 buôn để nghiên cứu bởi người Êđê khá đồng nhất về môi trường cư trú, tổ chức xã hội cũng như cách thức sản xuất.
Tiêu chí chọn buôn nghiên cứu dựa vào vào mức độ cư trú xen cư giữa người Ê-đê
với các dân tộc khác trên địa bàn. Theo đó, chúng tôi chọn buôn Ea Nao A người Ê-đê chiếm 87,3% (158 hộ) tổng dân số toàn buôn và buôn Ju - là buôn có
sự xen cư với các dân tộc khác, trong đó, người Ê-đê chiếm 55,7% (329 hộ) tổng
dân số toàn buôn. Hai buôn này, các hộ gia đình người Ê-đê 100% là sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status