VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HỒNG GÁI
VỐN XÃ HỘI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI Ê-ĐÊ Ở XÃ EA TU,
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC CHIỆN
Phản biện 1: ........................................:..............................
............................................................................
Phản biện 2: .......................................................................
............................................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội..............giờ.....ngày.....tháng ....năm....
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách giữa người Ê-đê với các nhóm
dân cư khác trên địa bàn.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Vốn xã hội
trong sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người Ê-đê ở xã Ea
Tu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Nghiên cứu ngoài nước
Những nghiên cứu khởi nguồn về lý thuyết, khái niệm các
quan điểm khác nhau về VXH mà sau này chúng ta kế thừa, làm nền
tảng cho các nghiên cứu về VXH không thể không kể đến Bourdieu,
Coleman; Putnam, Fukuyama,… Dưới đây là một số các quan điểm
của các tác giả dẫn theo nghiên cứu của Trần Hữu Quang (2014).
Trong nghiên cứu của mình vào năm 1980, Bourdieu đã du
nhập khái niệm vốn (capital) của lĩnh vực kinh tế vào lĩnh vực xã hội
học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau
trong không gian xã hội. Ngoài vốn kinh tế, ông còn phân biệt thêm
ba loại vốn nữa là vốn văn hóa, vốn xã hội và vốn biểu tượng. Hạn
chế của Bourdieu là ông nhấn mạnh đến VXH của một cá nhân chứ
không đề cập đến VXH của gia đình hay cộng đồng.
Năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ Coleman đưa ra một cách
định nghĩa về VXH khác với Bourdieu, ông hiểu VXH bao gồm các
đặc trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội (social
network), các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social
trust) - là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung
với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung.
Alejandro Portes (2003) qua nghiên cứu Vốn xã hội: nguồn
gốc và những áp dụng trong xã hội học hiện đại đã chỉ ra nguồn gốc
2
Gần đây nhất, Nguyễn Quý Thanh và cộng sự đã lần lượt đưa ra 2
công trình nghiên cứu khá tổng quát của mình cả về lý thuyết và liên hệ
thực tiễn về VXH. Tuy mới chỉ tiếp cận bước đầu nhưng nghiên cứu đã
chỉ ra rằng, đối với các DTTS thì quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng
là chủ yếu và quan trọng nhất trong mạng lưới xã hội của họ. Đồng thời,
lòng tin và sự tham gia xã hội như là giải pháp nhằm duy trì, củng cố và
phát triển VXH trong cộng đồng các DTTS. Đây là tư liệu quý giá cho
chúng tôi trong nghiên cứu này cũng như tiếp cận về VXH dưới góc độ
tộc người.
2.1.2. Vận dụng lý thuyết vốn xã hội trong các hướng nghiên cứu
thực nghiệm
Nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh (1998) là một trong những
người có nghiên cứu khá sớm về VXH qua một nghiên cứu về MLXH
trong di cư.Thông qua kết quả nghiên cứu định lượng đã cho thấy tác
động của MLXH đến người di cư thể hiện ở quyết định lựa chọn nơi
chuyển đến và hình thức trợ giúp về kinh tế của mạng lưới xã hội.
Lê Ngọc Hùng (2008) đã đưa ra mô hình tổng hợp về VXH, vốn
con người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu thực tiễn; những
phát hiện về VXH, vốn con người và mạng lưới xã hội; đưa ra dẫn
chứng về mạng lưới xã hội truyền thống và mạng lưới xã hội hỗn hợp
trong trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên; gợi mở một số vấn đề
cần tiếp tục nghiên cứu ở Việt Nam.
Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2015) cho thấy vai trò của các mạng lưới
xã hội mà cụ thể là các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nhóm tự nguyện,
bạn bè, gia đình,… là đầu mối quan trọng trong việc chuyển đổi nghề
nghiệp của mỗi cá nhân. Tác giả cũng phân tích khá rõ những yếu tố tác
động đến VXH của các cá nhân trong bối cảnh nông buôn đồng bằng
5
tác động của VXH đến sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình người
Ê-đê trên địa bàn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận của luận văn: làm rõ các khái niệm chủ
chốt và lý thuyết áp dụng trong luận văn.
- Tìm hiểu các loại hình VXH và việc sử dụng VXH trong sản
xuất nông nghiệp của hộ gia đình người Ê-đê.
- Phân tích tác động tích cực và tiêu cực của VXH đến sản xuất
nông nghiệp; liên kết mạnh và liên kết yếu trong các nhómhộ gia
đình người Ê-đê trên địa bàn.
4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu về VXH trong sản xuất nông nghiệp
của hộ gia đình người Ê-đê. Khách thể: Người Ê-đê.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại địa bàn xã Ea Tu, thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian: Để tìm hiểu các hoạt động kinh tế nông
nghiệp của các hộ gia đìnhngười Ê-đê, chúng tôi nghiên cứu, cập
nhật các số liệu từ năm 2015 đến giữa năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác để tìm hiểu, nhận thức
các vấn đề nghiên cứu. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp luận xã
hội học để tiếp cận, tìm hiểu và lý giải về các loại hình VXH và việc
tác động tiêu cực làm kìm hãm sự phát triển sản xuất, gây mâu thuẫn,
sự phân hóa trong cộng đồng. Bên cạnh đó, các hộ gia đình người Êđê có liên kết mạnh với các quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng,…
và liên kết yếu với các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề
nghiệp, hội cùng sở thích, các đại lý mua/bán,…
5.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
sau:
Phân tích tài liệu: Luận văn sưu tầm và đọc các tài liệu, các tạp
chí, sách chuyên khảo, các đề tài nghiên cứu về VXH, về người Ê-đê ở
địa phương. Đồng thời chúng tôi cũng thu thập các tài liệu thứ cấp từ địa
phương liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp
phỏng vấn sâu. Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu. Với đề tài này,
chúng tôi dự kiến sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 20 trường hợp, trong đó
sẽ đảm bảo đủ các đối tượng là cán bộ xã, cán bộ ban tự quản của 2
buôn, cán bộ của các tổ chức chính trị - xã hội và người dân ở 2 buôn
làng.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Đề tài sử dụng bảng hỏi
điều tra xã hội học ở xã Ea Tu là 150 hộ, số hộ tương ứng ở 2 buôn
là: buôn Ea Nao A là 72 hộ và buôn Ju 78 hộ. Cơ cấu mẫu đảm bảo
các tiêu chí về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp.
Phương pháp quan sát không tham dự: Phương pháp này giúp
tác giả nhìn nhận, đánh giá vấn đề nghiên cứu bên cạnh làm việc trực
tiếp với khách thể nghiên cứu. Tư liệu chủ yếu là ghi chép và chụp
ảnh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
Vốn xã hội: Với đề tài này, quan tâm nghiên cứu về một cộng
đồng dân tộc thiểu số với nhiều nét đặc thù không gian cư trú, tổ
chức xã hội,… Vì vậy, VXH bao gồm các thành tố sau: 1, MLXH và
sự tham gia vào MLXH; 2, chuẩn mực và quan hệ có đi - có lại; 3,
lòng tin.
Mạng lưới xã hội (social network): MLXH có thể được xem là
một tập hợp các mối quan hệ liên kết, đan xen và bao bọc xung
quanh chủ thể, tạo ra không gian xã hội của chủ thể.
Sự tham gia xã hội: Tham gia xã hội được xem như yếu tố xúc
tác nhằm mở rộng MLXH của cá nhân thông qua việc tham gia càng
nhiều vào các hình thức tổ chức chính thức hoặc phi chính thức, tình
nguyện,…
Lòng tin xã hội (social trust): Lòng tin chính là giá trị xã hội
quan trọng, là sự chấp nhận và cởi mở của cá nhân với các cá
nhân và nhóm xã hội khác.
Chuẩn mực: Là những quy tắc của một tập thể, một cộng đồng
hay một xã hội mà mỗi cá nhân, thành viên buộc phải tuân thủ trong
các hành vi và ứng xử của mình.
Quan hệ có đi - có lại (reciprocity): là một trong những chuẩn
mực phi chính thức và là đặc trưng trong các quan hệ xã hội. Tính
chất này liên quan trực tiếp đến mức VXH khả dụng của cá nhân, khi
họ khai thác, sử dụng hiệu quả các quan hệ xã hội mà họ có.
Hộ gia đình: Theo điều 106, Bộ Luật Dân sự 2005: “Hộ gia
đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để
10
11
mối quan hệ, so sánh vai trò khác nhau giữa hai loại liên kết này để
thấy được hạn chế trong VXH của người Ê-đê là điểm nhấn cần tập
trung làm rõ dưới ánh sáng của lý thuyết MLXH.
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sản xuất
nông nghiệp xã Ea Tu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội
Vị trí địa lý: phía Đông giáp xã Hòa Thuận và huyện Krông
Păc; phía Tây giáp với phường Tân An, Tân Lập; phía Nam giáp với
phường Tân hòa; xã Hòa Đông; phía Bắc giáp với huyện Cư M’gar.
Khí hậu: hàng năm có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa,
mùa khô thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khí hậu
mát lạnh, độ ẩm thấp; Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, khí hậu ẩm
và dịu mát. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50C, lượng mưa hàng
năm khoảng từ 1.900-2.200 mm và tập trung chủ yếu về mùa mưa.
Đất đai: Diện tích đất tự nhiên là: 2.862 ha. Xã Ea Tu có 4 loại
đất chính: đất nâu đỏ trên đá Bazan; đất nâu vàng trên đá Bazan; đất
đỏ vàng trên đá phiến sét và đất dốc tụ thung lũng.
Nước: Diện tích mặt nước ở Ea Tu là 16,2 ha (bao gồm hồ, ao,
sông suối và mặt nước chuyên dùng); đảm bảo nước phục vụ tưới
tiêu cho cây trồng.
Kinh tế: Kinh tế chủ đạo của Ea Tu là sản xuất nông nghiệp.
Cơ cấu kinh tế hiện tại của xã là: nông nghiệp – thương mại, dịch vụ
- tiểu thủ công nghiệp, trong đó, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm
75%, dịch vụ thương mại chiếm 15%, tiểu thủ công nghiệp chiếm
10%.
Về xã hội,
- Dân cư và nguồn lao động: Tính đến tháng 12/2015, toàn xã có
djuê. Con gái là người chủ động trong việc xây dựng gia đình, con
trai khi lập gia đình về sống ở nhà vợ và toàn tâm toàn ý lo lắng cho
13
dòng họ bên vợ mình. Trong hôn lễ, nhà trai thách cưới, nhà gái lo
mọi phí tổn trong hôn lễ.
Người Ê-đê truyền thống thường cư trú trong các ngôi nhà sàn
dài hay còn gọi là các đại gia đình mẫu hệ bao gồm nhiều tiểu gia
đình được chứa đựng trong các đại gia đình đó.
Thực trạng sản xuất nông nghiệp: bao gồm trồng trọt và chăn
nuôi.
Trồng trọt: Người Ê-đê ở Ea Tu, trồng trọt là chủ yếu, với đa dạng
các loại cây trồng như: Cây hàng năm gồm lúa, ngô, khoai, sắn, rau,…
Cây lâu năm gồm: cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả,…
Chăn nuôi: Hiện nay, với sự xâm nhập của nền kinh tế thị trường,
tư duy kinh tế thay đổi, người Ê-đê đã bắt đầu chú trọng chăn nuôi vì mục
đích kinh tế, nhằm cải thiện thu nhập cho gia đình.
1.3. Tiểu kết
Chương này, tác giả đã trình bày: 1, Khái quát về cơ sở lý luận
của đề tài bao gồm: hệ thống các khái niệm cơ sở liên quan đến nội
dung nghiên cứu nhằm làm rõ hơn nội hàm vấn đề nghiên cứu. Trình
bày hai lý thuyết áp dụng trong đề tài là lý thuyết vốn xã hội và lý
thuyết MLXH như là kim chỉ nam dẫn dắt nghiên cứu. 2, Về cơ sở
thực tiễn: chúng tôi đã trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của xã Ea Tu.
Chương 2
SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯỜI Ê-ĐÊ
2.1. Loại hình vốn xã hội của hộ gia đình
- Các tổ chức chính trị - xã hội và sự tham gia
Kết quả khảo sát 150 hộ gia đình ở Ea Tu cho thấy hầu như các
hộ gia đình đều tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội. Chỉ có 9
hộ gia đình không tham gia vào tổ chức nào. Trong đó, hội thu hút sự
15
tham gia đông đảo nhất là Hội Phụ nữ và Hội Nông dân, do vậy, 2 tổ
chức này hoạt động hiệu hơn so với các tổ chức khác.
Các thành viên trong một hộ gia đình có thể là hội viên của các
hội đoàn khác nhau và một thành viên có thể là hội viên của nhiều
đoàn hội. Với những mối quan hệ chằng chéo, mạng lưới quan hệ xã
hội của các hộ gia đình với các tổ chức cũng khá đa dạng.
Bên cạnh các tổ chức chính trị - xã hội trên, các đơn vị sự
nghiệp Nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng và có những mối liên
kết nhất định với các hộ gia đình người Ê-đê đó là Ngân hàng Chính
sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại
địa bàn.
- Các hội/nhóm tự nguyện và sự tham gia của hộ gia đình
Trong đời sống, ngoài các MLXH chính thức, hộ gia đình còn
tham gia vào các MLXH phi chính thức, với những mối quan hệ xã hội
đặc thù. Người Ê-đê tham gia vào nhiều hội nhóm khác nhau như: tổ
chức tôn giáo, tổ liên gia, hội cùng sở thích, hội nghề nghiệp…
Tổ chức tôn giáo: Người Ê-đê ở Ea Tu 90% theo tôn giáo, trong
đó chủ yếu là đạo Tin Lành, một số ít theo đạo Thiên Chúa.
Tổ liên gia: Theo chủ trương chung, mỗi buôn tùy vào số lượng
và diện tích mà chia thành các tổ liên gia cho dễ quản lý. Buôn Ju chia
thành 19 tổ liên gia, buôn Ea Nao A chia thành 5 tổ liên gia. Mỗi tổ đều
có tổ trưởng và tổ phó chịu trách nhiệm quản lý, thông báo các hoạt
động của buôn đến từng hộ gia đình.
giữa TĐHV và việc tham gia vào các nhóm tự nguyện cho các giá trị
sig < 0,05 tức là có ý nghĩa thống kê. Dữ liệu này có thể khẳng định
TĐHV có mối liên hệ với các hội nhóm như: hội nghề nghiệp, nhóm
bạn học, hội cùng sở thích và tổ hùn vốn.
Mức sống hộ gia đình: Kết quả kiểm định Chi-Square về mối
liên hệ này cho thấy các giá trị sig < 0,05 tức là có thể khẳng định
17
mức sống có mối liên hệ với sự tham gia vào các hội, nhóm của các
hộ gia đình. Mức sống càng cao tỷ lệ tham gia vào các hội nhóm
càng cao và ngược lại, nhóm hộ nghèo, tỷ lệ tham gia vào các hội
nhóm thấp hơn so với 2 nhóm còn lại.
Quy mô gia đình: Kết quả kiểm định Chi-Square cho thấy, giá
trị sig
hoạch kịp thời vụ
Thị trường tiêu thụ: Năng lực tiếp cận thị trường của người Êđê ở Ea Tu vẫn còn nhiều hạn chế, họ khá thụ động trong việc tìm
kiếm và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, do những ràng buộc trong hoạt
động khác như vốn, vật tư nông nghiệp nên hầu hết người Ê-đê đều bán
sản phẩm của mình cho một nhà tiêu thụ cố định. Mối liên kết này đơn
19
giản là liên kết dọc giữa các hộ sản xuất với các thương nhân nhỏ
chứ chưa có các mối liên kết ngang hay liên kết mang tính chất bắc
cầu. Thương nhân nhỏ vẫn là nhân tố trung gian cho mạng lưới này.
2.2.2. Chuẩn mực liên kết và sự có đi - có lại
Chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử đã được đề cập đến nhiều
trong luật tục Ê-đê. Bên cạnh đó, hiện nay người Ê-đê hầu hết đều
theo đạo Tin Lành, cách ứng xử của họ cũng bị ảnh hưởng bởi giáo
lý, giáo luật. Chuẩn mực trong các quan hệ còn được biểu hiện ở việc
sẵn sàng giúp đỡ khi hộ gia đình nào đó gặp rủi ro. Qua khảo sát, rủi
ro thường gặp phải nhất trong thời gian qua là tình trạng mất mùa do
hạn hán kéo dài (90%); sự biến động của giá cả thị trường theo xu
hướng “được mùa mất giá, mất mùa được giá” khiến các nông hộ lao
đao (24%), sâu, dịch bệnh (30,2%),...
2.2.3. Lòng tin
Lòng tin vào mối quan hệ gia đình, dòng họ: Dữ liệu thống kê
cho thấy, 100% đều lựa chọn mức độ tin tưởng trở lên đối với mạng
lưới gia đình, dòng họ, cho thấy lòng tin vẫn tuyệt đối. Tuy nhiên, do
tiềm lực có hạn, mối quan hệ này chưa thực sự là nguồn lực đối với
sự phát triển kinh tế của các hộ gia đình và do vậy trong nhiều khâu
của quá trình sản xuất nông nghiệp, họ phải vận dụng các mối quan
hệ bên ngoài.
Lòng tin vào cộng đồng: buôn làng ngày xưa tính cộng đồng
xã hội mà mỗi cá nhân, gia đình người Ê-đê có được đều được coi
như là nguồn lực hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế. Sự tham gia vào
các MLXH khác nhau giúp họ chia sẻ thị trường, trao đổi khoa học
kỹ thuật, các kinh nghiệm sản xuất, liên kết trong sản xuất, vay vốn
hỗ trợ sản xuất và phương tiện lao động dễ dàng hơn. Sự hỗ trợ này
giúp giảm chi phí giao dịch và thời gian tìm hiểu, học hỏi của các cá
nhân, hộ gia đìnhtrong sản xuất.
21
Tác động tiêu cực: Kìm hãm sự phát triển sản xuất, Sự cố kết
chặt chẽ của mạng lưới thân tộc dẫn đến tính cục bộ dòng họ ăn sâu
vào trong tâm thức dẫn đến một số hạn chế nhất định, thiếu tầm nhìn
và đôi khi tạo nên những vấn đề bức xúc không đáng có trong cộng
đồng. MLXH chỉ loanh quanh buôn làng dẫn đến việc trao đổi, chia
sẻ kết nối về thông tin KHKT, thông tin thị trường chỉ trong phạm vi
nhóm mà không hề có sự tương tác, trao đổi đối với những người bên
ngoài. Bên cạnh đó, người Ê-đê sản xuất đơn lẻ hộ gia đình theo kiểu
“mạnh ai nấy làm”, không có sự hợp tác, liên kết hay sự ràng buộc
nào trong sản xuất và do vậy không tạo nên động lực hỗ trợ nhau để
cùng phát triển, vươn lên.
3.2. Liên kết mạnh và liên kết yếu của vốn xã hội đối với các hộ
gia đình
- Quan hệ yếu: Với người Ê-đê thì mối quan hệ này bao gồm:
những người họ hàng ở xa (xã, huyện khác); các nhóm bạn bè như
bạn học, bạn cùng nhóm sở thích, bạn đồng ngũ, người cho vay lãi,
những tổ chức chính thức như Chính quyền địa phương, Ngân
hàng,…
- Quan hệ mạnh: Với người Ê-đê đó là các mối quan hệ với bố
mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, họ hàng ở cùng buôn, hàng xóm
đến tính cộng đồng của người Ê-đê, tạo nên sự phân hóa theo dòng
họ, theo nhóm trong cộng đồng kìm hãm sự phát triển.
23