VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THỜI
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THỜI
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔ LƯƠNG - NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Trần Kim Hào
Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp theo tính chất hoạt động tại huyện Đô Lương.... 37
Bảng 2.3: Mức độ hài lòng của khác hàng đối với công tác thu thuế TNDN ........... 50
2. Hình:
Hình 2.1. Số lượng doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế TNDN tại huyện Đô Lương 39
Hình 2.2. Doanh thu tính thuế TNDN trên địa bàn Đô Lương ................................. 40
Hình 2.3. Tổng chi phí được trừ khỏi thuế TNDN trên địa bàn Đô Lương .............. 41
Hình 2.4. Tổng thuế TNDN phải nộp và phần bổ sung trên địa bàn Đô Lương....... 42
Hình 2.5. Tổng số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp thu được .................................. 44
Hình 2.6. Hiệu quả của công tác dự toán .................................................................. 47
Hình 2.7. Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟏, 𝒀𝟐 và 𝒀𝟑 .............................................................. 48
Hình 2.8. Đối chiếu chỉ tiêu 𝒀𝟒, 𝒀𝟓 và 𝒀𝟔 .............................................................. 49
Hình 2.9. Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟏, 𝒁𝟓 và 𝒁𝟔 ....................................................... 51
Hình 2.10. Đối chiếu các chỉ tiêu 𝒁𝟐, 𝒁𝟑 và 𝒁𝟒 ..................................................... 52
Hình 2.11. Hiệu quả công tác quản lý nợ thuế tại chi cục Đô Lương ....................... 53
3. Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục thuế huyện Đô Lương – Nghệ An .......... 33
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DN
Doanh nghiệp
GTGT
Thuế giá trị gia tăng
NSNN
2017, tuy đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng hoạt động thu thuế thu
nhập doanh nghiệp mang tính chất phức tạp, như số lượng sai sót của các doanh
nghiệp có xu hướng tăng lên. Thêm vào đó, tỷ lệ thất thu năm nay so với năm trước
có giảm, nhưng vẫn còn dừng ở mức 90%, làm cho mức độ thất thoát thuế vẫn còn
ở mức độ cao. Thêm vào đó, những yếu tố về công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng
còn kém gây ra nhiều bất cập cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Trong quá trình
hội nhập vào những cam kết mà Việt Nam đã ký thì yêu cầu đặt ra với ngành thuế
nói chung và ngành thuế Đô Lương nói riêng, tăng cường thu thuế thu nhập doanh
nghiệp trở thành vấn đề cấp thiết, vừa góp phần tránh thất thoát thuế, vừa góp phần
thúc đẩy quá trình tôn trọng pháp luật của nhà nước. Chính vì thế, đề tài “Tăng
1
cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế Đô Lương –
Nghệ An” đã được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về quản lý thuế nói riêng và
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam khá đa dạng. Tuy
nhiên, đa phần các công trình này mới đề cập đến một khía cạnh nào đó của thuế.
Nghiên cứu kinh điển về vấn đề này có thể kể đến Joseph (1995). Tác giả
này đã hệ thống các lý thuyết về ngân sách nhà nước, nguồn thu ngân sách nhà
nước và quản lý thu ngân sách nhà nước từ thuế của Mỹ và một số nước châu Âu.
Một trong những kế thừa lớn của ông là đã tổng hợp các lý thuyết đi trước, bao gồm
lý thuyết của Adam Smith, Keynes và Semuelson về động viên tiền của nền kinh tế
vào ngân sách nhà nước, từ đó nêu ra một số cách quản lý nguồn này và sử dụng
vào các dự án phát triển. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của nghiên cứu này là
mang tính sách giáo khoa quá nhiều, và được coi là một nguồn lý thuyết gốc cho
các nghiên cứu tiếp theo chứ không tập trung cụ thể vào nguồn nào, cũng như
không đưa ra được một nghiên cứu cụ thể về quản lý thuế - đặc biệt là thuế thu nhập
pháp cho tình hình Việt Nam lúc đó. Tuy nhiên, tác giả này lại không đề cập các
vấn đề lý thuyết cơ bản như quản lý thuế, phương pháp quản lý thuế. Các cải cách
hành chính của nhiều nước trên thế giới khá đa dạng và phong phú, nhưng lại không
áp dụng được vào Việt Nam, giải pháp đưa ra không đột phá để cải thiện công tác
thu thuế.
Lê Duy Thành (2007), Nguyễn Ngọc Túc (2007), Phạm Xuân Hòa (2014)
đều đã tìm hiểu các nghiên cứu về quản lý thuế tại Việt Nam, và đi từ góc độ định
tính đến định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế. Đặc
biệt, Phạm Xuân Hòa (2014) đã đánh giá được tác động của từng yếu tố được nêu
trong nghiên cứu của Banks (2008) đến hệ thống thuế Việt Nam, từ đó đưa ra một
số hàm ý chính sách đối với các cơ quan quản lý. Tuy nhiên, tác giả này để ngỏ một
phần hàm ý chính sách và thực tiễn tại các vùng biên giới, vốn được coi là phức tạp
và có nhiều đối tượng trong nền kinh tế hoạt động.
Khoảng trống nghiên cứu: từ các nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong
nước, có thể thấy, còn một số hướng nghiên cứu để lại, đó là nghiên cứu về quản lý
các nguồn hình thành thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập
3
cá nhân tại các nước đang phát triển, hoặc các nước sau hội nhập. Một vấn đề cũng
đáng lưu tâm là hiện tại, quá trình hội nhập đang diễn ra rất mạnh mẽ, và những yêu
cầu về tránh đánh trùng thuế cũng đang để lại nhiều yêu cầu cấp bách. Tóm lại, các
nghiên cứu trước đây tại trong nước và quốc tế đã đề cập đến nhiều lĩnh vực trong
quản lý thuế, song không có nghiên cứu nào đề cập sâu đến vấn đề tăng cường thu
thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh thất thoát. Do đó, đề tài của tác giả chọn
nghiên cứu là đề tài mới, không trùng lắp với các vấn đề đi trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về thu thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với một chi cục. Đánh giá thực trạng thu thuế dựa trên
người nộp thuế, Bao gồm các giải pháp về công tác quản lý thông tin người nộp
thuế; công tác tuyên tuyền, hỗ trợ người nộp thuế. (2) Giải pháp về quản lý căn cứ
tính thuế, bao gồm các giải pháp về quản lý doanh thu tính thuế như Tăng cường
giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; Quản lý tốt hoá đơn chứng từ
ở các đơn vị. (3) Giải pháp về quản lý thu nộp tiền thuế bao gồm các biện pháp như:
Thực hiện triệt để việc tạm nộp thuế, Giúp các doanh nghiệp tháo gỡ những khó
khăn về tài chính; Triệt để tách biệt giữa bộ phận kiểm tra, thanh tra với bộ phận
quản lý khác. (4) Giải pháp về quản lý thanh tra, kiểm tra thuế, bao gồm các biện
pháp về công tác kiểm tra thuế, Về việc đánh giá công tác quản lý thu thuế.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu theo 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục
thuế Đô Lương – Nghệ An
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại
chi cục thuế Đô Lương – Nghệ An
5
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm về thuế
Thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và ngân sách của địa
phương. Mặc dù đã ra đời từ lâu, song rất khó có một định nghĩa chung nhất về thuế
cho tất cả các quốc gia trên thế giới.
giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Ngược lại, thuế trực thu lại đánh trực tiếp vào
thu nhập hay tài sản của cá nhân, tổ chức. Có một số loại thuế trực thu tại Việt Nam
như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận trước
thuế của các doanh nghiệp trong kỳ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lí, hợp lệ.
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 19, và được
một số nước trên thế giới áp dụng vào hệ thống pháp luật của mình như Anh, Pháp,
Thụy Sĩ… Trước đổi mới, Việt Nam cũng đã áp dụng loại thuế này dưới hình thức
các khoản trích lập của các đơn vị kinh doanh của nhà nước trong giai đoạn từ năm
1953 đến hết ngày 31/12/1989. Sau đó, sắc thuế này được áp dụng đối với các doanh
nghiệp trong vào ngoài quốc doanh, song mang tính chất phân biệt để thực hiện mục
tiêu “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”. Tuy nhiên, để góp phần thực hiện chính
sách công bằng đối với mọi thành phần kinh tế, từ năm 1999, Chính phủ đã áp dụng
tỷ lệ thu thuế như nhau với tất cả các đơn vị đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Về cơ bản, thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau
Thứ nhất, đây là loại thuế trực thu. Đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp có
đăng ký kinh doanh trên thị trường. Thường thì các doanh nghiệp này sẽ được miễn
thuế trong giai đoạn đầu mới thành lập, hoặc được miễn giảm thuế đối với (1) sản
xuất - kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đặc trưng, có vai trò quan trọng đối với nhiều
ngành khác như sản xuất nông nghiệp, điện hay nước; (2) là loại hình các doanh
nghiệp đóng vai trò cung ứng những sản phẩm dịch vụ đặc biệt như các ngân hàng
chính sách hay các doanh nghiệp công ích, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
7
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào kết quả sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, do nó đánh trực tiếp vào phần lợi nhuận trước
thuế được tạo ra. Do vậy, đối với các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao thì khoản
coi là những nguồn ổn định, góp phần cân đối khi sử dụng ngân sách nhà nước
trong những năm tới.
Thứ hai, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những công cụ
của chính sách tài khóa, nhằm quản lý – chủ yếu là thúc đẩy – sự phát triển của nền
kinh tế cùng như thu hút đầu tư của nước ngoài. Đây được coi là một trong những
chính sách làm góp phần khuyến khích đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển theo
những định hướng khác nhau của chính phủ: đối với những ngành ưu tiên phát triển
sản xuất kinh doanh, thuế suất đối với hoạt động này có thể bằng 0 hoặc được giảm
trong một thời gian nhất định. Bên cạnh đó, đi kèm với hoạt động giảm thuế suất
thuế thu nhập, các doanh nghiệp thường được hỗ trợ thêm nhiều chính sách khác.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp giúp chính phủ thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập xã hội, nhằm đảm bảo công bằng đối với các thành phần khác
nhau trong nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, khả năng áp
dụng công nghệ tiên tiến, quy trình quản lý tốt… sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất
kinh doanh và chiếm được thị phần lớn trên thị trường. Tuy nhiên, cũng chính vì
vậy nên theo cơ chế thị trường sẽ tạo ra một số các doanh nghiệp có khả năng độc
chiếm các lĩnh vực, tạo áp lực tham gia thị trường đối với các doanh nghiệp mới,
hoặc đối với các doanh nghiệp cũ, đã hoạt động. Những doanh nghiệp không có khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn không có cơ hội để nâng cao nguồn thu
cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh, vừa gây ra bất bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế, vừa tạo áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội. Do vậy, thuế thu nhập
doanh nghiệp khi đánh vào các thành phần như nhau sẽ có tác dụng điều tiết thu
nhập của các chủ thể chịu thuế. Đồng thời, với các doanh nghiệp mới hoặc những
doanh nghiệp chưa có doanh thu, thuế suất thường bằng 0 hoặc được kết chuyển lỗ
sang năm sau, sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí cho bản thân các doanh nghiệp.
Thứ tư, thuế có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Trong quá trình thu thuế, cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp vì Nhà nước
muốn thu thuế thì nhà nước phải quản lý được đối tượng nộp thuế. Nội dung quan
lý đối tượng nộp thuế bao gồm tên, địa chỉ, vốn, phản ứng của doanh nghiệp… Các
Công cụ của quản lý thuế là các văn bản liên quan đến pháp luật như Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp, các văn bản hướng dẫn thực thi luật, chính sách của
nhà nước trong từng thời kỳ và các công cụ khác. Trong số các công cụ này thì các
10
văn bản liên quan đến pháp luật đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có tính định
hướng và có khả năng điều tiết.
Phương pháp quản lý thuế gồm có một số phương pháp như phương pháp
hành chính, phương pháp kinh tế. Phương pháp hành chính được sử dụng khi các cơ
quan quản lý thuế muốn các doanh nghiệp phải tuân thủ một cách bắt buộc, vô điều
kiện. Việc này có một tác dụng là đơn giản, có thể tránh gây rắc rối đối với các cán
bộ thu thuế, nhưng lại gây bất lợi cho người nộp thuế trong việc phân định hay
tranh chấp các khoản mục phải nộp, và có thể tạo ra tính quan lieu, lạm dụng quyền
hành, gây bất cập đối với các doanh nghiệp. Phương pháp kinh tế được sử dụng
thông qua việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các doanh
nghiệp khi nộp thuế cho nhà nước, như ưu đãi về thuế, giảm chi phí phải nộp…,
thậm chí còn có thể giao khoán việc đối với các cán bộ thuế đại phương.
Quản lý thu thế thu nhập doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển kinh tế nói chung và Ngân sách nhà nước nói riêng. Quản lý thu thuế TNDN
có vai trò quyết định trong việc tổ chức, triển khai và thực hiện hệ thong các chính
sách thuế TNDN trong thời kỳ đi với cuộc sống. Quản lý thu thế TNDN sẽ giúp các
nhà lãnh đạo nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bộ máy thu thuế, theo đó kịp thời
xây dựng một bộ máy thu thuế khoa học, đảm bảo tuân thủ theo các quy tắc quản lý
nhà nước về kinh tế, nguyên tắc quản lý thuế cơ bản bản như: tập trung dân chủ,
công khai, tiết kiệm và hiệu quả, nhờ đó cho phép hệ thổng chính sách thuế TNDN
đặt ra hoạt động ổn định và đạt được những mục tiêu đề ra trong thời kỳ. Bên cạnh
đó, Quản lý thu thuế TNDN tốt sẽ giúp nhận ra và giải quyết các vấn đề phát sinh
để tập trung và kịp thời huy động đầy đủ số thu cho Ngân sách nhà nước. Quản lý
(1) Thu nhập chịu thuế: bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác.
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế
= Doanh thu − Chi phí được trừ + Các khoản thu nhập khác
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh
thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ của
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Doanh nghiệp có nhiều hoạt
động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính
riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng.
12
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để
kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ
các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia
công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà
doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp
trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Chi phí được trừ: Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các
điều kiện sau: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp; Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy
định của pháp luật.
Các khoản thu nhập khác: là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có trong
tắc này.
Số lỗ của doanh nghiệp phát sinh trước khi chuyển đổi chủ sở hữu, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách phải được theo dõi chi tiết theo năm phát sinh và được tiếp tục
chuyển vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, sáp
nhập, hợp nhất, chia, tách để đảm bảo nguyên tắc chuyển lỗ tính liên tục không quá
5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
Doanh nghiệp là liên doanh của nhiều doanh nghiệp khác, khi có quyết định
giải thể mà bị lỗ thì số lỗ được phân bổ cho từng doanh nghiệp tham gia liên doanh.
Thuế suất là mức thuế phải nộp được ấn định trên mỗi đơn vị tính của đối
tượng tính thuế bằng những phương pháp tính thuế phù hợp. Đối với mỗi thời kỳ
phát triển của kinh tế đất nước, Nhà nước có những quy định cụ thể để xác định
mức thuế suất cho phù hợp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất
phát triển. Trong xu hướng hiện tại, nhà nước đã giảm thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp từ 25% xuống còn 22% (giai đoạn 2013 – 2015) và từ sau năm 2016,
mức thuế suất hạ xuống còn 20% đối với đa phần các mặt hàng trong nền kinh tế.
1.2.2.3. Quản lý thu nộp tiền thuế
14
Các cơ quan thuế quản lý thu nộp tiền thuế thông qua các hoạt động: Đăng
ký thuế, kê khai và nộp thuế, quyết toán thuế. Theo đó:
Đăng ký thuế: là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của mình theo
quy định của pháp luật và nộp tờ khai này cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước theo quy định của pháp luật. Đât là hoạt
động đầu tiên trong việc quản lý thuế, trong đó cơ quan thu thuế sẽ có được những
thông tin đầu tiên về doanh nghiệp phải nộp thuế như đăng ký thành lập, địa chỉ,
ngành nghề… Hoạt động đăng ký thuế được thực hiện theo quy định của Thông tư
liên tịch 05/2008/TTLT/BKH/BTC/BCA về chế độ phối hợp quyết định đăng ký
kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký dấu. Quy trình đăng ký thuế phải thực hiện
- Tài liệu liên quan khác đến quyết toán thuế.
Nộp thuế: các doanh nghiệp có nghĩa vụ thuế đối với nhà nước sẽ nộp thuế
theo thời gian quy định tại kho bạc nhà nước địa phương hoặc thông qua các ngân
hàng thương mại được ủy quyền thu thuế: Điều này có nghĩa là hàng năm, các
doanh nghiệp gửi bản kê về doanh thu, chi phí tính thuế để chi cục thuế tính các
khoản phải nộp, từ đó tiến hành nộp tại các cơ quan được ủy quyền thu thuế.
Quyết toán thuế: là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc
thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế
hoặc thời dian tính từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ
thuế theo quy định của pháp luật. Khi kết thức kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh phải
thực hiện quyết toán thuế TNDN đối với cơ quan thuế và phải chịu trách nhiệm về
tính chính xác, trung thực của tờ khai quyết toán thuế TNDN. Kỳ tính thuế TNDN
là năm dương lịch. Thường thì cơ sở kinh doanh phải nộp tờ khai quyết toán thuế
TNDN cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết
thúc năm dương lịch hoặc kết thúc năm tài chính. Nếu số thuế tạm nộp trong năm
thấp hơn số thuế phải nộp theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh phải
nộp đầy đủ số thuế còn thiếu trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm dương
lịch hoặc năm tài chính. Nếu số thuế tạm nộp trong năm lớn hơn số thuế phả nộp
theo báo cáo quyết toán thuế thì cơ sở kinh doanh được trừ số tiền thuế nộp thừa
vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo. Đối với trường hợp cơ sở kinh doanh chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu (kể cả giao, bán, khoán,
16
cho thuê doanh nghiệp Nhà nước), sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản thì thời
gian nộp tờ khai quyết toán thuế trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày có quyết định
của cơ quan có thẩm quyền. Cơ sở kinh doanh sau khi đã nộp tờ khai quyết toán
thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ quan thuế mới phát hiện ra sai sót và cần điều
chỉnh số liệu thì xử lý như sau: Nếu trong thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế, cơ
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý thuế ra quyết
định miễn thuế, giảm thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế lý do không thuộc
diện miễn thuế, giảm thuế.
1.2.2.5. Quản lý thanh tra, kiểm tra quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các
hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện
thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp, nhằm đảm
bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội. Kiểm
tra, thanh tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan
đến các doanh nghiệp thuộc diện phải đóng thuế nhằm đánh giá việc chấp hành
nghĩa vụ đối với nhà nước.
Mục đích của kiểm tra thuế, tranh tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn
ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của các doanh
nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, thanh tra thuế phải tuân thủ những
nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc kiểm tra thuế, thanh tra thuế gồm có:
- Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp
thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập
chứng cư để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
- Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là
người nộp thuế.
- Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
- Ngoài ra, công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế còn phải tuân thủ các
nguyên tắc khác như nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan, nguyên tắc công
khai, dân chủ; nguyên tắc bảo vệ bí mật; và nguyên tắc hiệu quả.
Kiểm tra thuế là hoạt động được thực hiện thường xuyên. Việc kiểm tra thuế
có thể được thực hiện tại trụ sở cơ quan thuế hoặc tại trụ sở của đối tượng nộp thuế.
18
19
nhiệm công bố quyết định kiểm tra thuế và giải thích nội dung quyết định kiểm tra để
đối tượng kiểm tra hiểu và có trách nhiệm chấp hành quyết định kiểm tra.
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối lương thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật. Việc thanh tra thuế chỉ được tiến hành với các
trường hợp sau:
- Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh
doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không qua một lần.
- Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế: Trường hợp qua kiểm tra thuế
mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì trong
thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện, đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo
cáo thủ trưởng cơ quan thuế để chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ
sung vào kế hoạch thanh tra.
- Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan
quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ tài chính.
Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người
nộp thuế, từ đó phát hiện, lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệu bất thường
trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra. Kể
hoạch thanh tra bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: đối tượng thanh tra, kỳ
thanh tra, loại thuế thuộc diện thanh tra, thời gian dự kiến tiến hành thanh tra.
Trên cơ sở kế hoạch thanh tra, bộ phận thanh tra soạn thảo quyết định thanh
tra trình lãnh đạo cơ quan thuế. Quyết định thanh tra thuế phải có các nội dung như
căn cứ pháp lý để thanh tra, đối tượng thanh tra, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra,
thời hạn tiến hành thanh tra… Quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng
thanh tra chậm nhất là 3 ngày làm việc, kể từ ngày ký. Thời hạn một lần thanh tra thuế
không quá 30 ngày kể từ ngày công bố Quyết định thanh tra thuế. Quyết định thanh tra