Không gian nghệ thuật trong chuyện cũ hà nội của tô hoài (2016) - Pdf 45

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

PHẠM THỊ NGÁT

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CHUYỆN CŨ HÀ NỘI
CỦA TÔ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI – 2016


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai khóa luận tôi nhận được sự giúp đỡ, hướng
dẫn của tiến sĩ La Nguyệt Anh, các thầy cô trong Tổ Bộ môn văn học Việt
Nam. Nhân khóa luận hoàn thành tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến
sĩ, giảng viên La Nguyệt Anh, cùng toàn thể thầy, cô giáo. Do khuôn khổ thời
gian có hạn, năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không
tránh khỏi sự thiếu sót, tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô cùng toàn thể bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2016
TÁC GIẢ


1.1.1.1. Khái niệm không gian ................................................................... 6
1.1.1.2. Không gian nghệ thuật .................................................................. 6
1.1.2. Các hình thức tồn tại của không gian nghệ thuật ............................. 7
1.1.2.1. Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian ............................. 7
1.1.2.2. Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại ..................... 8
1.1.2.3. Không gian trong văn học hiện đại................................................ 8
1.2. Giới thiệu chung về nhà văn Tô Hoài .................................................... 9
1.2.1. Tác giả Tô Hoài ................................................................................ 9
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác.......................................................................... 11
1.3. Tô Hoài với tác phẩm Chuyện cũ Hà Nội ............................................ 15
1.3.1. Tô Hoài với đề tài Hà Nội .............................................................. 15
1.3.2. Chuyện cũ Hà Nội - tập kí sự độc đáo............................................ 17


Chương 2. NHỮNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT ĐẶC TRƯNG TRONG
CHUYỆN CŨ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI ......................................................... 19
2.1. Không gian nội đô Hà Nội ................................................................... 19
2.1.1. Không gian sinh thái nội đô............................................................ 19
2.1.2. Không gian sinh hoạt, phong tục nội đô......................................... 20
2.1.3. Không gian văn hóa phố nghề ........................................................ 32
2.2. Không gian ngọai đô Hà Nội ................................................................ 36
2.2.1. Không gian sinh thái ngoại đô ........................................................ 36
2.2.2. Không gian sinh hoạt, phong tục ngoại đô ..................................... 41
2.2.3. Không gian văn hóa làng nghề ....................................................... 50
KẾT LUẬN .................................................................................................... 53
TƯ LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

biệt trong mắt bạn đọc, là người Hà Nội mảnh đất và con người nơi đây đã tạo
cảm hứng và định hướng nghệ thuật cho nhà văn từ những ngày đầu cầm bút.
Cho đến hôm nay, khi Tô Hoài đã mất nhưng dấu ấn mà Hà Nội được thể hiện
qua trang viết của Tô Hài vẫn còn nguyên giá trị.
Sức hấp dẫn về sáng tác của Tô Hoài nói chung và tác phẩm Chuyện cũ
Hà Nội của Tô Hoài nói riêng đã thôi thúc em lựa chon đề tài Không gian
nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội. Trên cơ sở khám phá Không gian nghệ
thuật tập kí sự đặc biệt của nhà văn là một việc cần thiết góp phần vào gìn giữ
và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của mảnh đất Thăng Long xưa, và
đồng thời làm rõ hơn nghệ thuật văn chương của một cây bút giàu nội lực với
nhiều tâm huyết của nền văn học Việt Nam hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu về không gian nghệ thuật một cách có ý thức chỉ xuất
hiện từ sau khi có thi pháp học hiện đại được các nhà nghiên cứu giới thiệu và
vận dụng phổ biến ở Việt Nam. Trong khuôn khổ của một khóa luận chúng
tôi cố gắng tìm hiểu những ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề không
gian nghệ thuật nói chung.
Bên cạnh Dế mèn phưu lưu ký và những trang văn viết cho thiếu nhi,
bút ký…, Tô Hoài có một kho báu văn chương về Hà Nội – Nhà phê bình
Phạm Xuân Nguyên nói “nhờ ông, một người chưa biết về Hà Nội chỉ đọc
riêng các sách của ông về chốn kinh thành này thôi đã đủ để hiểu Hà Nội là
gì và Kẻ Chợ là thế nào”
Nhà văn Hoàng Việt nhận xét: “nói đến Tô Hoài, người ta nghĩ đến một
nhà văn có chất riêng của người Hà Nội, sống với Hà Nội, gắn bó với Hà Nội
và viết về Hà Nội. Ông thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ, truyền thuyết dân
gian, những câu chuyện kể rất bình thường, về con người Hà Nội, cuộc sống

2




tặng giải thưởng Thăng Long năm 1997- 1998 và coi đó là một tập kí sự đặc
biệt có giá trị về Hà Nội trong khoảng chục năm trở lại đây. Đúng là chuyện cũ,
chuyện của những ngày tháng thuộc địa với cái đời sống mệt mỏi, song không
nhạt hay lạc lõng với bạn đọc ngày hôm nay. Bởi nó không chỉ là một tập kí sự
mà còn được đánh giá như một cuốn biên khảo về văn hóa, phong tục tập quán,
hội hè đình đám và thậm chí là công trình nghiên cứu về xã hội học.
Cho đến nay, có rất nhiều những công trình nghiên cứu về tác giả Tô
Hoài, nhưng vấn đề Không gian trong văn ông thì rất ít hầu như chưa có gì là
hệ thống sâu sắc. Chỉ có một vài ý kiến của các nhà phê bình được nằm rải rác
trong các công trình nghiên cứu mang tính chất khái quát, giới thiệu, mà chưa
thực sư đi vào nghiên cứu chuyên biệt. Người ta chú ý nghiên cứu tìm hiểu về
thân thế sự nghiệp Tô Hoài sự biểu hiện cảm quan hiện thực qua các tác phẩm
của ông.
Tuy nhiên dù ít, dù nhiều những công trình nghiên cứu cùng với tìm
hiểu về cuộc đời nhà văn, bài viết về Không gian có tính chất lí luận mở
đường, định hướng cho đề tài chúng tôi. Trên cơ sở ấy cùng nghiên cứu về
con người, sự nghiệp, nhất là khám phá Không gian nghệ thuật trong Chuyện
cũ Hà Nội chúng tôi sẽ làm nổi bật nét độc đáo sáng tạo và phong cách sáng
tác của nhà văn Tô Hoài.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu Không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội của nhà
văn Tô Hoài.
Qua tìm hiểu về Không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội sẽ làm
nổi bật nên nét độc đáo trong phong cách nghê thuật của nhà văn.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thống kê phân lọai so sánh hướng tới mục đích tìm hiểu một
cách cụ thể về “Không gian nghệ thuật trong Chuyện cũ Hà Nội ” của nhà
văn Tô Hoài.


1.1. Những vấn đề lí luận
1.1.1. Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật
1.1.1.1. Khái niệm không gian
Không gian là một khái niệm thuộc phạm trù triết học, là hình thức tồn
tại của vật chất. Trong cuộc sống không có gì có thể tồn tại ngoài không gian
và thời gian. Con người luôn phải tồn tại thể hiện tính xác định của mình
trong thế giới khách thể lớn đó một chiều không gian và một chiều thời gian.
Không gian là một định lượng có thể xác định quá trình tồn tại vận
động và phát triển của mọi sự vật, sự việc trong thế giới tự nhiên. Không gian
là hình thức tồn tại cơ bản của thế giới vật chất.
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về
không gian “Không gian là khoảng không bao trùm lên tất cả sự vật hiện
tượng xung quanh đời sống con người” .
1.1.1.2. Không gian nghệ thuật
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái
quát chúng tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình
tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó”. Sự miêu tả, trần thuật trong
nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn , diễn ra trong trường
nhìn nhất định , qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ
quán tính của nó: Cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao,
thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ
thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan.

6


1.1.2. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
1.1.2.1. Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian.
Đặc điểm chung trong sáng tác văn học dân gian là ba giới, ba tầng, ba

Không gian vũ trụ được tạo nên từ nhật, nguyệt, mây, sao, sông, núi, chim,
muông, cây cỏ. Con người tìm về thiên nhiên vũ trụ như tìm về nguồn cội
(Trần Đình Sử). Bên cạnh đó không gian cũng mang tính nhàn tản, thoát tục,
gợi lên cuộc sống bình dị thanh nhàn của con người trong thế giới tự nhiên như
bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, và không gian nhgệ thuật cũng mang
tính chất ước lệ tượng trưng có thế giới và nó có sự đối lập không gian cố
hương với tha hương, hay đồng quê ngọt ngào với xa lạ lạnh lùng.
Theo dòng chảy của thời gian thì không gian trong văn học viết trung
đại cũng được “trần tục hóa”,trong thơ của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương
đã miêu tả được những địa danh trong cảm quan “văn hóa phồn thực” hay
“thế tục hóa” trong thơ của Nguyễn Khuyến với không gian làng quê yên
tĩnh, cùng những cảnh phố xá, cao lâu buôn bán chợ búa..
1.1.2.3. Không gian trong văn học hiện đại.
Sự đổi thay trong quan niệm cá nhân, xã hội, không gian nghệ thuật
trong văn học đã thay đổi. Bên cạnh kế thừa các kiểu không gian nghệ thuật
trên, ở giai đoạn này không gian nghệ thuật phong phú và đa dạng hơn. Đến
với các tác giả văn học hiện đại không không gian nghệ thuật mang tính khái
quát cao, phạm vi phản ánh rộng lớn. Đó là không gian xã hội, không gian
con người phải vật lộn với cuộc sống đầy sóng gió. Không gian nghệ thuật
mang tính cá nhân trong thời đại này cũng phản ánh cuộc sống, số phận từng
các nhân trong mối quan hệ hữu cơ với cuộc sống vì vậy không gian cũng
mang đậm dấu ấn cá nhân như trong phong trào thơ Mới chúng ta thấyđó
không gian nhỏ hẹp, quẩn quanh, bế tắc thường gằn liền với tình yêu và nỗi

8


buồn. Với Chế Lan Viên là không gian nghệ thuật đầy hư ảo mộng mị, ma
quái kinh dị, với những máu, tủy, sọ người cùng những tiếng rên than… hay
lạc vào không gian chốn quê bình yên thơ mộngtrong thơ Nguyễn Bính với

nên bút danh cho mình.
Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công nghèo, Tô Hoài chỉ được học
hết bậc tiểu học rồi sớm trở thành anh thợ cửi, sau đó phải kiếm sống bằng
nhiều nghề: bán hàng, dạy học, kế toán, coi kho và từng trải qua những ngày
thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi. Có thể nói sinh ra và lớn lên
ở vùng quê mang những đặc điểm nổi bật với những làng nghề thủ công
truyền thống. Những không gian hiện thực của quê hương làng nghề chính là
chất liệu hết sức quý báu mà sau này đã in đậm trên từng trang viết của ông.
Tô Hoài đến với nghề văn hết sức tự nhiên bằng một số bài thơ lãng
mạn. Ông sớm nhận ra đây không phải là mảnh đất “canh tác” của mình và
nhanh chóng chuyển sang “cánh đồng ” văn xuôi. Ở đây, ông đã phát huy triệt
để năng khiếu và sở trường của mình. Tác phẩm đầu tay của Tô Hoài là Nước
lên (1940), Giăng thề (1941), Dế mèn phưu lưu ký (1941), O chuột (1942).
Trong đó Dế mèn phưu lưu ký được bạn đọc chú ý hơn cả.
Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị. Trước cách mạng tháng
Tám, thời kỳ Mặt trận Dân chủ, ông đã tích cực tham gia phong trào Ái hữu
thợ dệt ở Hà Đông và Thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1943, Tô Hoài
tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt minh, viết báo
bí mật.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài làm báo cứu quốc - cơ quan
của tổng bộ Việt Minh. Ông đi vào mặt trận phía nam, tới Tuy Hòa, Nha
Trang, lên chiến trường Tây Nguyên rồi xuống mặt trận An Khê. Tháng 10
năm 1946 ông được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng Sản. Kháng
chiến toàn quốc, Tô Hoài lên Việt Bắc tiếp tục làm báo, sau đó ông công tác
tại Hội văn nghệ Việt Nam. Năm 1949 ông tham gia chiến dịch sông Thao.

10


Năm 1950, ông lại đi chiến dịch Biên Giới. Năm 1952, ông theo bộ đội chủ

của nhiều thế hệ bạn đọc nhất là trẻ em. Kể từ khi cho ra đời những tác phẩm
đầu tiên đến nay, ông đã có quá trình hơn 70 năm cầm bút: Tuổi viết hiếm có
rất đáng nể trọng. Nhà văn lão thành Tô Hoài có vị trí đặc biệt trong nền văn
học Việt Nam hiện đại. Ông từng cầm bút và nổi danh trước năm 1945, nhưng
hầu như sự nghiệp văn học chủ yếu lại được khẳng định trong vòng 55 năm
dưới chế độ cách mạng. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm đủ các thể lọai:
Truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, hồi kí, bút kí…Trong đó có nhiều tác
phẩm đặc sắc. Tô Hoài xứng đáng được coi là cây bút văn xuôi lực lưỡng bậc
nhất có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình văn học mới. Ông là nhà văn
có bản lĩnh nghệ thuật vững vàng, nêu cao tấm gương lao động cần mẫn, bền
bỉ và giàu sáng tạo.
Tô Hoài vào nghề bằng truyện ngắn Nước Lên (1940). Cho đến nay đã
ra đi nhưng 70 năm cầm bút ông đã để lại trên 160 đầu sách. Đây là con số mà
không phải nhà văn nào cũng đạt được. Hành trình sáng tác của Tô Hoài được
chia làm hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám. Mỗi chặng đường
sáng tác Tô Hoài có những thành tựu nổi bật riêng nhưng tựu trung lại, vẫn
viết chủ yếu về hai vùng đề tài lớn là Hà Nội và miền núi, vẫn thống nhất
trong một cảm quan hiện thực đời thường và một nghệ thuật thể hiện mang
đậm phong cách tác giả.
Trước cách mạng 1945: Đối tượng trong sáng tác của Tô Hoài giai
đoạn này là loài vật và cuộc sống, con người ở vùng quê nghèo làm nghề thủ
công ở ven thành.
Truyện về loài vật: Dế mèn phưu lưu ký, Một cuộc bể dâu, Dê và lợn,
Ba an em, Võ sĩ bọ ngựa, Đám cưới chuột, Trê và cóc. Mỗi truyện viết về loài
vật Tô Hoài đã phản chiếu những cá tính, những phẩm chất và thói tật, những
tốt - xấu, dở - hay trong trạng thái tự nhiên của con người.

12



tác phẩm như: Núi cứu quốc (tập truyện - 1948), Truyện Tây Bắc (Tập truyện
- 1953), Miền tây (tiểu thuyết - 1967), Lên Sùng Đô (bút kí Họ hàng ở Phìn Sa
(tiểu thuyết -1984), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (Tiểu thuyết - 1971). Tác phẩm
của ông đã tạo nên sự đối sánh giữa hai cuộc đời cũ - mới trên chất liệu những
phong tục, những cảnh sinh hoạt hàng ngày với những tập tục tồn tại lâu đời
trong đời sống sinh hoạt của các dân tộc mền núi. Từ đó nhà văn khai thác
triệt để, để tạo dấu ấn riêng trên từng trang sách của mình.
Sáng tác cho thiếu nhi cũng là một trong những đề tài khá phong phú
mà tác giả Tô Hoài đã dành một khối lượng tác phẩm lớn tiêu biểu nhất là Dế
mèn phưu lưu kí một trong những tác phẩm đặc sắc và được dịch ra nhiều thứ
tiếng, ngoài ra còn có Con mèo lười, Cá đi ăn thề, Đàn chim gáy, Chim chích
lạc rừng,Cậu miu, Vừ A Dính (195..), Kim Đồng (196...), Đảo Hoang (Tiểu
thuyết-1980), Chuyện Nỏ Thần (tiểu thuyết - 1984), Nhà Chử (tiểu thuyết1985), tuyển tập văn học thiếu nhi (truyện - 2 tập - 1999).
Đề tài cá nhân trong các hồi kí và tự truyện. Trong sự nghiệp sáng tác
của Tô Hoài, hồi kí là thể loại in đậm phong cách nghệ thuật của tác giả.với các
tác phẩm như: Cỏ Dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều những kỉ niệm
vui buồn được hiện lên qua nhiều cung bậc trong sự tồn tại khách quan qua lăng
kính cảm quan đời thường của nhà văn.
Ngoài những đề tài trên Tô Hoài còn có một số tác phẩm lí luận, kinh
nghiệm sáng tác: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc
ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977), Nghệ thuật và phương pháp viết văn
(1997)...
Với gia tài đồ sộ của mình, cho đến nay Tô Hoài là nhà viết văn xuôi có
tác phẩm nhiều nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Hơn nửa thế kỉ
sáng tác không biết mệt mỏi, ông đã dành toàn bộ tâm huyết, sức lực của
mình cho nghệ thuật. Mỗi chặng đường sáng tác của Tô Hoài đều gắn với

14




lịch sử viết về những năm tháng cuối thế kỉ XX trong thời kì thực dân pháp
xâm lước nước ta (tập truyện Người ven thành, tiểu thuyết quê nhà) tái hiện
thời kì đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc ta từ 1935 đến 1945
(tiểu thuyết Mười năm), thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội (tiểu thuyết Những
ngõ phố, người đường phố, truyện ngắn Phố ) và gần đây muôn chuyện đời
thường ở Hà Nội được tác giả tái hiện phản ánh trong “Chuyện cũ Hà Nội”...
Như vậy sau Cách mạng viết về Hà Nội Tô Hoài đã có cái nhìn về chiều dài
lịch sử. Do đó qua muôn chuyện đời thường, nhiều biến cố của đời sống xã
hội đã được hiện diện trong các sáng tác của Tô Hoài.
Viết về Hà Nội, bộ ba tiểu thuyết Quê Người (1941), Mười Năm (1958),
Quê Nhà (1980) đã tạo sự nhất quán về tiến trình lịch sử Hà Nội qua hơn 50
năm từ cuối thế kỉ XIX đến 1945. Tiểu thuyết Quê Nhà viết về thời kì cuối thế
kỉ XIX - thời kì thực dân Pháp đặt chân lên đất Hà thành. Trong tình thế nước
sôi lửa bỏng, khi các cuộc kháng cự của triều đình thất bại, quần chúng nhân
dân nhất tề nổi dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm. Từ vùng Ba Trại, chân núi Ba Vì
đến Kẻ Chợ, từ già đến trẻ, từ nam đến nữ, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Xuất
rồi thủ lĩnh Nghĩa, nhân dân sôi sục tham gia đánh giặc giữ đất, giữ làng. Trong
tác phẩm này hai nhân vật chính được tác giả dày công xây dựng là bà Xuất vợ
góa thủ lĩnh Xuất và Nghĩa - cô con gái Ba Trại đóng giả trai, nén nỗi đau riêng
quyết đứng lên bước tiếp con đường mà người đi trước.
Tiểu thuyết Mười Năm phản ánh một thời kì lịch sử của dân tộc - thời kì
mặt trận dân chủ, tiếp đến đại chiến thế giới lần thứ hai, rồi nạn đói hoành
hoành cướp đi hơn hai triệu người dân. Cũng trong thời kì đau thương đó,
những người nông dân, những người thợ thủ công nghèo đã đến với cách mạng.
Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng lòng nhiệt tình tham gia phong trào
của nhóm thanh niên làng Nha như Lê, Lạp, Trung, Ba đã được khẳng định.
Đây là mọi nhân tố khơi nguồn cho quần chúng đến với cách mạng.

16

17


Nội thuộc Tây dưới đôi mắt một chứng nhận của thời 60 năm về trước.
Những vấn đề xa xưa ấy không biết “có ai còn nhớ đến”. Được Tô Hoài tái
hiện rất rõ, rất sống động trong Chuyện cũ Hà Nội.
Tác phẩm là một tập kí sự độc đáo hấp dẫn người đọc bởi một lối kể
chân thực, một cách nhìn thấu đáo hồn hậu, thấm đẫm tình yêu sâu lắng xót
xa mà vẫn tràn trề hi vọng về mảnh đất Thăng Long xưa. Tác phẩm được xuất
bản từ năm 1986 gồm 40 truyện và sau đó tái bản lần hai năm 2004 gồm 114
truyện với mở đầu là Phố Mới, và kết thúc là Cửa thiền – Cấu trúc tác phẩm
đã tạo cảm hứng bao trùm về một đời sống văn hóa Hà Nội xưa: Vận động và
phát triển nhưng vẫn trầm lặng và cổ kính.
Không gian tác phẩm được tái hiện từ các vùng quê ven đô đến 36 phố
phường, từ những câu ca dao bình dị kể về sự tích làng Yên Thái, chợ Bưởi,
chùa Bà Sách, gái kẻ có buôm dăm, trai làng nghề dệt cửi đến làng Vòng,
chuyện làng Cốm tới làng Láng mở hội kéo cờ, đế 36 phố phường với âm vang
rộn ràng của tiếng leng keng tàu điện với tà áo dài tha thướt của thiếu nữ Hà Nội,
tới tiếng đàn nhịp phách, tiếng hát nỉ non ở phố Hàng Giấy. Tác giả đã dựng lên
một bức tranh rất thực của Hà Nội xưa – nơi quần ngư của nhiều con người đến
từ mọi miền, hòa hợp với những giá trị tự thân của Hà Nội, tạo nên nét tinh tế tao
nhã của văn hóa Thăng Long.
Điều khác biệt của Tô Hoài so với các nhà văn khác viết về Hà Nội, là
tác giả đi vào tầng sâu của cuộc sống Hà Nội, cảnh lầm than đau khổ của
người dân nghèo phố thị bị bóc lột, đè nén áp bức, cảnh bọn thực dân nghênh
ngang đầu phố cuối chợ, nhưng trong mạch sâu của cuộc sống vẫn tồn tại đời
sống văn hóa với bao phong tục tập quán lễ hội làm nên sắc diện của cuộc
sống Hà Nội xưa. Viết về mảnh đất Thăng Long như lời tác giả “là tự thuật
đời sống tinh thần, vật chất và hoạt động của một địa phương... là khơi gợi và
xem xét thấy được lịch sử mỗi vùng làm nên hình ảnh cả nước, cả dân tộc, có

cây quanh hồ Gươm hội tụ các thứ cây của làng nước - và thời thế. Vì thế

19


không phải ngẫu nhiên hồ Gươm sau này hồ Gươm đã trở thành trung tâm
mang nhịp đập trái tim của cả nước và đã được đi vào thơ ca nằm sâu trong
trái tim và khối óc của những người dành tình yêu sâu nặng với mảnh đất này:
“Em đứng đó nhìn bầu trời xa thẳm/ Hồ Gươm xanh in bóng một khoảng trời/
Có phải xưa, viên ngọc của sao rơi/ Mà ở đó thành trái tim Hà Nội (Hồ
Gươm - Nguyễn Minh Phú).
Viết về Hà Nội với bao đổi thay xong Tô Hoài cũng không quên đưa
những nét đẹp tinh tế của nhiên nhiên làm say đắm lòng người vào những
trang văn của mình, phải có sự gắn bó am hiểu, và thực sự yêu mến vùng đất
này thì ông mới có những câu văn uyển chuyển mượt mà đầy ý tứ sâu sắc đến
như vậy.
2.1.2. Không gian sinh hoạt, phong tục nội đô
Trong cái nhìn điềm tĩnh chân thực của ông, Hà Nội thời thuộc Pháp
hiện ra lầm lụi, buồn tủi. Một Hà Nội “nhếch nhác ” với những chân dung
lam lũ, nhàu nhĩ, khổ đau. Một Hà Nội được kí họa bằng chì xám phác lên cái
không gian ảm đạm, vui ít buồn nhiều đó là không gian của cuộc sống sinh
hoạt. Nhà văn Tô Hoài từng trải lòng khi viết về Hà Nội “viết và nhớ về Hà
Nội xưa, tôi muốn viết và nhớ về những người lao động bình thường, đặc biệt
là những người lao động thời Pháp thuộc, bởi đơn giản thôi, tôi cảm nhân
được nhịp sống, tâm sự của họ và thấy hợp với cái tạng của mình”. Tôi viết
để nhắc người ta nhớ rằng, để có một thủ đô phồn hoa, tấp nập như ngày hôm
nay thì cũng có một thời Hà Nội lầm than. Nhà văn đã chạm đến đời sống
khốn khổ của Hà Nội xưa mà hầu như ít ai viết về Hà Nội để ý đến. Tô Hoài
đặc biệt thể hiện thành công cuộc sống của người Hà Nội xưa từ thợ củi, thợ
giầy lầm than bụi bặm, đến những người lao động vất vả trong đêm tối mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status