cảm quan hiện thực trong chuyện cũ hà nội của tô hoài - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

ĐỖ THỊ HỒNG VÂN
CẢM QUAN HIỆN THỰC
TRONG CHUYỆN CŨ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Mai Thị Nhung.
Nội dung đề tài nghiên cứu của luận văn chưa được ai công bố trong
bất kì công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hồng Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƢƠNG 1. NHÀ VĂN TÔ HOÀI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TẠO NÊN
CẢM QUAN HIỆN THỰC CỦA TÁC GIẢ 14
1.1. Nhà văn Tô Hoài 14
1.2. Những yếu tố tạo nên cảm quan hiện thực của Tô Hoài 18
1.2.1. Khái niệm cảm quan hiện thực 18
1.2.2. Những phương diện thể hiện cảm quan hiện thực của Tô Hoài 19
1.2.2.1. Cảm quan nhân bản đời thường về con người 19
1.2.2.2. Cảm quan về xã hội qua cảnh sinh hoạt, phong tục 23

chuyện đời thƣờng 70
3.2. Ngôn ngữ tự nhiên, có sự pha trộn nhiều màu sắc 78
3.3. Sự phong phú của không gian nghệ thuật 84
3.3.1. Phát hiện miền không gian mới, hé lộ những cuộc đời dễ bị lãng
quên của Hà Nội phồn hoa 85
3.3.2. Không gian nghệ thuật có sự tương phản, sự đối chiếu giữa quá
khứ và hiện tại 88
3.4.Chi tiết đắt giá - một thế mạnh của bút kí Tô Hoài 90
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tô Hoài là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam
hiện đại. Sớm nổi tiếng trên văn đàn và giữ vững được phong độ qua thử
thách nghiệt ngã của thời gian, cho đến nay, ông là một trong số ít những nhà
văn lão thành vẫn đang có những đóng góp cho nền văn học nước nhà thời
đương đại. Sự nghiệp của ông đồ sộ về khối lượng, phong phú về thể loại và
đa dạng về phong cách. Với hơn 160 đầu sách, hàng ngàn bài báo và tiểu
luận, Tô Hoài có mặt ở hầu hết ở các thể loại của văn xuôi từ tiểu thuyết,
truyện ngắn, truyện dài đến hồi ký, bút kí, chân dung văn học. Ông cũng có
nhiều tác phẩm đạt giải thưởng như: Truyện Tây Bắc - giải nhất tiểu thuyết
của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956, Miền Tây - giải thưởng Hội Nhà văn
Á – Phi năm 1970, Quê nhà - Giải A giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm
1980, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996. Có thể nói, Tô Hoài có ảnh
hưởng khá lớn đến những người viết văn xuôi của thế hệ sau. Ngay bản thân
những bạn văn nổi tiếng và khó tính của Tô Hoài cũng phải ghi nhận sự
chuyên nghiệp và quyết liệt của ngòi bút Tô Hoài: “Cung cách của Tô Hoài là
cung cách của nhà văn lớn – mặc dầu Xuân Diệu thường ít khen ai – lớn thì

sáng tác của nhà văn
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Tô
Hoài, trong đó, cảm quan hiện thực của tác giả là khía cạnh thu hút nhiều nhà
nghiên cứu. GS Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Tô Hoài với quan niệm
"con người là con người " đã khẳng định: "Tô Hoài quan niệm con người là
con người, chỉ là con người, thế thôi". Vì thế, nhân vật của ông được khai
thác "toàn chuyện đời tư, đời thường". Ngay cả nhân vật cách mạng, nhân vật
anh hùng của ông thường ít được lý tưởng hoá. Nhà nghiên cứu Nguyễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Đăng Điệp nhấn mạnh: "Viết về cái của mình, quanh mình là định hướng
nghệ thuật và cũng là kênh thẩm mỹ của Tô Hoài. Đúng hơn, đây là yếu tố
cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông. Nó khiến cho văn Tô Hoài có
được phong cách, giọng điệu riêng. Đó là một giọng kể nhẩn nha, hóm hỉnh
và tinh quái"
Khi giới thiệu cho Tuyển tập Tô Hoài, Giáo sư Hà Minh Đức cũng đưa
ra nhận xét sâu sắc, khẳng định giá trị truyện lịch sử của Tô Hoài: “Ông muốn
trở về với ngọn nguồn của những truyền thuyết, thần tích, những câu chuyện
cổ để tìm hiểu sự sống của dân tộc trong thời kỳ xa xưa với những cảm nghĩ
và hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người lao động trong
quá trình dựng nước và giữ nước”. [9;128].
Cùng với suy nghĩ đó, Vũ Quần Phương khẳng định: “Tô Hoài có lối đi
riêng khi viết truyện lịch sử. Đọc truyện của ông, người ta được tắm mình vào
không khí Việt Nam truyền thống. Ông là người lưu giữ được nhiều nét xưa,
nhiều hương vị xưa mà không sa vào hoài cổ” [6;58]. Cùng chia sẻ cảm hứng
khẳng định giá trị đặc sắc truyện lịch sử của Tô Hoài, tác giả Lã Thị Bắc Lý
trong Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 đã viết: “Tô Hoài đã mở ra
hướng khai thác mới, hướng khai thác lịch sử gắn với huyền thoại, phong tục
và văn hóa” [6;24].
Phong Điệp lại nhận thấy: Tiểu thuyết Tô Hoài là hình ảnh của dòng

Vườn Hoa, tên cũ là Vườn và Hoa, cây hoa. Nhưng đây vẫn chưa phải là toàn
bộ những bài viết của Tô Hoài về Hà Nội, ví dụ không có bài xuất sắc Đôi
Nét Hồ Tây trong Hà Nội và Hà Nội. Ấn bản năm 2000 không phải là có bổ
sung mà còn có sửa chữa và có thể nói toàn bộ mang một nội dung mới : hai
ấn bản trước mang tính cách hồi ký, có giá trị xã hội hoặc dân tộc học về địa
phương Hà Nội, thì ấn bản sau này mang dụng công dân tộc học rõ ràng hơn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

theo gương người xưa : “Các danh sĩ Lê Quý Đôn, Phạm đình Hổ, thời các cụ
chưa có các môn xã hội học, phong tục học, nhưng các cụ đã ý thức ghi chép
cẩn thận về mũ áo và cái nón , bởi cái nón cũng tỏ ra phân biệt địa vị con
người” [14; 150]. Không gian tác phẩm được mở rộng, thời gian được dàn
dài, chuyện đời, chuyện người cũng trở nên phong phú hấp dẫn hơn. Nếu ở
lần in đầu, các truyện nghiêng hẳn về miền đất ngoại ô như một lẽ tự nhiên
trong cảm hứng của Tô Hoài, thì tới lần xuất bản này, nhà văn đã đạt được sự
“cân bằng” đáng kể khi làm lộ diện một nội thành đa dạng, truân chuyên và
sang trọng, hào hoa. Tô Hoài đã mở rộng đề tài Hà Nội sang địa hạt văn hoá
dân tộc trên cả hai chiều lịch sử và thời sự, như bài Đất nói về những dụng cụ
làm bằng đất, công dụng hòn đất trong đời sống dân tộc hay bài Tiếng Trống,
Đình Làng, nón Xưa vượt ra khỏi chu vi Hà Nội. Những bài như Dung và
Quyền nói lên thân phận con người chìm nổi trong lịch sử : hoạ sĩ Ngô thúc
Dung, tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật cùng khoá với Nguyễn Đỗ Cung, sau
1954 bán vé tàu điện đường Bưởi, không còn nhận ra bạn bè chán đến nỗi
không còn muốn nhận ra nhau nữa. Tác phẩm đã sớm thu hút được sự quan
tâm của giới nghiên cứu và những người yêu văn học, yêu Hà Nội.
Nói chung, ngòi bút Tô Hoài ưu đãi nếp sống dân dã. Chuyện cũ Hà
Nội chủ yếu là chuyện người nghèo, bắt đầu từ dân quê trôi giạt về thành phố
kiếm ăn, ở đợ, may thuê, gánh mướn, làm đào hát, đào rượu. Tô Hoài ghi lại
nếp sống thành phố, từ cái xe đạp, cái Tàu điện, đến Chiếc xe kút kít qua Phố
Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, từ cảnh chợ buôn người đến cơm đầu ghế,

“người thợ khâu” ấy nối liền các mảnh văn hóa, các số phận trong một sinh
thể nghệ thuật, ta bỗng ngạc nhiên về sự giàu có của đất và người, của thời
gian và không gian, của văn hóa và tâm linh dân tộc” [5]. Đó là cái điềm tĩnh,
lặng lẽ và nhẫn nại của một người tin vào cái căn cốt văn chương và sự trải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nghiệm của mình. Riêng về Hà Nội, Tô Hoài là một cây bút cự phách. Cùng
với Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng Tô Hoài đã để lại nhiều trang văn
xuất sắc vì câu chữ của ông không những thể hiện được văn hóa, phong tục
mà còn thể hiện được “hồn vía” của người Hà Nội. Không chỉ Hà Nội hôm
nay mà cả Hà Nội “chuyện cũ” đều được Tô Hoài quan tâm thể hiện. Không
ai hơn Tô Hoài về vùng đất ngoại ô đã đành, nhưng cũng hiếm người vượt
được Tô Hoài về đời sống văn nghệ sĩ Hà Thành. Ông kể về họ bằng cái chất
giọng quai quái một chút, nhưng chân thành yêu mến. Có vẻ như Tô Hoài đã
tự chuẩn bị cho một thế nhìn: đời sống nó thế, lên gân quá, tô vẽ quá cũng chỉ
vậy mà thôi. Đọc Tô Hoài, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp liên tưởng đến
Nguyễn Tuân và nhận thấy: “Văn hai ông rất khác nhau. Một bên cố gắng tạo
cái vân chữ của mình bằng những cách nói độc đáo, bằng trùng điệp liên
tưởng, bằng những nét vẽ phóng khoáng, những ấn tượng mạnh, một đằng
văn nhẩn nha, chi tiết đặc chất tiểu thuyết, khoảng cách giữa người trần thuật
và nhân vật là khoảng cách gần gũi, suồng sã, phi sử thi. Nhưng cả hai cây đại
thụ này đều có cái nhìn riêng về đời sống. Nguyễn Tuân truy tìm cái đẹp
đượm màu lý tưởng. Đó có thể là cái đẹp vang bóng, có thể là cái đẹp trong
hiện tại nhưng trên cái nền hiện tại ấy, mọi cái đẹp đều hiện lên kỳ vĩ, khác lạ.
Còn Tô Hoài, cái đẹp hiện ra chính trong đời thường” [5]. Tô Hoài không
chuốt văn theo cách ép hoa trong tủ hay cầu kỳ một cách thái quá để tạo nên
kiểu bonsai chữ nghĩa mà ông cắt tỉa, gọt giũa câu văn, tạo nên những cấu
trúc cú pháp mới cũng là để văn gần hơn với đời. Đúng hơn, với ông, bản
thân ngôn từ cũng chính là một thực thể sống, nó không hề đóng vai trò như
một thứ vật liệu tải chở nội dung theo cách hình dung cơ giới giản đơn. Bởi

sách mà ngỡ như chuyện ngoài đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

PGS.TS Phạm Thị Chiến trong bài viết Nét văn hoá Thăng Long xưa
trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài cũng cho rằng: “Một tác phẩm văn học
có giá trị bao giờ cũng là câu trả lời những yêu cầu của con người về Tổ quốc,
gia đình, diện mạo của mỗi thời của mỗi dân tộc. Đó cũng là phương diện văn
hoá của văn học. Lịch sử văn học Việt Nam đã cho thấy có rất nhiều tác phẩm
đạt được như vậy, trong đó có “Chuyện cũ Hà Nội” của Tô Hoài. Đây là một
tập ký sự độc đáo, hấp dẫn người đọc bởi một lối kể chân thực, một cách nhìn
thấu đáo hồn hậu, thấm đẫm tình yêu sâu lắng, xót xa mà vẫn tràn trề hy vọng
về mảnh đất Thăng Long xưa của Tô Hoài”[2].
Cũng am hiểu về Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài, Đoàn Minh Tuấn
khẳng định: “Tô Hoài là một nhà văn lão luyện ở Hà Nội, ngõ ngách, phong
tục, tập quán bác am hiểu tường tận. Cuốn sách Chuyện cũ Hà Nội gần 300
trang, ông viết từ phố mới, phố xưa, cho đến 36 phố phường, việc bắt rượu,
tiếng rao đêm, thuế thân, thịt chó, đến trèo me, trèo sấu, rồi đào rượu, đào hát,
đến bắt chuột, bẫy chim, chơi chim, rồi tàu điện đêm, đi phu mộ, chết đói…
nghĩa là thượng vàng hạ cám Tô Hoài đều đưa được vào trang viết của mình.
Trong chuyện Mừng ngày giáp tết: Thuở niên thiếu gia cảnh nhà bác Tô Hoài
đói kém, sợ nhất là cảnh đòi nợ, không có tiền trả, chủ nợ lấy đồ đạc khuân
bát hương đi. Nhà bà nội không có tiền, trong nhà không có gì đáng giá nửa
hào, thì có gì mà xiết, mà trừ nợ được. Bà nội chỉ dúi vào tay người đòi nợ vài
xu uống nước đi tàu điện về đỡ phải cảnh đòi nợ ngày tết dông cả năm” [26].
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã tinh tế gọi tên được bản sắc của Tô
Hoài khi viết về Hà Nội và tìm cách lý giải nguyên nhân của bản sắc ấy:
“Những khi phải tả Hà Nội, Tô Hoài vừa có cái kỹ lưỡng từ trong nói ra, lại
có cái tươi mới như vừa gặp vừa thấy. Sở dĩ như vậy, theo tôi, một phần do
trước sau Tô Hoài vẫn giữ được cái hóm, cái nghịch cần thiết cho những
“Người ven thành” luôn luôn phải đi lên thành phố để làm đủ các loại việc,


duy. Nhân chứng và tâm chứng. Nghiệm cho cùng, tác phẩm Tô Hoài là
chuyện về con người trong tình đời không bao giờ cũ.
Hầu hết ý kiến của các nhà nghiên cứu đều khẳng định: Chuyện cũ Hà
Nội - Đó là một Hà Nội với đủ thứ chuyện của đời thường trong mấy chục
năm trước Cách mạng tháng Tám: từ cảnh mua bán người thê thảm ở phố Mới
đến chuyện kinh doanh thức ăn thừa dơ dáy của lính Tây ở cửa Đông; từ việc
Tây khám rượu lậu đến “tiếng rao đêm” bán quà bánh trên các phố…Nhưng
cái hay của tác phẩm không dừng lại ở sự phong phú bề ngoài ấy, mà là chiều
sâu văn hoá của nó. Bỏ cái nền nếp của mình mà học cái nền nếp của người ít
lâu, sẽ quên là mình từng có nền nếp! Nền nếp bị quên, có người chịu khó
chép vào sách đấy. Ðọc sách Tô Hoài, lắm khi như lật ngược trang văn hóa
Việt Nam. Của tin sờ sờ, nhưng trong lúc “bổ sấp bổ ngửa” tranh giầu có với
người, mấy ai nhìn đến.
Như vậy, có thể thấy rằng, Chuyện cũ Hà Nội là một tác phẩm xứng
đáng để nghiên cứu và đã bước đầu được quan tâm, khảo sát, tìm tòi. Tuy
nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội
một cách công phu và toàn diện ở phương diện cảm quan hiện thực. Vì lẽ đó,
trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả mà nhiều người đi trước đã đạt
được, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu Cảm quan hiện thực trong Chuyện cũ
Hà Nội của Tô Hoài.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cảm quan hiện thực của Tô Hoài, các
phương diện thể hiện cảm quan hiện thực và những nét đặc sắc nghệ thuật
trong việc biểu hiện cảm quan hiện thực đó.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là tác phẩm
Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài. Tất nhiên, trong quá trình nghiên cứu, người
viết còn tiến hành khảo sát một tác phẩm khác của tác giả Tô Hoài và khảo sát
tác phẩm của các tác giả khác cùng viết về Hà Nội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


nét bảo lưu trong cảm quan hiện thực về Hà Nội của Tô Hoài; đối chiếu cảm
quan hiện thực của Tô Hoài với các nhà văn khác viết cùng đề tài Hà Nội để
thấy nét riêng độc đáo của nhà văn.
- Phương pháp khái quát, tổng hợp: Sau khi phân tích, so sánh luận văn sẽ
khái quát những nét đặc sắc trên phương diện cảm quan hiện thực trong
Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được triển khai thành 3 chương:
- Chương 1: Nhà văn Tô Hoài và những yếu tố tạo nên cảm quan hiện thực
của tác giả
- Chương 2: Cảm quan về xã hội, con người và phong tục trong Chuyện cũ
Hà Nội của Tô Hoài
- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cảm quan hiện thực trong Chuyện cũ Hà Nội
của Tô Hoài.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHÀ VĂN TÔ HOÀI VÀ NHỮNG YẾU TỐ
TẠO NÊN CẢM QUAN HIỆN THỰC CỦA TÁC GIẢ


lực thế mà vẫn không sống nổi. Tôi đứng trong bóng nắng chiều tỏa xuống
ánh nước cửa hang mà nghĩ việc đời như thế”. Ống kính của Tô Hoài vừa sắc
nét trong việc tái hiện lại các chi tiết, vừa có khả năng tạo ra sự lưu chuyển
hợp lý giữa các trường đoạn, màu sắc du ký và màu sắc tự truyện hòa vào
nhau hết sức sống động. Với Dế mèn phiêu lưu ký, Tô Hoài thực sự là cây bút
hàng đầu về nghệ thuật miêu tả thế giới loài vật. Biệt tài ấy còn được Tô Hoài
mài sắc mãi về sau. Chung quy lại, nó xuất phát từ khả năng quan sát sắc sảo
và khả năng liên tưởng phong phú, cách tạo hình độc đáo của Tô Hoài.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra câu hỏi: vì sao cảnh đời thường lại có
sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với ngòi bút của Tô Hoài? Vì những sáng tác đầu
tiên của ông đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy là những bài thơ như Tiếng reo,
Đan áo…Nhưng ngay sau đó, ông đã từ giã vườn thơ để đến với cánh đồng
văn xuôi, từ bỏ chân trời lãng mạn để đến với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo. Có
nhiều lí do dẫn đến sự chuyển hướng ấy, trong đó, phải kể tới hoàn cảnh chủ
quan của nhà văn, cảnh sống vất vả túng thiếu của bản thân, gia đình khiến
ông khó có thể thả mình vào một thế giới của phiêu diêu và mơ mộng, của
“chàng – nàng”. Chính một nhân vật văn sĩ nghèo trong truyện ngắn của Tô
Hoài - Hết một buổi chiều đã từng độc thoại: “Mạch sống của cuộc đời táp
nham này còn có gì đáng lồng vào dòng nước, một nhánh hoa, một dòng nước
trắng!”. Vả lại sống trong môi trường Nghĩa Đô, những con người cần lao,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

chất phác, những cảnh đời điêu đứng, cùng quẫn của những người nông dân
nghèo vẫn quen thuộc và thân thiết hơn với Tô Hoài.
Nhớ lại những ngày mới tập viết, Tô Hoài kể: lúc ấy đọc sách Nhất
Linh Khái Hưng thì cũng thích lắm, nhưng tự xét mình không sống cuộc sống
như họ nên không thể viết như họ. Cách nói ý nhị tưởng như một lời tự thú
khiêm tốn về sự bất lực của mình, nhưng thực ra ở đó ngầm chứa một thứ
tuyên ngôn nghệ thuật: Ngòi bút này dựa trên sự quan sát thực tế chung quanh
và sống đến đâu, viết đến đó, viết ngay về những gì từng viết, từng trải quanh

mình” (Tự truyện). Những cây bút nào trước khi viết về người khác lại biết
mang mình ra để tự trào, để giễu chơi cái tôi của mình một chút là những
người ghê gớm, tinh tường, bởi lập tức, mọi thứ nghi lễ, rào cản về khoảng
cách không còn, chỉ còn lại ta với mình, y với thị, tôi với hắn như đang nói
chuyện, tán gẫu trong cuộc sống thường ngày. Như vậy, viết về cái của mình,
quanh mình là định hướng nghệ thuật và cũng là kênh thẩm mỹ của Tô Hoài.
Đúng hơn, đây là yếu tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông. Nó
khiến cho văn Tô Hoài có được phong cách, giọng điệu riêng. Đó là một
giọng kể nhẩn nha, hóm hỉnh và tinh tế. Rất hiếm khi ta thấy Tô Hoài cao
giọng. Những triết lý về đời sống của Tô Hoài bắt nguồn từ những câu chuyện
đã từng xảy ra đâu đó trong đời chứ không phải là sản phẩm của những tư
biện xám màu. Đây cũng là một bí quyết chinh phục độc giả của Tô Hoài.
Đọc ông người ta không thấy gượng, không thấy giả cũng vì lẽ đó. Có cảm
giác như Tô Hoài biết nuôi dưỡng một bí mật: những chuyện kể, những hồi
ức trong tác phẩm của ông là những chuyện mà ông đã nhập tâm, đã biết tỏng
tự đời nào, bây ông mới hé “cho khách hồng trần thử soi”. Sự đời nó thế, dâu
bể cũng là đấy mà ngọt ngào cũng từ đấy. Chuyện về đời cũng là chuyện về
chính bản thân ông. Thì đấy, chàng Dế mèn trong Dế mèn phiêu lưu ký là hình
bóng của tuổi trẻ Tô Hoài đi tìm kiếm tư tưởng đại đồng, những câu chuyện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

mà Tô Hoài hồi nhớ lại trong Cát bụi chân ai và Chiều chiều là những câu
chuyện được ông thể hiện qua cái nhìn của mình về những câu chuyện quanh mình.
1.2. Những yếu tố tạo nên cảm quan hiện thực của Tô Hoài
1.2.1. Khái niệm cảm quan hiện thực
Hêghen trong Dẫn luận mỹ học đã nhấn mạnh: “Tác phẩm nghệ thuật
là một cái nhằm phục vụ tri giác cảm quan của con người”. “Để tỏ lòng biết
ơn tự nhiên đã sản sinh ra cả bản thân mình, người nghệ sỹ dâng trả lại cho tự
nhiên một tự nhiên thứ hai nào đó. Song đây là một tự nhiên được sinh ra từ
tình cảm và tư tưởng, một tự nhiên được hoàn thiện bởi con người". Trong

thuật và có tính chất quyết định được coi là hạt nhân phong cách nghệ thuật
Tô Hoài là cảm quan hiện thực đời thường”. Quả thực, đây là cảm quan chi
phối toàn bộ những sáng tác của Tô Hoài trong suốt hành trình sáng tạo
không biết mệt mỏi của nhà văn.
1.2.2.1. Cảm quan nhân bản đời thường về con người
Mỗi nhà văn khi xây dựng thế giới nhân vật, đều xuất phát từ cảm quan
về con người riêng của mình. Cảm quan này vì vậy gắn liền với cá tính sáng
tạo của người nghệ sĩ. Nói như Nguyễn Đăng Mạnh thì: “Tâm hồn mỗi nhà
văn có một “chất dính” riêng. Dù ông ta có quan sát thực tế đời sống ở nhiều
lĩnh vực khác nhau, “chất dính” ấy vẫn chỉ có thể bắt lấy được những gì thích
hợp với nó mà thôi. Những “cái gì” đó tạo nên ở mỗi cây bút một đối tượng
thẩm mỹ riêng, nơi cung cấp những nguồn chất liệu phù hợp để nhà văn dựng
nên thế giới nghệ thuật riêng của mình” [23,14]. Cảm quan nghệ thuật về con
người là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá giá trị nhân văn vốn
có của một hiện tượng văn học. Người nghệ sĩ đích thực là người luôn suy
nghĩ về con người, vì con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu con
người. Về điều này, Nguyễn Minh Châu – một trong những cây bút xuất sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

của nền văn xuôi Việt Nam đã khái quát: “Văn học và đời sống là hai vòng
tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người. Người viết nào cũng có thể
có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại
không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương
con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê,
vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số
phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình. Cần giữ cái tình yêu lớn
ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau
khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh
thần và đứng vững được trước cuộc sống”. Khám phá cảm quan nghệ thuật về
con người của một tác giả là đi sâu vào thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status