Chuyện cũ Hà Nội trong văn Tô Hoài - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ ÚT HÀ
“CHUYỆN CŨ HÀ NỘI” TRONG VĂN TÔ HOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. Phong Lê Thái Nguyên, năm 2013Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn GS. Phong Lê,
người thầy đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tác giả trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tác giả luận văn cũng xin chân thành cảm ơn.
Các thầy cô giáo cộng tác, các cấp quản lí, lãnh đạo của Trường Trung
học phổ thông Vị Xuyên - huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang
Khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học, các quý thầy cô giảng dạy lớp cao
học Văn K19 - trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều
kiện cho tác giả học tập và nghiên cứu.
Toàn thể các anh chị em, bạn bè và gia đình đã quan tâm giúp đỡ.
Xin chân thành cảm ơn!


Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
PHẦN MỞ ĐẦU 6
PHẦN NỘI DUNG 12
Chƣơng 1: BỐI CẢNH XÃ HỘI - ĐỜI SỐNG VĂN HỌC NHỮNG NĂM
1941 -1945 VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI 12
1.1. Bối cảnh xã hội những năm 1941 – 1945 12
1.2. Đời sống văn học trong những năm 1941 - 1945 15
1.3. Sự nghiệp sáng tác và vị trí đề tài Hà Nội trong sáng tác của nhà văn Tô
Hoài 16
1.3.1. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài. 16
1.3.2. Vị trí đề tài Hà Nội trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài 18
Chƣơng 2: GIÁ TRỊ VÀ ĐẶC TRƢNG CỦA “CHUYỆN CŨ HÀ NỘI” 23
2.1. Bức tranh đô thị hóa trong Chuyện cũ Hà Nội 23
2.2. Người và cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội. 33
2.2.1. Con người trong Chuyện cũ Hà Nội 33
2.2.2. Cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội 44
2.3. Nếp sống và phong tục trong Chuyện cũ Hà Nội 54
2.3.1. Nếp sống trong Chuyện cũ Hà Nội 54
2.3.2. Phong tục trong Chuyện cũ Hà Nội 58
2.4. Ẩm thực và thú chơi trong Chuyện cũ Hà Nội 67
2.4.1. Ẩm thực trong Chuyện cũ Hà Nội 67
2.4.2. Thú chơi trong Chuyện cũ Hà Nội 74 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
2.5. Nội thị và ven đô trong Chuyện cũ Hà Nội 77

Pháp. Một Hà Nội xưa cũ với người và cảnh, nếp sống và phong tục qua
những trang văn Tô Hoài đã đem lại cho người đọc một lượng kiến thức rất
phong phú về xã hội học, dân tộc học và phong tục học. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội. Vì vậy, đây là
một nội dung còn mới mẻ, rất cần được nghiên cứu.
1.3. Năm 2010 vừa qua, nước ta tổ chức lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng
Long Hà Nội. Đại lễ thể hiện niềm tự hào của nhân dân cả nước với lịch sử và
truyền thống thủ đô ngàn năm tuổi. Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, Hà Nội càng nhận được sự quan tâm của nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Hà Nội đã, đang và sẽ mãi là trái tim của
đất nước Việt Nam. Với niềm tự hào về thủ đô Hà Nội xưa và nay, với tình
yêu mến dành cho nhà văn Tô Hoài, nhằm giúp cho bạn đọc có một cái nhìn
cụ thể hơn về Hà Nội trong văn học, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Chuyện cũ Hà Nội” trong văn Tô Hoài.
2. Lịch sử vấn đề
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Tô Hoài, nhưng nghiên
cứu về hai tập truyện Chuyện cũ Hà Nội của ông lại rất ít, chỉ có một vài ý
kiến của các nhà phê bình được nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu
mang tính khái quát, giới thiệu, mà chưa thực sự đi vào nghiên cứu chuyên
biệt. Trong phạm vi luận văn chúng tôi chỉ điểm duyệt những ý kiến có liên
quan trực tiếp đến đề tài Hà Nội của nhà văn Tô Hoài.
Người đầu tiên nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê
bình Vũ Ngọc Phan. Ông đã phát hiện ra:“Người “kẻ Bưởi” là những người ở
gần Hà Nội, đã nhiễm ít nhiều thói tục của đất kinh kỳ, tuy tính tình họ còn
giản dị và chất phác, nhưng cách sống của họ đã bắt đầu phức tạp, không còn

năm.”” [23, 150 - 151]
Nhà văn Băng Sơn là người hàng chục năm nay vẫn được tôn vinh là
một trong vài nhà văn viết hay nhất, sâu lắng nhất về Hà Nội, nhưng khi đọc
tập Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài ông cũng phải thốt lên rằng: “Thế hệ trẻ
trên dưới 40 tuổi sẽ không biết gì về Hà Nội nếu không đọc bộ sách này''.
Về đề tài Hà Nội, Tô Hoài viết kĩ, tỉ mỉ. Chính vì thế mà nhà phê bình
Hoài Anh đã nhận xét trong Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và phong
phú: “Đề tài Hà Nội luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Tô Hoài: Vỡ tỉnh, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Người ven thành, Quê nhà, Chuyện cũ Hà Nội Ông viết kĩ, luôn luôn sửa, tỉa
bớt chữ cho cô đọng, đảo cú pháp cho gần với cách nói thông thường, nhiều
nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, giàu chất tạo hình và chất thơ” [23, 175]
Trong Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, GS Hà Minh Đức viết: “Thế
giới nhân vật của Tô Hoài vốn là những kiểu người bình dị gần gũi trong cuộc
sống hàng ngày của những vùng quê. Họ quay tơ, dệt cửi, chạy chợ để
kiếm sống. Gặp buổi thuận thời làng quê vang lên đều đặn tiếng thoi dệt cửi
đến canh khuya, phiên chợ đông vui kẻ mua người bán, hội làng nhộn nhịp
trong những ngày xuân, trai gái hò hẹn lứa đôi ”[23, 113]
Những ý kiến của các tác giả trên đây là những đánh giá đúng và sâu về
đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nghiên cứu chuyên biệt nào viết riêng về Chuyện cũ Hà Nội trong
văn Tô Hoài. Do vậy những ý kiến đánh giá này là cơ sở lí luận rất quý báu
cho chúng tôi trong việc nghiên cứu tiếp về đề tài Hà Nội của Tô Hoài qua hai
tập truyện Chuyện cũ Hà Nội.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu tất cả những tác phẩm viết về đề tài Hà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
BỐI CẢNH XÃ HỘI - ĐỜI SỐNG VĂN HỌC NHỮNG NĂM 1941 -1945
VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
1.1. Bối cảnh xã hội những năm 1941 – 1945
* Tình hình thế giới.
Từ nửa sau những năm ba mươi của thế kỉ XX, các thế lực phát xít tăng
cường các hoạt động bành trướng và xâm lược, chạy đua vũ trang chuẩn bị
chiến tranh để phân chia lại thế giới. Ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan
mở đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ngày 3/9/1939, Anh và Pháp
tuyên chiến với Đức. Lợi dụng tình thế chiến tranh chính phủ Đalađiê thi
hành hàng loạt biện pháp đàn áp các lực lượng dân chủ trong nước và ở các

các đòn tấn công dồn dập của Anh - Mĩ ở trên bộ cũng như trên biển… Tháng
8/1945, Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Tình hình ấy đã tạo
điều kiện cho nhân dân ta khởi nghĩa giành chính quyền.
* Tình hình Việt Nam
Sau khi chiến tranh bùng nổ, ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng gửi
thông cáo cho các cấp bộ Đảng, nêu một số phương hướng và biện pháp cần
kíp trước mắt nhằm chuyển hướng các hoạt động của Đảng.
Ở Đông Dương, tháng 6/1940 Nhật gửi thư cho toàn quyền Đông
Dương yêu cầu đóng cửa biên giới Việt - Trung. Tháng 8/1940, Nhật yêu cầu
Pháp cho quân đội Nhật vào Đông Dương và thừa nhận cho Nhật có những
đặc quyền ở Đông Dương. Nhật bắt Pháp đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ
khác, vừa tìm cách lôi kéo một số phần tử cơ hội trong đám địa chủ và tư sản
làm tay sai phục vụ cho mưu đồ xâm lược của chúng. Bọn này núp dưới hình
thức đảng phái chính trị ( Đại Việt, Phục Quốc…) hoặc tôn giáo để hoạt động, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh và sức mạnh của Nhật, về thuyết
“Đại Đông Á”, ráo riết dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp.
Sau khi đầu hàng Nhật ở Lạng Sơn (9/1940), rồi mở cửa cho chúng
vào Đông Dương, thực dân Pháp đã suy yếu rõ rệt, Nhật tiếp tục lấn bước
để biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến tranh của chúng. Các
công ty của Nhật đầu tư vào Đông Dương ngày một nhiều và hoạt động
trong nhiều ngành công nghiệp và thương mại. Cả Nhật và Pháp đều ra sức
bóc lột nhân dân, bắt nhân dân ta phải bán thóc theo diện tích cày cấy, bắt
nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu… Rõ ràng từ khi đặt chân lên Đông
Dương dù là trực tiếp hay gián tiếp qua tay Pháp phát xít Nhật đã bòn rút
triệt để các nguyên liệu và thực phẩm của đất nước và nhân dân ta nhằm

tương lai, một tương lai sáng sủa đang tiến gần. Thời kì này thơ tuyên truyền
kết hợp với thơ trữ tình cách mạng càng thấm thía, sâu sắc hơn. Tố Hữu
trưởng thành nhanh chóng với tập thơ Từ ấy. Nhật kí trong tù của Hồ Chí
Minh cũng đang viết trong thời kì này. Bên cạnh thơ ca, hàng loạt bài chính
luận của đồng chí Trường Chinh xuất hiện trên các báo chí của Ðảng vào thời
kì này cũng có nhiều giá trị văn học. Có thể nói văn học cách mạng trong
những năm tiền khởi nghĩa đã góp phần quan trọng vào cuộc vận động cách
mạng của Ðảng, đập tan chế độ thuộc địa, giành thắng lợi trong những ngày
Tháng Tám năm 1945 lịch sử.
Văn học hiện thực phê phán có sự phân hóa mạnh mẽ. Vũ Trọng Phụng
qua đời; có nhà văn không viết tiểu thuyết nữa mà chuyển dần sang khảo cứu
dịch thuật như Ngô Tất Tố
Một thế hệ nhà văn hiện thực mới ra đời: Nam Cao, Mạnh Phú Tư,
Nguyễn Ðình Lạp, Bùi Hiển, Các nhà văn hiện thực này vẫn tiếp tục miêu
tả cuộc sống tăm tối của người nông dân như trong Chí Phèo, Lão Hạc của
Nam Cao; Sống nhờ của Mạnh Phú Tư, Ngoại ô, Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Lạp, Nằm vạ của Bùi Hiển Cuộc sống bế tắc mòn mỏi của người trí thức
tiểu tư sản cũng được các nhà văn hiện thực đề cập một cách sâu sắc như
trong Sống mòn, Ðời thừa, Trăng sáng của Nam Cao. Như vậy có thể nói,
các nhà văn hiện thực đã nêu lên những mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp
thống trị với tầng lớp nhân dân lao động. Họ tập trung viết về quá trình của
người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa. Để dẫn đến thảm họa này là
do cái đói và cái chết.
Văn học lãng mạn rơi vào cái tôi bế tắc, cực đoan. Một số tác giả trong
Tự lực văn đoàn đưa ra một chủ nghĩa “vô luân”. Nguyễn Tuân đi vào hoài

trào ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông rồi
tham gia phong trào thanh niên phản đế. Năm 1943, gia nhập tổ Văn hóa cứu
quốc đầu tiên ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám Tô Hoài tham gia phong
trào Nam tiến; rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, chủ nhiệm Cứu quốc Việt
Bắc, chủ bút Tạp chí cứu quốc. Từ 1951 về công tác ở Hội văn nghệ Việt
Nam. Sau ngày hòa bình lập lại, trong Đại hội nhà văn lần thứ nhất năm
1957, ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội. Từ 1958 đến 1980 ông tiếp tục
tham gia ban chấp hành, rồi Phó Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Từ
1966 đến 1996 là Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội. Ngoài ra, Tô Hoài còn
tham gia nhiều công tác xã hội khác.
Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, dưới chế độ phong kiến thực
dân, Tô Hoài được tận mắt chứng kiến nỗi khổ của người nông dân nơi thôn
quê và dân nghèo thành thị. Cầm bút viết văn, ông đã bày tỏ thái độ cảm thông,
chia sẻ với quê nghèo bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng. Tô Hoài đã
để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ cả trước và sau Cách mạng tháng Tám.
Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm. Từ trước Cách mạng tháng Tám, khi
mới 17, 18 tuổi, ông đã có một số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
(Tiếng reo, Đan áo). Từ giã vườn thơ lãng mạn ông đến với cánh đồng văn
xuôi hiện thực. Nước lên là truyện ngắn đầu tiên được đăng trên Hà Nội tân
văn. Và khoảng bốn năm sau, Tô Hoài “viết như chạy thi”để có được nhiều đầu
sách tiêu biểu: Nhà nghèo (1941), O chuột (1942); các tiểu thuyết: Dế mèn
phiêu lưu ký (1941), Giăng thề (1941), Quê người (1942), Xóm giếng ngày xưa
(1944), Cỏ dại (1944). Những sáng tác thời kì này chủ yếu tập trung vào hai đề
tài chính đó là truyện viết về loài vật và về làng quê tác giả.
Sau Cách mạng, với Tô Hoài, là một quá trình gần 60 năm viết bền bỉ,

Có thể thấy, những tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng chủ yếu
viết về vùng quê ngoại ở làng Nghĩa Đô và các khu vực lân cận như Bưởi,
Võng Thị, Trích Sài Trong tác phẩm của ông giai đoạn này hiện lên những
đường thôn ngõ xóm, những căn nhà đơn sơ luôn văng vẳng tiếng khung cửi
lách cách, những “tàu seo” róc rách lúc đêm khuya, những cánh đồng rộng,
những mảnh vườn nhỏ với nhiều loại cây, quả quen thuộc của một vùng quê
Thế giới nhân vật của Tô Hoài trước Cách mạng chủ yếu là những
người nông dân, thợ thủ công hoặc nông dân pha thợ thủ công. Họ vừa làm
ruộng, vừa dệt lĩnh, cuộc sống của họ quanh năm nghèo đói, lam lũ. Tô Hoài
đã phát hiện ra rằng: “Người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ”, có
nghĩa là đã là con người thì đều có tất cả mọi thứ, có phẩm chất, có thói tật,
có hay, có dở Theo ông con người không phải là “thánh nhân”, mà có cả xấu
- tốt, thiện - ác, thậm chí còn có cả những phần đen tối lẩn khuất trong tâm
hồn. Trong cái nhìn của Tô Hoài, con người dẫu có những khổ đau, bất hạnh,
nhưng họ biết vươn lên dù có phải vật lộn với cuộc sống muôn vàn khó khăn.
Họ vượt qua những khổ đau, nhọc nhằn để tìm lại cuộc sống của chính mình.
Chẳng hạn trong truyện Nhà nghèo tác giả kể về cái Gái. Nó sinh ra trong
cảnh nghèo, thiếu ăn thiếu mặc và suốt ngày phải chứng kiến cảnh bố mẹ
mắng chửi nhau. Vì cảnh nghèo, cái Gái phải đi theo dân làng bắt nhái để
kiếm ăn cho gia đình rồi chẳng may bị rắn độc cắn chết. Khi cái Gái chết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
người bố nghèo mới nhận thấy nỗi khổ của đứa con khi sống trong cảnh túng
quẫn cả về vật chất và tinh thần.
Tô Hoài không chỉ nói về cảnh nghèo túng của những người ven đô mà
ông còn dựng lên biết bao cảnh phiêu bạt, li tán, tha hương. Điển hình có thể
kể đến nhân vật Thoại trong Quê người. Là một thanh niên khỏe mạnh, với

(1978), Người ven thành (1972),Quê nhà (1980), Những gương mặt (1988),
Cát bụi chân ai ( 1992), Chuyện cũ Hà Nội ( 1998), Chiều chiều ( 1999), Giấc
mộng ông thợ dìu ( 2004) …
Nếu như trước Cách mạng, Tô Hoài viết về những con người ven đô nhỏ
bé, cam chịu và nhẫn nhục thì sau Cách mạng ông vẫn tiếp tục viết về họ. Chỉ
có điều bây giờ, họ xuất hiện với một tâm thế khác, không còn là những con
người nhỏ bé như trước kia mà họ có ý thức về sức mạnh của bản thân, có
nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước lúc nguy nan.
Sau Cách mạng, có thể kể đến các tiểu thuyết của Tô Hoài như Mười
năm (1958), Quê nhà (1980) Những tác phẩm này đã khắc họa rất rõ nét về
các chặng đường biến đổi của Hà Nội.
Trong tiểu thuyết Mười năm, tác giả đã phản ánh một thời kì đau thương
của đất nước nói chung và vùng Nghĩa Đô ven đô nói riêng. Đó là vào những
năm 1935 - 1945, chỉ với mười năm nhưng đất nước ta đã trải qua biết bao biến
động, từ Mặt trận dân chủ, đến Đại chiến thế giới lần thứ hai và nạn đói hoành
hành đã cướp đi sinh mạng của hai triệu đồng bào ta. Cuộc sống của con người
nơi đây ngày càng khốn khó, người nông dân bần cùng, những người thợ thủ
công kiếm được miếng ăn rất khó khăn, chật vật. Nạn đói khiến người chết la
liệt như ngả rạ. Hầu như cái đói, cái chết đã rình rập ở tất cả mọi thôn, xóm.
Bên cạnh nỗi khổ đau, nghèo đói của người dân, Tô Hoài cũng nói đến rất
nhiều về sự giác ngộ của quần chúng nhân dân khi bị áp bức bóc lột. Họ đã đến
với Cách mạng bắt đầu từ việc tham gia các hoạt động của ái hữu thợ dệt đến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
phong trào lớn mạnh của thời kì Mặt trận Việt Minh. Tô Hoài đã thấy được sức
lớn mạnh của tập thể quần chúng nhân dân nên trong tác phẩm đã xuất hiện
những nhân vật mới như Lạp, Ba trong nhóm thanh niên cấp tiến.

Cách mạng, viết về Hà Nội, Tô Hoài đã có cái nhìn trong chiều dài lịch sử, và
với Chuyện cũ Hà Nội Tô Hoài lại có sự đổi thay trong cách viết. Đây là một
bước tiến của Tô Hoài khi ông viết về mảnh đất mà ông gắn bó cả cuộc đời
mình, có lẽ vì đó mà đề tài Hà Nội có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp sáng tác của ông.
Chƣơng 2
GIÁ TRỊ VÀ ĐẶC TRƢNG CỦA “CHUYỆN CŨ HÀ NỘI”

2.1. Bức tranh đô thị hóa trong
Chuyện cũ Hà Nội
Trong truyện ngắn Những cửa ô Tô Hoài có ghi lại rằng Hà Nội chính
thức trở thành mảnh đất của Pháp từ năm 1888, kể từ ngày 3 tháng 10.Vua Đồng
Khánh nhà Nguyễn cắt đất Hà Nội cho Pháp gọi là “nhượng địa”. Tuy nhiên, quá
trình biến Hà Nội thành “nhượng địa” của Pháp đã được khởi động từ trước đó
hơn 20 năm, khi mà công cuộc “bình định” xứ Bắc Kỳ của thực dân Pháp còn
chưa thực sự bắt đầu.
Theo quy ước được ký kết ngày 6-2-1874, Pháp được đặt tại Hà Nội một
lực lượng lính bảo vệ không quá 100 người. Diện tích khu đất nhượng cho Pháp
xây Tòa Công sứ được quy định là 2,5 héc-ta. Nhưng do sự bất lực của nhà
Nguyễn mà đại diện là Trần Đình Túc, cuối cùng khu đất nhượng này đã lên tới
18,5 héc-ta. Ngày 28-8-1875, Pháp bắt đầu đặt Lãnh sự quán tại Hà Nội. Như
vậy là, về mặt pháp lý, mặc dù Bắc Kỳ chưa chính thức trở thành đất “bảo hộ”
của Pháp song trên thực tế, Pháp đã đặt được chân vào Hà Nội. Ý đồ xâm chiếm
Bắc Kỳ của Pháp đã có cơ sở để thực hiện. Tháng 10-1875, Pháp bắt đầu khởi
công xây dựng các công trình kiên cố trên khu “nhượng địa”, chính thức mở đầu

Trích đoạn Người và cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội Cảnh trong Chuyện cũ Hà Nội Ven đô trong Chuyện cũ Hà Nội Cái hóm hỉnh và tiếng cười tinh nghịch trong văn Tô Hoài Cách kể chuyện của Tô Hoài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status