luận văn quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010 - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG CÔNG DOANH

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA
HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số

: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. DUY THỊ HẢI HƢỜNG

HÀ NỘI, 2017

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi do sự hướng dẫn
của Cô giáo TS. Duy Thị Hải Hường. Các số liệu trong luận văn là trung thực,
chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ
ràng.
Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn

1.2. Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986 ............................................... 18
1.2.1. Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế của đất
nước……… ................................................................................................. …18
1.2.2. Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986 ............................................ 22
Tiểu kết ............................................................................................................ 25
Chƣơng 2: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ HUYỆN VĂN QUAN TỪ NĂM
1986 ĐẾN NĂM 1996 .................................................................................... 27
2.1. Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ của đất nước trong mười năm đầu đổi mới
......................................................................................................................... 27
2.2. Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 - 1996 ................. 30
2.2.1. Nông nghiệp, lâm nghiệp ...................................................................... 32
2.2.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ....................................................... 36
2.2.3. Thương mại, dịch vụ ............................................................................. 39
2.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng ......................................................................... 40
Tiểu kết ............................................................................................................ 42
Chƣơng 3: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA HUYỆN VĂN QUAN TỪ
NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 ......................................................................... 43
3.1. Chủ trương của Đảng và chính quyền địa phương về phát triển kinh tế . 43
3.2. Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1996 - 2010 ................. 46
3.2.1. Nông nghiệp, lâm nghiệp ...................................................................... 46
3.2.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ....................................................... 52
3.2.3. Thương mại, dịch vụ ............................................................................. 55
3.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng ......................................................................... 58
Tiểu kết ............................................................................................................ 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 70
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 78


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

khuyết điểm. Khó khăn của nước ta ngày càng lớn, sai lầm chậm được sửa
chữa, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những năm 80 của thế kỷ
XX, lạm phát “phi mã” lên tới 774,7%. Trước thực trạng đó, đòi hỏi Việt
Nam phải đổi mới để thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đổi mới là
vấn đề “sống còn” của cách mạng Việt Nam.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối
đổi mới toàn diện đất nước. Từ năm 1986 đến nay, đường lối đổi mới của
Đảng được điều chỉnh, bổ sung qua các kỳ Đại hội VII (tháng 6 - 1991), VIII
(tháng 6 - 1996), IX (tháng 4 - 2001), X (tháng 4 - 2006), XI (tháng 1 - 2011),
mở đường và tạo động lực cho kinh tế Việt Nam phát triển. Sau 30 năm đổi
mới, đất nước ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn: Thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế, bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Văn Quan là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn,
cách tỉnh lỵ 45 km theo trục đường quốc lộ 1B từ ạng Sơn đi Thái Nguyên.
Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em, Văn Quan có điều kiện tự nhiên

1


và tài nguyên phong phú, có hệ thống giao thông thuận lợi nên có nhiều tiềm
năng, lợi thế để phát triển kinh tế.
Trải qua 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2010) của Đảng,
huyện Văn Quan đã đạt nhiều thành tựu cơ bản trong xây dựng và phát triển,
nhất là trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được, huyện Văn Quan vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn. Vì vậy, việc
nghiên cứu tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, đời sống
của nhân dân huyện Văn Quan nói riêng và của cả tỉnh Lạng Sơn nói chung
trong từng giai đoạn lịch sử, từ đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về sự phát
triển của địa phương trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.

trình “Đổi mới kinh tế - xã hội thành tựu, vấn đề và giải pháp”. Công trình do
ông làm chủ biên, được nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm
1991, đã phân tích các lĩnh vực chủ yếu của đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam
sau 4 năm thực hiện đường lối đổi mới, qua đó nêu lên những thành tựu đã đạt
được, chỉ ra những vấn đề tồn tại từ lâu hoặc mới nảy sinh và đề xuất một số
giải pháp sắp tới nhằm góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực
hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2000.
Công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
nền kinh tế quốc dân” của GS. Đỗ Đình Giao do nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội xuất bản năm 1994 đã luận giải về vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân và quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trong nền kinh tế quốc dân ở
nước ta nói chung với những thành tựu và bài học kinh nghiệm.
Tác giả Vũ Anh Tuấn làm chủ biên công trình “Đổi mới kinh tế và phát
triển”, do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội công bố năm 1994, đã trình
bày những nét chính của quá trình đổi mới các chính sách kinh tế, vai trò của
Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tác động của quá trình
đổi mới kinh tế đối với tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

3


công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những chuyển biến của cơ cấu xã hội, xu
hướng phân tầng xã hội dưới ảnh hưởng của đổi mới chính sách kinh tế.
PGS. Đỗ Hoài Nam với công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
và phát triển mũi nhọn” do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản
năm 1996 đã đi sâu vào nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở mức độ
vi mô hơn. Theo tác giả, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cần phát
triển những ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có
của từng vùng.

Tác giả Trần Bá Đệ trong cuốn sách: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay,
những vấn đề lí luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia, Hà Nội, năm 1998. Cuốn sách đề cập tình hình Việt
Nam sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, hoàn thành thống nhất nước nhà, khắc
phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế. Đất nước lâm vào
khủng hoảng kinh tế - xã hội trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả
nước, những bước tìm tòi, khảo nghiệm để đổi mới đất nước và khẳng định đổi
mới là tất yếu đối với Việt Nam. Đặc biệt, cuốn sách trình bày rõ đường lối đổi
mới của Đảng tại Đại hội VI (1986), khẳng định sự đúng đắn của đường lối
phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Trong công trình “Lịch sử Việt Nam, tập IV (1945 - 2005)” của tác giả
Lê Mậu Hãn do nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2013, công trình đề cập
đến hai cuộc kháng chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân Việt Nam (1945 1975); công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975); công
cuộc khôi phục và xây dựng nước nhà trong 10 năm đầu thống nhất đất nước,
trước khi đổi mới (1976 - 1986) và đặc biệt công trình có đề cập đến quá trình
tìm tòi, khảo nghiệm cách quản lý kinh tế theo mô hình mới, từ bỏ mô hình
quản lý kinh tế quan liêu, bao cấp, kế hoạch, để đến năm 1986, Việt Nam đổi
mới toàn diện đất nước.
Trong cuốn sách “Lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000”, tập
15, tác giả Nguyễn Ngọc Mão làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
năm 2014 (công trình đã tái bản vào năm 2017). Công trình dựng lại bức tranh

5


khá sinh động về phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam trong 15 năm đầu đổi mới,
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng.
Với các tỉnh miền núi, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: “Một
số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc”, Viện Dân tộc học thực
hiện, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1987. Công trình tập hợp

Hoàng Văn Hoa (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
1998. Cuốn sách nêu lên thực trạng kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền
núi hiện nay cũng như tính cấp thiết phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội; đồng thời đề ra các định hướng phát triển, một số giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc văn hóa,
ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đoàn kết các dân tộc miền núi theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và từng khu vực cụ
thể thuộc vùng dân tộc miền núi Việt Nam nói riêng.
Công trình: “Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và
miền núi phía Bắc”, Nhà xuất bản ao động xã hội, Hà Nội, năm 2006, sách do
Bộ Công nghiệp phối hợp với các ngành kinh tế, các địa phương, các doanh
nghiệp trong vùng thu thập thông tin xuất bản. Sách giới thiệu khái quát tiềm
năng, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương trong vùng.
Trong công trình: “Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt
Nam”, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia
Hà Nội thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, năm 2008, tập
hợp những bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về
những đề tài đang mang tính thời sự ở Việt Nam như quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, sự thay đổi các mối quan hệ lao động, thành quả phát triển trong
thời kỳ mở cửa ở vùng cao Việt Nam v.v…
2.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về tỉnh Lạng Sơn và huyện Văn
Quan trong thời kỳ đổi mới
Trong cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1930 - 1954)”
trình bày lịch sử đấu tranh của nhân dân huyện Văn Quan từ khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm
1945 và trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Đồng thời, cuốn sách
cũng trình bày lịch sử hình thành của huyện Văn Quan; quá trình đấu tranh,

7



8


Đảng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng và phát triển kinh tế xã hội cho những năm tiếp sau.
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn 1986 - 2000” xuất bản
năm 2010, tác giả cuốn sách trình bày thành 3 chương với nội dung chủ yếu là
phản ánh quá trình đảng bộ tỉnh

ạng Sơn quán triệt, triển khai thực hiện

Nghị quyết Đại hội VI, VII, VIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh ạng Sơn lần thứ X, XI, XII.
Cuốn sách cũng trình bày những thành tựu của Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc tỉnh ạng Sơn, trong đó có huyện Văn Quan đạt được trên tất cả các
lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại,
củng cố, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề
cập đến những khó khăn, yếu kém trong 15 năm Đảng bộ ạng Sơn thực hiện
đường lối đổi mới. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo trong xây dựng phát triển tỉnh ạng Sơn giai đoạn sau.
Đến năm 2013, Ban Thường vụ Huyện ủy Văn Quan biên soạn cuốn
sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1986 - 2005). Với bốn phần chính
là: 1. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Văn Quan bước vào thực hiện
công cuộc đổi mới giai đoạn 1986 - 1990; 2. Đảng bộ huyện Văn Quan lãnh
đạo thực hiện công cuộc đổi mới giai đoạn 1991 - 1995; 3. Đảng bộ huyện
Văn Quan lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa giai đoạn 1996 - 2000; 4. Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đaị hóa giai đoạn 2001 - 2005, cuốn sách đã trình bày
quá trình hai mươi năm Đảng bộ huyện Văn Quan lãnh đạo nhân dân thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến năm 2005. Đảng bộ huyện
đã lãnh đạo nhân dân nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, từng

núi phía Bắc trong thời kỳ đổi mới đã đề cập, gồm có:
- ịch sử Việt Nam trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc và thống
nhất đất nước (1945 - 1975), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
(1954 - 1975) và cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986)
- Thời kỳ kinh tế đất nước khó khăn, lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã
hội (1976 - 1986), dẫn đến những tìm tòi, khảo nghiệm cách quản lý kinh tế

10


theo mô hình mới. Đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1986), những chủ
trương, chính sách xây dựng nền kinh tế thị trường từ năm 1986 đến nay.
- Đường lối, chính sách dân tộc, những vấn đề cấp bách về phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay để khai thác, phát huy
những thế mạnh, các tiềm năng kinh tế, bảo vệ môi trường, phát huy bản sắc
văn hóa, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, đoàn kết các dân tộc miền núi.
Các công trình nghiên cứu về huyện Văn Quan đã đề cập, gồm có:
- Lịch sử hình thành, đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, dân cư, hành chính, tôn giáo, dân tộc của huyện Văn Quan.
- Những thành tựu và hạn chế trong quá trình khôi phục, xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội huyện Văn Quan trong giai đoạn đấu tranh giành
chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ từ năm
1930 đến năm 1975.
- Những thành tựu, hạn chế trong thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế - xã
hội sau khi đất nước thống nhất (1976 - 1986) và quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới.
2.3. Những vấn đề luận văn tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, luận văn trình bày, làm rõ
vấn một số vấn đề sau:

đánh giá một cách chân thực, khách quan những khó khăn, hạn chế trong quá
trình phát triển kinh tế của huyện trong thời gian đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn
Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu huyện Văn Quan của tỉnh ạng
Sơn hiện nay gồm 23 xã và 1 thị trấn (thị trấn Văn Quan, xã Yên Phúc, xã
Bình Phúc, xã Xuân Mai, xã ương Năng, xã Tú Xuyên, xã Tri ễ, xã Hữu
ễ, xã Hòa Bình, xã Tân Đoàn, xã Tràng Phái, xã Tràng Sơn, xã Đại An, xã
Vĩnh ại, xã Vân Mộng, xã Trấn Ninh, xã Song Giang, xã Khánh Khê, xã
Văn An, xã Chu Túc, xã Đồng Giáp, xã Tràng Các, xã Việt Yên, xã Phú Mỹ).

12


Phạm vi thời gian: uận văn nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2010.
Năm 1986 là mốc thời gian Việt Nam tiến hành đổi mới đất nước và cũng là
năm Đảng bộ huyện Văn Quan tiến hành Đại hội lần thứ XV (1986) đề ra
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới.
Năm 2010 là mốc tổng kết 25 năm đổi mới đất nước và kết thúc giai
đoạn 25 năm phát triển kinh tế huyện Văn Quan.
4.3. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành luận văn, tác giả dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Văn kiện Đảng về đường lối đổi mới và xây dựng đất nước.
- Tài liệu lưu trữ tại địa phương gồm: Nghị quyết, Chỉ thị, báo cáo tổng
kết, chương trình đề án phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh ạng Sơn, Huyện uỷ,
Uỷ ban nhân dân huyện Văn Quan trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến năm
2010; Tài liệu của Cục thống kê tỉnh ạng Sơn, Phòng lưu trữ huyện Văn Quan.

năm 1996
Chƣơng 3: Chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan từ năm 1996 đến
năm 2010

14


Chƣơng 1
KHÁI QUÁT HUYỆN VĂN QUAN TRƢỚC NĂM 1986
1.1. Khái quát huyện Văn Quan
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Văn Quan là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh ạng Sơn, cách
thành phố ạng Sơn 45km theo trục đường Q 1B. Phía Bắc giáp huyện Văn
ãng. Phía Nam giáp huyện Chi ăng và Hữu ũng. Phía Đông giáp huyện
Cao ộc và thành phố ạng Sơn. Phía Tây giáp huyện Bình Gia và Bắc Sơn.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 55.066,97ha, bao gồm 23 xã và 1 thị
trấn [90, tr. 5].
Văn Quan nằm ở cửa ngõ phía Tây của thành phố ạng Sơn. Với hệ
thống giao thông khá thuận lợi, huyện Văn Quan có 2 quốc lộ đi qua là Quốc
lộ 1B và Quốc lộ 279. Quốc lộ 1B chạy từ Đông sang Tây, đóng vai trò trục
chính trong hệ thống giao thông, nối liền giữa vùng kinh tế mở Đồng Đăng ạng Sơn và Bình Gia - Bắc Sơn. Quốc lộ 279 chạy từ Bắc xuống Nam, là
tuyến giao lưu với Đồng Mỏ - Chi

ăng và các tỉnh miền xuôi. Ngoài ra,

huyện còn có các hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ nối với 2 trục đường quốc
lộ trên, phục vụ nhu cầu giao thương của nhân dân các dân tộc trong huyện.
Đây là yếu tố thuận lợi để huyện Văn Quan phát triển kinh tế.
Về khí hậu, Văn Quan chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc, là
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng mang những nét riêng biệt. à huyện có

kẽ các thung lũng nhỏ và nghiêng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc. Địa thế
hiểm trở được tạo ra bởi những dãy núi đá vôi dốc đứng, hang động và khe
suối ngang dọc, khi gặp mưa nhiều dễ gây lũ lụt... Đây là khó khăn tác động
đến quá trình sản xuất, phát triển kinh tế và hoạt động đi lại buôn bán của
nhân dân.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội, dân cư
Về đặc điểm kinh tế. Kinh tế nghèo, vẫn mang tính chất tự cung, tự cấp
là đặc điểm nổi bật của kinh tế ở huyện Văn Quan. Kinh tế trồng trọt giữ vai trò

16


chủ yếu. Trong sản xuất nông nghiệp do tập quán lao động và công cụ lạo động
còn lạc hậu, cùng với đó là điều kiện tự nhiên khắc nhiệt, nên năng suất lao
động thấp, một năm thường chỉ trồng được hai vụ lúa là vụ chiêm và vụ mùa.
Ngoài ra, nhân dân trong huyện còn có các loại hình canh tác truyền
thống khác là canh tác ruộng nước, nương rẫy, chăn nuôi trâu, bò, ngựa, gia
súc và làm một số nghề thủ công nghiệp truyền thống mang đặc trưng của
từng tộc người, như nghề dệt vải, làm ngói ống (hay ngói âm dương) của
người Tày, Nùng. Tuy nhiên, nghề thủ công mới chỉ để đáp ứng nhu cầu sản
xuất, sinh hoạt đời sống hàng ngày trong phạm vi gia đình, địa phương và chỉ
đóng vai trò phụ trong nền kinh tế.
Về đặc điểm xã hội, dân cư. Ngoài người Kinh, huyện Văn Quan có ba
dân tộc thiểu số khác sinh sống cùng là người Nùng, người Tày và người Hoa
là chủ yếu. Các cộng đồng dân cư sinh sống đoàn kết. Đời sống của nhân dân
còn nhiều khó khăn, nhất là những hộ ở vùng cao.
Mặc dù chỉ có ba dân tộc thiểu số sinh sống nhưng các dân tộc vẫn cư
trú phân tán, rải rác trên một địa bàn rộng lớn. Từ xã đến huyện, từ huyện đến
tỉnh cách xa hàng chục kilômét đường đèo, đường núi, đi mất vài ngày đường.
Một đặc điểm nữa về cư trú của nhân dân ở trong huyện là phân bố vừa rải rác

trong nước.
Trong khi đó, tình hình quốc tế có nhiều căng thẳng. Sau năm 1975, các
lực lượng phản động quốc tế câu kết với nhau, thi hành chính sách bao vây,
cấm vận, cô lập Việt Nam. Đế quốc Mỹ xiết chặt cấm vận và lôi kéo các nước
cắt viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta còn chịu sức ép từ biên
giới phía Bắc và các lực lượng chống Việt Nam tiếp tục lôi kéo một số nước
láng giềng giúp đỡ bọn tàn quân Pôn Pốt hoạt động chống phá cách mạng.
Trước những khó khăn nêu trên, Đảng đưa ra chủ trương khôi phục và
phát triển kinh tế.

18


Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta hoàn toàn thắng
lợi, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới - giai đoạn đất nước hoàn
toàn độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nghị quyết số 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá III (1975) xác
định cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, từ hai nhiệm vụ chiến
lược cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa sang nhiệm
vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chủ nghĩa xã hội.
Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
mới ở nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách
mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư
tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy
mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội…” [37, tr. 611].
Về đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, Đại hội nêu rõ phải:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ

nhận thức đường lối kinh tế của Đảng, tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế
quản lý kế hoạch hoá tập trung, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất "bung ra".
Ngày 13 - 1 - 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100 - CT/TW Về cải tiến
công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao
động” trong hợp tác xã nông nghiệp. Chỉ thị 100 là cải tiến mạnh mẽ các hình
thức khoán của đội sản xuất đối với xã viên, mở rộng “khoán sản phẩm”. Chỉ
thị 100 đi vào cuộc sống đã tạo đà đi lên, ngăn chặn sự sa sút của nền nông
nghiệp nước ta. Năng suất, sản lượng cây, con và diện tích cây công nghiệp
tăng nhiều so với trước. Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn
năm trước.
Tháng 3 năm 1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đề
ra những mục tiêu kinh tế và xã hội là: Ổn định dần dần, tiến lên cải thiện một
bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status