luận văn quá trình chuyển biến kinh tế của huyện văn quan, tỉnh lạng sơn từ năm 1986 đến năm 2010 (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG CÔNG DOANH

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA
HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số
: 60 22 03 13

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Duy Thị Hải Hường

Phản biện 1:…………………………………………………
………………………………………………….
Phản biện 2:…………………………………………………
………………………………………………….

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Vào hồi…..giờ…..ngày…..tháng…..năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện học viện Khoa học xã hội

thành tựu đạt được, huyện Văn Quan vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó
1


khăn. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu quá trình xây dựng và phát triển
kinh tế, xã hội, đời sống của nhân dân huyện Văn Quan nói riêng và của cả
tỉnh Lạng Sơn nói chung trong từng giai đoạn lịch sử, từ đó rút ra một số
nhận xét, đánh giá về sự phát triển của địa phương trong giai đoạn hiện nay
là rất cần thiết.
Nghiên cứu đề tài này, tác giả góp phần làm rõ hơn truyền thống
lịch sử, văn hóa của nhân dân huyện Văn Quan trong quá khứ và hiện tại,
góp phần giáo dục thế hệ trẻ của huyện thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy
truyền thống quý báu đó.
Từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
tương đối hệ thống, toàn diện về kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 2010.
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Quá trình
chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986
đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tổng quan đề tài
2.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội Việt Nam và
các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời kỳ đổi mới
Vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước thời kỳ đổi mới là một nội dung
được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều hình thức, góc độ khác nhau,
điều đó được thể hiện ở các công trình: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân”, của GS. Đỗ Đình Giao, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1994; “Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành và phát triển mũi nhọn”, của PGS. Đỗ Hoài Nam, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1996; “Đổi mới đòi hỏi bức thiết của đất
nước và của thời đại”, của tác giả Trường Chinh, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà

vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, của
các tác giả Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (Chủ biên), Nguyễn Đình Phan,
Dương Thị Thanh Mai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998;
“Tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh trung du và miền núi phía
Bắc”, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội, năm 2006, sách do Bộ Công
nghiệp phối hợp với các ngành kinh tế, các địa phương, các doanh nghiệp
3


trong vùng thu thập thông tin xuất bản; “Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở
vùng cao Việt Nam”, do Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội, năm 2008 v.v…
2.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về tỉnh Lạng Sơn và huyện Văn
Quan trong thời kỳ đổi mới
Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Văn Quan tuy chưa được
nghiên cứu nhiều nhưng cũng đã được đề cập một cách khái quát trong các
công trình nghiên cứu, đó là: - Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn 1986 - 2000,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2010; Địa Chí Lạng Sơn,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1999; Lạng Sơn, 30 xây
dựng và phát triển (1980 - 2010), Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn xuất bản,
năm 2010; Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1930 - 1954), Ban Tuyên
giáo huyện Văn Quan, năm 1994; Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Quan (1955
- 1985), Ban Tuyên giáo huyện Văn Quan, năm 1998; Lịch sử Đảng bộ
huyện Văn Quan (1986 - 2005), nhà xuất bản văn hóa - thông tin, năm
2013… Các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cấp đến truyền thống
lịch sử, tinh thần đấu tranh cách mạng, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội,
đời sống của nhân dân huyện Văn Quan qua suốt chiều dài lịch sử. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu đó vẫn chưa đề cập cụ thể về tình hình
kinh tế và quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan trong thời kỳ
đổi mới, từ năm 1986 đến 2010.

rõ vấn một số vấn đề sau:
- Trên cơ sở trình bày về tình hình kinh tế, tác giả chú trọng làm rõ
quá trình chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan từ năm 1986 đến năm
5


2010, qua hai giai đoạn: 1986 - 1996, 1996 - 2010 trên các lĩnh vực nông
nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ
và xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Nêu những thành tựu và khó khăn, hạn chế về phát triển kinh tế của
huyện Văn Quan trong 25 năm đổi mới (1986 - 2010).
- Đồng thời nêu lên một vài nhận xét về quá trình chuyển biến kinh tế
của huyện trong giai đoạn (1986 - 2010).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua các nguồn tư liệu hiện có, luận văn trình bày quá trình
chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1986 đến năm
2010.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài thực hiện nghiên cứu các nhiệm
vụ sau đây:
- Trình bày khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh
tế, xã hội, dân cư của huyện Văn Quan.
- Trình bày khái quát kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986.
- Trình bày chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan trong 25 năm đổi
mới (1986 - 2010).
- Luận văn nêu lên những thành tựu về phát triển kinh tế mà huyện
Văn Quan đạt được trong 25 năm đổi mới đất nước, đồng thời cũng nhìn
nhận, đánh giá một cách chân thực, khách quan những khó khăn, hạn chế
trong quá trình phát triển kinh tế của huyện trong thời gian đó.

bức tranh về kinh tế huyện Văn Quan từ năm 1986 đến năm 2010; kết hợp
với phương pháp lôgíc để đánh giá, nhận xét, rút ra đặc điểm, bài học kinh
nghiệm của quá trình phát triển kinh tế huyện Văn Quan.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, đối
chiếu phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận

7


- Luận văn góp phần bổ sung về đường lối xây dựng phát triển kinh
tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần bổ sung nguồn tư liệu về Lịch sử Đảng bộ
huyện Văn Quan giai đoạn đổi mới đất nước.
- Luận văn là nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và giáo dục
truyền thống lịch sử địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát huyện Văn Quan trước năm 1986
Chương 2: Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan từ năm 1986 đến
năm 1996
Chương 3: Chuyển biến kinh tế của huyện Văn Quan từ năm 1996
đến năm 2010

Chương 1
KHÁI QUÁT HUYỆN VĂN QUAN TRƯỚC NĂM 1986
1.1. Khái quát huyện Văn Quan

giữ vai trò chủ yếu. Trong sản xuất nông nghiệp do tập quán lao động và
công cụ lạo động còn lạc hậu, cùng với đó là điều kiện tự nhiên khắc nhiệt,
nên năng suất lao động thấp.
Về đặc điểm xã hội, dân cư. Ngoài người Kinh, huyện Văn Quan có
ba dân tộc thiểu số khác sinh sống cùng là người Nùng, người Tày và người
Hoa. Các cộng đồng dân cư sinh sống đoàn kết. Trên địa bàn không có
đồng bào theo tôn giáo, dân cư phân bố không đều. Đời sống của nhân dân
còn nhiều khó khăn.
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội và dân
cư như trên, huyện Văn Quan vừa có nhiều thuận lợi để xây dựng, phát
triển kinh tế song cũng có rất nhiều khó khăn.
1.2. Kinh tế huyện Văn Quan trước năm 1986
1.2.1. Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế
của đất nước
Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, đất nước được độc lập, thống
nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
9


Sau chiến tranh, nhân dân rất phấn khởi, nhanh chóng bắt tay vào
xây dựng đất nước, nhưng cũng còn một bộ phận thuộc chế độ cũ móc nối
với các thế lực phản động bên ngoài, gây rối loạn trong nước. Trong khi đó,
các lực lượng phản động quốc tế câu kết với nhau, bao vây, cấm vận, cô lập
Việt Nam.
Trước những khó khăn nêu trên, Đảng đề ra chủ trương khôi phục
và phát triển kinh tế. Nghị quyết số 24 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
khoá III (1975) xác định cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.
Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của
Đảng đề ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai

Trong năm 1977, Huyện ủy đã có chủ trương chuyển trồng màu
xuống ruộng để bù đắp số lương thực bị hao hụt. Trong năm 1977, toàn
huyện đã trồng được 117ha khoai lang và 602ha ngô, đưa sản lượng tăng
lên 2.000 tấn.
Tháng 7 năm 1978, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần
thứ XII đề ra nhiệm vụ thi đua lao động sản xuất. Tháng 12 - 1978, thực
hiện Nghị quyết của Quốc hội, tỉnh Cao Lạng đã được tách thành hai tỉnh
Cao Bằng và Lạng Sơn để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới. Tháng 2
năm 1979, cùng với nhân dân các huyện trong tỉnh, nhân dân huyện Văn
Quan đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Sau khi chiến tranh kết thúc, hậu
quả để lại rất nặng nề cùng với thiên tai tàn phá làm cho sản xuất nông
nghiệp huyện huyện Văn Quan gặp nhiều khó khăn.
Năm 1980, Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XIII đề ra
nhiệm vụ kinh tế cho nhiệm kỳ mới.
Về nông nghiệp. Trong 3 năm 1980 - 1982, năng suất, sản lượng
cây trồng, vật nuôi của huyện đều tăng so với những năm trước: Năm 1980,
sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 9.767,3 tấn, năm 1981 đạt 8.008,2 tấn,
năm 1982 đạt 13.200 tấn thóc.
Về trồng trọt, chăn nuôi. Cũng trong 3 năm 1980 - 1982, đàn trâu
của huyện có 16.200 con, đàn bò có 3.146 con và lợn có 13.433 con. Các
lâm trường quốc doanh đã chuyển sang trồng mới, bảo vệ, chăm sóc cây
hồi, cây ăn quả, thúc đẩy nghề rừng phát triển.
Tháng 11 năm 1982, Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ
XIV tiếp tục đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong 3 năm (1983 1985), sản xuất nông nghiệp huyện có bước chuyển biến mới, năng suất lúa
bình quân hàng năm đạt 27 tạ/ha. Đến năm 1985, tổng sản lượng lương thực
quy ra thóc toàn huyện đã đạt 11.034,8 tấn.
11


Tiểu thủ công nghiệp. Huyện đã tổ chức và xây dựng được các hợp

12


Trước diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới đất nước. Đến
Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991) tiếp tục khẳng định quyết tâm của
Đảng và nhân dân ta đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.
2.2. Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1986 - 1996
Tháng 10 năm 1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ X đã
diễn ra và xác định nhiệm vụ kinh tế địa phương.
Tháng 9 - 1986, Đại hội Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XV đã đề
ra mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Đến tháng
6 năm 1989, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XVI đề ra
phương hướng nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội. Đến tháng 10 - 1991,
Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ huyện Văn Quan đã thông qua Nghị quyết
về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của huyện trong giai
đoạn 5 năm 1991 - 1995.
2.2.1. Nông nghiệp, lâm nghiệp
Trong 4 năm 1987 - 1990, chương trình sản xuất lương thực, thực
phẩm trên địa bàn huyện bước đầu đạt được một số kết quả. Năng suất, sản
lượng cây trồng, vật nuôi từng bước được nâng lên.
Năm 1987, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 16.445,3 tấn;
năm 1989 đạt 12.643,5 tấn, tăng 5.044 tấn so với năm 1988; đến năm 1990
đạt 12.773 tấn, tăng 129 tấn so với năm 1989. Năm 1988, đỗ tương đạt sản
lượng 433,38 tấn; thuốc lá đạt 146,16 tấn; cây thực phẩm đạt 796,7 tấn.
Bình quân lương thực đầu người đạt 316,8kg.
Chăn nuôi. Năm 1987 tổng đàn trâu của huyện có 17.446 con; đàn
bò có 4195 con; đàn lợn có 16.132 con. Đến năm 1989 tổng đàn trâu đạt
16.511 con, đàn bò là 4.578 con, đàn lợn là 13.500 con. Sang năm 1990 đàn
trâu tiếp tục tăng lên đạt 198.106 con; đàn bò đạt 5.193 con; đàn lợn có

đồng và năm 1994, tăng khá cao lên đến 205 triệu đồng.
2.2.3. Thương mại, dịch vụ
Các hoạt động thương mại và dịch vụ của huyện có bước phát triển
mới. Các thành phần kinh tế đang chuyển dần sang cơ chế hạch toán kinh
tế, sản xuất hàng hóa. Các hoạt động dịch vụ được mở rộng, lưu thông hàng
hóa trao đổi thuận tiện, lượng hàng hóa trên thị trường ngày càng dồi dào
hơn. Trong giai đoạn 1991 - 1996, huyện tiếp tục củng cố các đơn vị kinh tế
quốc doanh, tập thể, để các đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn. Huyện đã sắp
xếp lại các chợ trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ tiểu thương
kinh doanh buôn bán từng bước được mở rộng, giao lưu hàng hóa giữa các
vùng trong huyện, giữa huyện với các nơi khác.
2.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng
14


Giai đoạn 1986 - 1990, chính quyền huyện tập trung nguồn vốn để
đầu tư hoàn thành một số công trình xây dựng cơ bản và kịp thời đưa vào sử
dụng phục vụ sản xuất, đời sống.
Đến giai đoạn 1991 - 1996, huyện tiếp tục đầu tư vốn xây dựng
nhiều công trình mới. Đến năm 1995, toàn huyện có 23/24 xã thị trấn đã
hoàn thành xây dựng các tuyến đường từ huyện đến trung tâm xã, đảm bảo
cho xe cơ giới đi lại.
Tiểu kết
Trong giai đoạn 1986 - 1996, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ
Đảng, chính quyền, huyện Văn Quan từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng
kinh tế, xây dựng nền kinh tế dần phát triển. Đời sống của nhân dân từng
bước được nâng lên, diện mạo làng quê dần thay đổi. Tuy nhiên, sự phát
triển, của huyện trong giai đoạn này chưa có gì đáng kể, kinh tế nông
nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo, các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, nhất là thương mại, dịch vụ còn hạn chế.

Tháng 11 năm 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ
XIX đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát. Tháng 10 năm 2005, Đại hội

16


Đảng bộ huyện Văn Quan lần thứ XX cũng đề ra mục tiêu tổng quát về phát
triển kinh tế - xã hội.
3.2. Chuyển biến kinh tế huyện Văn Quan giai đoạn 1996 - 2010
3.2.1. Nông nghiệp, lâm nghiệp
Trong giai đoạn 1996 - 2000, nông - lâm nghiệp của huyện có bước
chuyển biến nhanh. Diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực của huyện
ngày càng tăng. Năm 1996 tổng diện tích gieo trồng đạt 6.186,3ha, tổng sản
lượng quy ra thóc đạt 14.342 tấn. Đến năm 2000, diện tích gieo trồng tăng
lên 7.099,8ha, sản lượng quy ra thóc cả năm đạt 17.124,74 tấn.
Bước vào giai đoạn 2001 - 2010. Hoạt động sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, chăn nuôi tiếp tục được đẩy mạnh, đạt năng suất cao. Năm
2001 là 21.149 tấn, năm 2005 đạt 24.000 tấn và đến năm 2010 tổng sản
lượng lương thực đạt 25.000 tấn. Bình quân lương thực đầu người năm
2001 là 318kg/người, năm 2005 tăng lên 414kg/người, đến năm 2010 tăng
lên 470 kg/người.
Lĩnh vực chăn nuôi. Trong huyện đã xuất hiện các mô hình làm ăn
lớn như kinh tế vườn rừng, kinh tế trang trại, chăn nuôi khá hiệu hiệu quả,
năm 2000, tổng đàn trâu, bò đạt 19.266 con; đàn lợn tăng từ 14.959 con
năm 1996 lên 22.637 con năm 2000.
Giai đoạn 2006 - 2010. Tổng đàn lợn năm 2001 là 24.558 con, tăng
lên 29.252 con năm 2005 và 33.300 con năm 2010. Đàn gia cầm năm 2001
có 274.000 con, năm 2005 tăng lên 306.924 con và năm 2010 tăng lên
350.000 con. Đàn trâu, bò năm 2001 là 24.544 con, năm 2005 tăng lên
27.420, đến năm 2010 là 22.900 con.

khoảng 40% nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công nghiệp vật liệu xây
dựng, hàng năm đạt sản lượng bình quân là 2,8 - 3,2 triệu viên. Khai thác
cát xây dựng chủ yếu bằng phương pháp hút từ lòng sông suối, lượng khai
thác hàng năm khoảng 1.200m3. Khai thác quặng bô xít đạt sản lượng hàng
năm bình quân khoảng 30.000 tấn.
Sản xuất và phân phối điện. Đến năm 2010, trên địa bàn huyện có
100% xã, thị trấn, có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã với tổng sản lượng
điện tiêu thụ bình quân hàng năm 4,2 - 4,8 triệu Kwh/năm.
18


Sản xuất và phân phối nước. Đến năm 2010, trên địa bàn huyện có 20%
xã, có công trình nước sạch vốn ngân sách nhà nước, riêng thị trấn chiếm 94% hộ
sử dụng nước máy, bình quân hàng năm 90.000m3/năm.
Đến năm 2010, toàn huyện có 183 đơn vị sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, trong đó có 3 đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, còn lại 180 đơn
vị tư nhân, các doanh nghiệp chủ yếu nhỏ lẻ, giá trị sản phẩm ít, ngoài ra còn có
724 hộ kinh doanh thương mại cá thể.
3.2.3. Thương mại, dịch vụ
Giai đoạn 1996 - 2000, hoạt động thương mai, dịch vụ phát triển khá,
bình quân tăng 14,28%/năm. Bước sang giai đoạn 2001 - 2010, tốc độ tăng
trưởng GDP lĩnh vực thương mại, dịch vụ của huyện bình quân cả thời kỳ 2001
- 2010 đạt 14,78%, trong đó giai đoạn 2001 - 2005 đạt 15,25%, giai đoạn 2006
- 2010 đạt 14,3%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn
năm 2001 đạt 5.301,4 triệu đồng, năm 2005 đạt 59.920 triệu đồng và năm 2010
tăng lên 100.000 triệu đồng.
Trong hoạt động ngoại thương, hoạt động xuất - nhập khẩu qua địa
bàn Văn Quan chủ yếu là xuất nhập khẩu tiểu ngạch với Trung Quốc. Tốc
độ tăng trưởng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 - 2010 là
6,25%.

triển khá nhanh với đầy đủ cơ cấu và thành phần kinh tế cơ bản. Đây là
thành tựu nổi trội, thể hiện sự cố gắng của chính quyền địa phương nhằm
đưa nền kinh tế của huyện chuyển dịch theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

20


KẾT LUẬN
1. Văn Quan là một huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn, có nhiều
dân tộc anh em cùng sinh sống, sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chính
của người dân trong huyện. Trước năm 1986, huyện Văn Quan tuy đã đạt
được nhiều thành tựu về phát triển về kinh tế - xã hội nhưng vẫn là một
huyện nghèo, kinh tế phát triển chậm, còn mất cân đối giữa trồng trọt và
chăn nuôi, giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Từ năm 1986 đến 2010, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và
Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Văn Quan
đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh
cụ thể của địa phương và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển
kinh tế. Nhờ đó, kinh tế huyện Văn Quan có những chuyển biến, diện mạo
huyện Văn Quan thay đổi một cách toàn diện, sâu sắc.
Kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng khá ở tất cả các ngành. Từ
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa theo
cơ cấu nông - lâm - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương
mại. Sản xuất nông nghiệp đã phát triển theo hướng toàn diện, cơ cấu cây
trồng, vật nuôi ngày càng hợp lý hơn, từng bước đáp ứng được nhu cầu phát
triển kinh tế. Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ
có sự phát triển với cơ cấu tăng lên so với nông - lâm nghiệp. Đời sống của
nhân dân được nâng cao, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của huyện Văn Quan.
Trước năm 1986, huyện Văn Quan cũng như các địa phương khác

cho việc tổ chức sản xuất, giao lưu hàng hóa; Trình độ dân trí không đồng
đều, chất lượng nguồn nhân lực thấp nên việc tiếp thu kiến thức văn hóa,
quản lý kinh tế và tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất bị hạn chế;
Trong sản xuất còn nặng về tự cấp tự túc, tư tưởng ỷ lại còn lớn, ý thức
vươn lên chưa cao; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện còn yếu
kém.
3. Qua việc trình bày về quá trình chuyển biến kinh tế huyện Văn
Quan trong 25 năm đổi mới, có thể rút ra một số nhận xét, đặc điểm sau:
Thứ nhất, kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế của huyện Văn Quan. Như trên đã phân tích, trong 25 năm xây
dựng, phát triển, cơ cấu kinh tế của huyện Văn Quan đã có sự chuyển dịch
theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch
vụ, thương mại. Tuy nhiên, là một huyện miền núi với truyền thống sản
xuất lúa, cây lương thực là chủ yếu, cộng với những khó khăn về vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu, cơ sở hạ tầng, giao thông kém… nên kinh tế
22


huyện Văn Quan dù có chuyển dịch nhưng tỷ trọng nông lâm nghiệp vẫn
giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Thứ hai, trong quá trình xây dựng, phát triển, kinh tế của huyện
Văn Quan phát triển không đồng đều giữa hai giai đoạn 1986 - 1996 và
1996 - 2010. Sự chuyển dịch về cơ cấu cũng như thành phần kinh tế của
huyện chỉ thực sự bắt đầu từ giai đoạn 1996 - 2010, đặc biệt là những năm
2001 - 2010.
Hơn thế, trong từng giai đoạn, sự khôi phục và xây dựng, phát triển
của từng ngành nghề kinh tế cũng không giống nhau. Nếu như giai đoạn 1986
- 1996, cơ cấu kinh tế của huyện chỉ tập trung vào lĩnh vực nông - lâm nghiệp
và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, lĩnh vực thương mại, dịch vụ hầu như
chưa có gì, đến giai đoạn 1996 - 2010, cơ cấu kinh tế của huyện đã dần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status