luận văn Đặc điểm và hành vi đi lễ chùa của sinh viên Hà Nội hiện nay - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ TUYẾT

ĐẶC ĐIỂM VÀ HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA CỦA
SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại trƣờng Đại học
Khoa học xã hội và Nhân Văn, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ TUYẾT

ĐẶC ĐIỂM VÀ HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA CỦA
SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại trƣờng Đại học
Khoa học xã hội và Nhân Văn, Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC


kì hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về sự
cam đoan này./.
Hà Nội, ngày 26 tháng 08 năm 2017
Tác giả

Trịnh Thị Tuyết


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .................... 16
1.1. Các khái niệm công cụ .......................................................................................16
1.2. Lý thuyết nghiên cứu ..........................................................................................19
1.3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ............................................................................26
CHƢƠNG 2: NHẬN DIỆN MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ HÀNH VI ĐI
LỄ CHÙA CỦA SINH VIÊN ................................................................................. 31
2.1. Mục đích và động cơ đi lễ chùa của sinh viên ................................................... 32
2.2. Đặc điểm đi lễ chùa của sinh viên .....................................................................38
2.3. Hành vi đi lễ của sinh viên ................................................................................. 51
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HÀNH VI ĐI LỄ CHÙA
CỦA SINH VIÊN ..................................................................................................... 62
3.1. Một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên ......................62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 72


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Mục đích đi lễ chùa theo giới tính ............................................................34
Bảng 2.2: Mong muốn của sinh viên khi đi lễ chùa .................................................36

Biểu đồ 19: Địa điểm sắm đồ lễ ................................................................................57
Biểu đồ 20: Tỷ lệ thông thạo về các bước hành lễ ...................................................58
Biểu đồ 21: Mức độ am hiểu về nguyên tắc khi đi lễ chùa ......................................59
Biểu đồ 22: Mức độ thông thạo về các bước hành lễ khi vào chùa .........................60
Biểu đồ 23: Thời gian thực hiện hành lễ ...................................................................60
Biểu đồ 24: Tần suất đi lễ theo giới tính ...................................................................62
Biểu đồ 25: Khoảng thời gian đi lễ theo giới tính ...................................................63


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là hiện tượng xã hội tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử loài người đã
xuất hiện từ buổi bình minh của nhân loại và tồn tại đến tận ngày này. Tôn giáo thể
hiện một nhu cầu tinh thần của con người, một nhu cầu có tính cộng đồng, dân tộc,
khu vực và nhân loại. Nó không chỉ là những niềm tin về cuộc sống sau cái chết mà
còn ảnh hưởng đến cuộc sống thực tại của con người.
Tôn giáo hiện đại là vấn đề mang tính thời sự, các vấn đề đời sống tôn giáo ngày
càng thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học. Thời gian gần đây nghiên cứu và
xem xét mối liên hệ giữa tôn giáo và đời sống con người là điều rất cần thiết bởi trong
thực tế xã hội mọi vấn đề luôn có mối liên hệ và ràng buộc lẫn nhau. Không phải ngẫu
nhiên mà Pace, Acquaviva (1998) đã nói rằng: “Thật có ích khi dành một vài dòng cho
một vấn đề ngày càng được đề cập theo cách nhìn Xã hội học”.
Phật giáo được du nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ II TCN, đây là một trong
sáu tôn giáo lớn trên thế giới (Thiên Chúa Giáo, Do Thái giáo, Kito Giáo, Hồi Giáo
và Ấn Độ giáo)1 ảnh hưởng sâu sắc đến đất nước ta trên mọi mặt của đời sống xã
hội. Phật giáo có ảnh hưởng mọi mặt từ kinh tế, chính trị đến đời sống văn hóa tinh
thần của người Việt “mỗi làng có một ngôi chùa thờ Phật, có làng to thì lập đến hai,
ba ngôi chùa. [3,tr.106].
Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” do Ban Tôn giáo
Chính phủ công bố (10-2006) nhận định “Phật giáo Việt Nam có bề dày lịch sử hơn

hóa, toàn cầu hóa về kinh tế và các lĩnh vực xã hội khác, sự bùng nổ thông tin, giao
lưu quốc tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thách thức không nhỏ đối với sinh
viên là vừa phải tiếp thu, phát triển những tri thức tiến bộ nhưng đồng thời cũng vừa
giữ gìn đạo đức và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của tri thức Việt Nam.
Thời gian gần đây đã xuất hiện không ít những hình ảnh, hành động “lệch
chuẩn” tại những ngôi chùa - nơi được coi là chốn linh thiêng đã được các phương
tiện truyền thông đại chúng phản ánh, lên án gắt gao. Hiện tượng một số bạn trẻ ăn
mặc hở hang, mát mẻ gây phản cảm không đúng với quy định ở chùa thì một số còn
có hành động quá lố khiến người khác ngao ngán đánh giá không tốt như vô tư thoải
mái đùa nghịch, trêu ghẹo, thể hiện tình cảm, thậm chí văng tục chửi bậy giữa chốn
linh thiêng…Cuộc đấu tranh giữa cái lạc hậu với cái tiến bộ, giữa lối sống lành
mạnh có lý tưởng với lối sống ích kỉ, thực dụng đang diễn ra hằng ngày. Vậy chúng
ta cần nhìn nhận về hành vi đi lễ chùa của sinh viên hiện nay như thế nào? Động cơ
và mục đích đi lễ chùa của sinh viên là gì? Đặc điểm hành vi đi lễ chùa của sinh
viên là gì? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên?

2


Sở dĩ tôi chọn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội làm địa bàn nghiên cứu vì đây là một trong những trường đại học đào
tạo các khối ngành xã hội hàng đầu của đất nước, có bề dày lịch sử phát triển lâu
đời. Hơn nữa các khối ngành đào tạo của trường là khối xã hội nhân văn nên sẽ
thuận tiện hơn cho việc trả lời các câu hỏi thuộc đề tài nghiên cứu cũng như tác giả
dễ dàng thu thập thông tin một cách chính xác nhất.
Xuất phát từ những lý do trên tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đặc điểm
và hành vi đi lễ chùa của sinh viên Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận
văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

nghĩa Mác, quan điểm về tôn giáo là biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch
sử của học thuyết này. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, nguồn
gốc và chức năng của tôn giáo khác biệt hoàn toàn với các nhà duy tâm học. C. Mác
đã chỉ ra tính hư ảo của tôn giáo, theo ông “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân
[31, tr570]. Tôn giáo là trái tim của thế giới không có trái tim, là tinh thần của xã
hội không có tinh thần, là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức. Tôn giáo chỉ là
mặt trời ảo tưởng vận động xung quanh bản thân mình. Bởi vậy, niềm tin tôn giáo là
tin vào “những bông hoa tưởng tượng”. [13]
Ăng ghen cho rằng mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu
óc con người chỉ là sự phản ánh đó trong những lực lượng trần thế đã mang hình
thức những lực lượng siêu trần thế. Và niềm tin tôn giáo chỉ là niềm tin vào lực
lượng không tồn tại trên trần thế - sản phẩm của quá trình tưởng tượng lâu dài, hình
ảnh trong quan niệm của con người. [13. Tr53]
Cách tiếp cận Xã hội học về niềm tin tôn giáo là hướng tiếp cận mới đáng
được quan tâm. E.Durkheim đã chỉ ra bản chất phổ quát, sự hoà nhập xã hội của tôn
giáo. Niềm tin tôn giáo theo ông không thể tách rời các tổ chức xã hội. Ông gắn
niềm tin tôn giáo vào niềm tin tình cảm chung của các cá nhân với một tập thể.
Durkheim đã loại trừ tôn giáo khỏi cái siêu nhiên, huyền bí và thánh thần, nhưng
ông giữ lại niềm tin, nghi lễ và khía cạnh tinh thần. [13, tr 54]
Có nhiều nghiên cứu của nhà khoa học Phương Tây về ảnh hưởng của việc
đi lễ nhà thờ và niềm tin tôn giáo trong đời sống con người. Các nghiên cứu nước
ngoài tập trung vào nghiên cứu những ảnh hưởng của việc đi lễ nhà thờ đến đời
sống của con người.

4


Năm 2006, Hội Cao huyết áp Hoa kỳ (American Society of Hypertension) đã
chứng minh rằng những người đi nhà thờ có huyết áp thấp hơn người không có
niềm tin. [30]


xem xét vai trò của Phật giáo với đời sống phương Đông không thể xem xét một
cách trừu tượng, bên ngoài sự phát triển của từng xã hội cụ thể. [12, tr23-30]
Sách Chùa Hà Nội, Sách kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội của Nhà
xuất bản Hà Nội, 2009 bàn về ba vấn đề chính (i) Đạo Phật và Phật giáo ở Việt
Nam, (ii) Kiến trúc chùa Việt Nam nói chung và (iii) chùa Hà Nội nói riêng. Cuốn
sách đã khái quát về Phật giáo và sự ra đời của Phật giáo ở Việt Nam, những giáo lý
cơ bản của nhà Phật. Theo cuốn sách, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất
sớm thông qua hai con đường đó là từ các nhà buôn và nhà truyền giáo từ Ấn Độ và
từ quân xâm lược phương Bắc. Trải quả nhiều thời kỳ, Phật giáo phát triển cực
thịnh ở thời Lý, Trần. [45]
Có nhiều sách chuyên khảo cũng như công trình nghiên cứu về Phật giáo ở
nước ta. Có thể kể đến Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Hùng
Hậu, 2002). Nghiên cứu về vấn đề Triết học Phật giáo tác giả trình bày ba nội dung
chính là lược sử Phật giáo Việt Nam đến thế kỷ XIV, thế giới quan Phật giáo Việt
Nam và Nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam. Cuốn sách tác giả nghiên cứu về sự du
nhập của Phật giáo vào Việt Nam, theo đó có nhiều những ý kiến khác nhau về sự
du nhập của Phật giáo vào nước ta. Tác giả đưa ra những nghiên cứu về sự phát
triển của Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ từ thế kỷ thứ II - VI, từ VI - XII. [17]
Về hai đặc điểm phật giáo Việt Nam, của tác giả Nguyễn Duy Hinh bàn về hai
đặc điểm chính của Phật giáo Việt Nam là tính dân gian và tính thống nhất. Tính dân
gian của Phật giáo thể hiện ở quan niệm chúng sinh bình đẳng, chúng sinh ở đây bao
gồm toàn bộ giới sinh vật, nói đúng hơn là toàn bộ giới động vật. Tính dân gian thể
hiện trong tư tưởng từ bi của Phật giáo hay còn gọi là cứu khổ cứu nạn thông qua các
hình tượng như Ông Bụt, Quan Âm. Tính thống nhất, trải qua các biến cố lịch sử, Phật
giáo Việt Nam không thống nhất, miền bắc Phật giáo mang tính cổ kính trong khi miền
Nam mang tính hiện đại hóa. Phật giáo miền Nam phân hóa đa dạng hơn và có nhiều
điểm khác biệt. [21, tr.202-227]
Nghiên cứu Phật giáo từ góc độ Xã hội học được thể hiện ở luận án khoa học
lịch sử “Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam từ thế kỷ XVII

hiện nay” của Hoàng Thu Hương trình bày sức hút của Phật giáo đối với cộng đồng
cư dân đô thị dựa trên kết quả khảo sát định tính và định lượng người đi lễ chùa tại
chùa Hà và chùa Quán Sứ Hà Nội. Theo tác giả đặc điểm của cộng đồng người theo
Phật giáo tại Hà Nội cho thấy số lượng phật tử chiếm tỷ lệ nhỏ trong cộng đồng
người theo đạo Phật. Đồng thời cộng đồng người theo đạo Phật ở Hà Nội có cơ cấu

7


trẻ và trình độ tương đối cao, nhóm nữ có tỷ lệ chiếm ưu thế hơn so với nam giới.
Vận dụng lý thuyết trao đổi trong nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo với đời sống
cá nhân, tác giả phân tích các chi phí liên quan đến thực hành nghi lễ để thỏa mãn
những ước muốn cầu mong của mình. Theo đó, người theo đạo Phật sẵn sàng chi trả
các chi phí về thời gian và tiền bạc đề cầu xin và mong muốn những điều tốt đẹp
cho gia đình và bản thân. Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra ảnh hưởng của Phật giáo
tới việc nảy sinh một số loại hình dịch vụ và phục vụ nghi lễ của Phật giáo như lễ
cúng cầu an, cầu siêu, chạy đàn...[27]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008) Phật giáo dân gian:
Con đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam, hoạt động nổi bật của Phật giáo dân
gian hiện nay là các hoạt động cúng lễ. Để đáp ứng nhu cầu của người đi lễ chùa
các nhà chùa đã có những dịch vụ đáp ứng các nghi lễ nhằm thỏa mãn nhu cầu của
người dân. Các dịch vụ gồm có cầu an, cầu siêu, cắt tiền duyên, bán khoán, chạy
đàn...điều này cho thấy Phật giáo dân gian ít quan tâm tới giáo lý hay mục đích của
đạo Phật mà tập trung vào cứu khổ cứu nạn. Người đi lễ thực hiện các hành vi cúng
lễ nhằm đạt được những mong ước, cầu mong cho cuộc sống đời thường như sức
khỏe, tài lộc, công danh. [41]
Nghiên cứu về hành vi đi lễ chùa
Nghiên cứu Xã hội học tôn giáo tiếp tục bàn đến các vấn đề cụ thể hơn trong
Phật giáo về đời sống của những người đi lễ chùa, các Phật Tử.
Luận văn cao học của Đinh Thị Vân Chi, Hà Nội 1996 về Vài nét về hiện

mô tả về đặc điểm của người đi lễ chùa. Đặc điểm đi lễ chùa được xem xét dưới các
chỉ báo giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn. Trong
đó, đặc điểm giới tính của người đi lễ của hai địa điểm chủ yếu là nữ giới. Về độ
tuổi, người đi lễ ở Đền thờ Hai Bà Trưng có độ tuổi lớn hơn 1,54 lần so với người
đi lễ ở Phủ Tây Hồ. Nhóm người trẻ thường có xu hướng đi lễ ở Phủ Tây Hồ nhiều
hơn so với đền thờ Hai Bà Trưng. Ở đền thờ Hai Bà Trưng tỷ lệ người đi lễ đã kết
hôn cao hơn, họ thường đến đề cầu mong những điều tốt đẹp cho gia đình và con
cái. Đối với nhóm nghề nghiệp, những người đi lễ chủ yếu là viên chức nhà nước.
Bên cạnh đó, nhóm kinh doanh buôn bán có xu hướng tìm đến Phủ Tây Hồ để xin
lộc kinh doanh. [19]
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước
đã đề cập đến nhiều vấn đề và khía cạnh khác nhau của tôn giáo, trong đó đã có
những nghiên cứu về người đi lễ chùa trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên, ở khía cạnh

9


vi mô, chưa có những nghiên cứu cụ thể về hành vi đi lễ chùa của đối tượng là sinh
viên đang học tập và sinh sống tại địa bàn Hà Nội. Vì vậy nghiên cứu này hi vọng
sẽ bổ sung thêm một phần chân dung người đi lễ chùa tại Hà Nội cho các công trình
nghiên cứu khoa học trong nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn chỉ ra động cơ, mục đích của
nhóm sinh viên đi lễ chùa; đặc điểm và hành vi của nhóm sinh viên đi lễ chùa, và
những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đi lễ chùa của sinh viên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Tìm hiểu và phân tích động cơ, mục đích đi lễ chùa của sinh viên
Thứ hai: Luận văn phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của đặc điểm và hành

liệu đã giúp nhóm nghiên cứu có thể so sánh những phát hiện từ cuộc khảo sát với
những kết quả được tìm thấy trong tài liệu. Việc so sánh này vô cùng quan trọng cũng
như giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong nghiên cứu này.
* Thu thập thông tin sơ cấp:
- Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Phỏng vấn sâu cá nhân là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để thu
thập ý kiến cá nhân, quan điểm, kinh nghiệm. Trong nghiên cứu này, một hướng dẫn
cho phỏng vấn sâu cá nhân với câu hỏi "mở" đã được thiết kế linh hoạt thu thập thông
tin cần thiết từ người trả lời. Phỏng vấn sâu tập trung tìm hiểu những nguyên nhân sinh
viên tham gia vào hoạt động đi lễ chùa, những cách thức sinh viên tham gia vào việc đi
lễ như thế nào. Những mong muốn khi thực hiện những hành vi đó là gì.
Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn 08 trường hợp sinh viên đi lễ chùa gồm cả
nam và nữ (mỗi năm học 1 nam 1 nữ) thuộc các khoa Báo chí; Lưu trữ học; Xã hội
học; Chính trị học; Lịch sử; Tâm lý học; Công tác xã hội; Du lịch.
Ngoài ra để thu thập thêm thông tin và những đánh giá khách quan nghiên cứu
thực hiện 02 phỏng vấn sâu sư thầy thuộc hai chùa Phúc Khánh và Chùa Hà, nhằm bổ
sung thêm thông tin cho nghiên cứu.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến
Phương pháp trưng cầu ý kiến được sử dụng để thu thập thông tin định
lượng, cung cấp thông tin bổ sung cho những phát hiện của phần nghiên cứu định

11


tính. Thông tin định lượng tiến hành trên các sinh viên trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn thông qua phiếu trưng cầu ý kiến nhằm thu được các thông tin
phục vụ nghiên cứu. Thông tin nghiên cứu thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm
SPSS 21 để lọc ra những thông tin cần thiết.
Chọn mẫu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên tại trường Đại


Năm thứ hai

30

30

60

12


Năm thứ ba

30

30

60

Năm thứ tư

30

30

60

Tổng



Giới tính

giáo lý/giáo luật

Đặc điểm hành vi đi

Năm học

lễ chùa

Nơi cƣ trú

Hành vi đi lễ chùa của
sinh viên

Đặc điểm

Tần suất đi lễ chùa

Cách thức hành lễ

ngôi chùa

Ngƣời
Cách thức sắm lễ

thân/bạn bè

Động cơ, mục đích đi

VI ĐI LỄ CHÙA CỦA SINH VIÊN.
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HÀNH VI ĐI LỄ
CHÙA CỦA SINH VIÊN.

15


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm “Hành vi”
Khái niệm hành vi theo từ điển Tiếng Việt “Hành vi con người là toàn bộ
những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một
hoàn cảnh thời gian nhất định” [48]. Theo từ điển Tâm lý học Mỹ “Hành vi là thuật
ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó
có thể đo lường được của bất cứ cá nhân nào”.
1.1.2. Khái niệm “Đi lễ chùa”
Theo từ điển Tiếng Việt - NXB Hồng Đức [48] thì khái niệm đi chùa là “tới
chùa cúng và lạy phật”.
Cúng là dâng lễ vật cho Trời Phật, Thánh thần, Tổ tiên, Ma quỷ với lời vái và
nhang đèn, theo từ điển Tôn giáo - NXB Tôn giáo [49].
“Chùa là ngôi nhà làm nơi thờ Phật, thường là nơi lợp ngói, mái uốn cong”,
Theo đại từ điển Tiếng Việt: Hành động đi lễ chùa là đến chùa để lễ Phật.
Theo sách Chùa Hà Nội “Chùa” là từ thuần việt chỉ nơi đặt thờ tượng Phật, là
nơi cư trú tu hành đạo Phật của các Tăng ni nơi thực hành các nghi thức tôn giáo tín
ngưỡng phật giáo của các Phật tử. Chùa là nơi thờ Phật và tu hành theo đạo Phật do
đó chùa mang hai ý nghĩa: Thứ nhất chùa là công trình kiến trúc được xây dựng
nhằm mục đích thờ phụng các Phật, Bồ Tát, A La Hán...Thứ hai chùa là địa điểm để
thực hành các hoạt động các nghi lễ Phật giáo của các tín đồ. Như vậy, với ý là địa
điểm để thực hành các nghi lễ Phật giáo đi lễ chùa bao gồm các hoạt động thực
hành các nghi lễ Phật giáo của tín ngưỡng và Phật tử. [45]

nhấn mạnh là bộ phận nhạy cảm nhất trong giới trí thức. Nguyên nhân là do sự phát
triển thể chất và tâm sinh lý của lứa tuổi này cho phép sinh viên có thể chiếm lĩnh
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hiệu quả nhất. Hoạt động chủ đạo của sinh viên
là hoạt động học tập và nghề nghiệp.
1.1.4. Khái niệm “Phật giáo”
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới. Theo từ điển Tôn
giáo “Phật giáo là Triết học tìm kiếm sự giải đáp về điều bí ẩn tồn tại trong vũ trụ,
một niềm an ủi chống lại sự lo ngại về sự sống và về chuỗi luân hồi nhất là một
minh triết thông qua sự từ bỏ thế gian, một đạo đức.”
Phật giáo là một trào lưu Triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ
VI TCN, ở miền Bắc Ấn Độ, phía nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ

17


và Nê Pan ngày nay. Ra đời trong làn sóng phản đối của đạo Bà La Môn và chế độ
phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu
sắc đã trở thành một trong những ngọn cờ của phong trào đòi tự do tư tưởng và bình
đẳng xã hội ở Ấn Độ đương thời. Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư
tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni. Phật trong tiếng Phạn gọi là Bouddha, tiếng
Hán phiên âm là “Phật đà” và tiếng Hán độc âm là “Phật”. Phật có nghĩa là đấng
giác ngộ và giác ngộ người khác (giác giả tha). Phật theo các tín đồ Phật giáo, là bậc
thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể cho ta giải thoát khỏi luật
luân hồi sinh tử.
Phật giáo là một tôn giáo của thế giới được truyền vào Việt Nam sớm nhất.
Phật giáo xuất hiện ở Việt Nam từ hơn 2000 năm trước vào khoảng thế kỷ thứ II
trước công nguyên. Đây là một trong 13 tôn giáo được Nhà nước công nhận với tư
cách pháp nhân. Sự kiện Phật giáo vào Việt Nam được thể hiện bằng sự xuất hiện của
trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Dâu) thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày
nay. [39] Trong quá trình du nhập và phát triển Phật giáo chứng tỏ là một tôn giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status