VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ CHÂM
GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG SỰ THAM GIA CỦA PHỤ
NỮ TRONG CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI
TRÊN ĐỊA HUYỆN LƢƠNG TÀI - TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN PHƢƠNG BẮC
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn cao học với đề tài “Giải pháp tăng cường
sự tham gia của Phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn
huyện Lương Tài - tỉnh Bắc Ninh”. là công trình khảo sát, nghiên cứu đƣợc
thực hiện bằng chính công sức và nỗ lực của bản thân tôi. Các tƣ liệu sử dụng
trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và trung thực.
Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017
Tác giả
thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài ............................................................... 29
2.3.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu
gom, xủ lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh .............. 39
2.4.
Đánh giá kết quả sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom xử lý
rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh ................................ 34
Chƣơng 3 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỀ TĂNG CƢỜNG SỰ THAM GIA CỦA
PHỤ NỮ TRONG CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƢƠNG TÀI - TỈNH BẮC NINH .................. 58
3.1.
Quan điểm và định hƣớng về bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn huyện ......... 58
3.2.
Định hƣớng tăng cƣờng sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu
gom, xử lý rác thải. ...................................................................................... 60
3.3.
Một số giải pháp tăng cƣờng sự tham gia của phụ nữ trong công tác
thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài ................................ 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 67
HGĐ
Hộ gia đình
LHPN
Liên Hiệp phụ nữ
TNMT
Tài nguyên môi trƣờng
PN
Phụ nữ
QLMT
Quản lí môi trƣờng
UBND
Ủy ban nhân dân
VSMT
Vệ sinh môi trƣờng
XL
Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền ........................... 39
Bảng 2.6.
Nội dung tuyên truyền trong thu gom, xử lý rác thải ........................... 40
Bảng 2.7.
Ý Kiến đánh giá về công tác tuyên truyền ........................................... 41
Bảng 2.8.
Sự tham gia của phụ nữ trong phân loại rác thải .................................. 42
Bảng 2.9.
Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom rác thải sinh hoạt .................... 43
Bảng 2.10. Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý rác thải sinh hoạt......................... 44
Bảng 2.11. Đánh giá của lãnh đạo, Ban chỉ đạo về sự tham gia của phụ nữ
trong thu gom, xử lý rác thải ................................................................ 45
Bảng 2.12. Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom rác thải nông nghiệp .............. 46
Bảng 2.13. Sự tham gia của phụ nữ trong xử lý rác thải từ nông nghiệp ............... 48
Bảng 2.14. Đánh giá của cán bộ địa phƣơng về sự tham gia của phụ nữ trong
thu gom, xử lý rác thải nông nghiệp .................................................... 50
Bảng 2.15. Đánh giá sự tham gia của PN trong công tác VS đƣờng làng ngõ
xóm ............................................................................................................... 51
Bảng 2.16. Đánh giá của cán bộ địa phƣơng về sự tham gia của phụ nữ trong
công tác thu gom, xử lý rác thải đƣờng làng ngõ xóm......................... 51
Cùng với quá trình tăng trƣởng kinh tế, vấn đề môi trƣờng ngày càng đƣợc Nhà
nƣớc và ngƣời dân quan tâm, thực hiện có hiệu quả hơn Luật bảo vệ môi trƣờng ngày
23/6/2014; Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng công
tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; Nghị
quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trƣờng trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; Nghị quyết Số: 24-NQ/TW
ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tâng cƣờng quản
lý tài nguyên và môi trƣờng.
Những năm qua, huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh đã đạt đƣợc những kết quả
đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội. Là một huyện sản xuất công nghiệp chƣa
phát triển, vấn đề môi trƣờng cần đƣợc các cấp, các ngành, đoàn thể của huyện,
trong đó có phụ nữ quan tâm nhằm thực hiện phát triển bền vững. Với nhiều hình
thức phụ nữ đã làm thay đổi dần nhận thức của ngƣời dân về vấn đề môi trƣờng,
hƣớng đến sự phát triển môi trƣờng bền vững. Phụ nữ vừa là ngƣời sử dụng, tiếp
cận, vừa là ngƣời giải quyết hàng ngày các vấn đề rác thải, giữ vệ sinh gia đình, từ
đó có vai trò quan trọng trong việc tham gia thu gom, xử lý rác thải.
Những năm qua, phụ nữ huyện Lƣơng Tài đã có nhiều đóng góp vào kết quả
phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn huyện. Hội phụ nữ
1
huyện Lƣơng Tài đã thƣờng xuyên đổi mới nội dung, phƣơng thức hoạt động để đáp
ứng yêu cầu của thực tế. Sự tham gia của phụ nữ trong các phong trào hoạt động về
môi trƣờng đã thu đƣợc những kết quả bƣớc đầu tích cực. Đồng thời nghiên cứu về
sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn cũng góp
phấn làm sáng tỏ về sự tham gia của ngƣời dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở
địa bàn cấp huyện.
Từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp tăng cường sự tham gia
của Phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lương Tài
của phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014-2016.
- Đề xuất một số định hƣớng và giải pháp chủ yếu tăng cƣờng sự tham gia của
phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài - tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 2016 - 2021.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến sự tham gia và các yếu tố ảnh hƣởng
đến sự tham gia của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội (nói chung) và áp dụng
trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về tăng cƣờng sự tham
gia của phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài
– tỉnh Bắc Ninh trong thời gian 3 năm (từ 2014 - 2016). Những khoảng thời gian
khác có liên quan tùy thuộc vào nội dung của nghiên cứu.
-Về không gian: Đề tài đƣợc nghiên cứu trên địa bàn huyện Lƣơng Tài – tỉnh
Bắc Ninh.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá vai trò của công tác bảo vệ môi
trƣờng trong phát triển kinh tế - xã hội; sự tham gia của ngƣời dân trong phát triển
(nói chung), từ đó nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom, xử
lý rác thải trên địa bàn huyện Lƣơng Tài, theo quan điểm, định hƣớng của Đảng và
Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phƣơng
pháp nghiên cứu khác nhau: chú trọng phƣơng pháp phỏng vấn, khảo sát thực địa;
phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học; phƣơng pháp thống kê mô tả; phƣơng
pháp phân tích so sánh; Phƣơng pháp nghiên cứu tƣ liệu cũng đƣợc tác giả kế thừa
3
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ
TRONG CÔNG TÁC THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về về sự tham gia của phụ nữ trong
công tác thu gom, xử lý rác thải
1.1.1. Vai trò tham gia của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội
- Khái niệm về phụ nữ :Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trƣởng
thành, hoặc đƣợc cho là đã trƣởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít
nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía ngƣời sử
dụng. Nó đề cập đến, hoặc hƣớng ngƣời ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không
xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hƣởng tích cực từ những nữ giới
này (Nguyễn Thị Thắm, 2016).
Còn theo Lƣu Bình Nhƣỡng (2010) thì phụ nữ là ngƣời luôn gắn với gia đình,
con cái từ lâu, phụ nữ đƣợc trao cho “thiên chức” là mang thai, sinh con và nuôi con
bằng sữa. Tuy nhiên, trong thực tế và xét về tiềm năng thì vấn đề con cái không chỉ
có vậy. Ngƣời phụ nữ luôn gần gũi với con, là chỗ dựa tinh thần cho con, là ngƣời
chăm sóc con từ khi còn thơ bé đến khi trƣởng thành. Ngƣời phụ nữ luôn thể hiện
đức tính đảm đang, chăm lo cho gia đình. Thƣờng là từ khi lấy chồng, ngƣời phụ nữ
bắt đầu thay đổi và tập trung vào gia đình - tổ ấm của mình dƣờng nhƣ đây là “thiên
chức” thứ hai của ngƣời phụ nữ “bảo mẫu” của gia đình.
Phụ nữ có đời sống khá phong phú. Ngƣời phụ nữ luôn luôn nhạy cảm trƣớc
những vấn đề của cuộc sống. Họ thƣờng tìm cách chia sẻ với những ngƣời thân
thiết, những ngƣời xung quanh. Sự ƣớc vọng vƣơn lên trong cuộc sống và làm
những điều lớn lao hoặc có ý nghĩa đối với bản thân, với gia đình là điều khá
thƣờng trực đối với họ (Lƣu Bình Nhƣỡng, 2010).
- Khái niệm về sự tham gia:
Theo Tạ Quỳnh Hoa (2006) thì sự tham gia là một quá trình mà Chính phủ và
cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động chung
thuộc vào yêu cầu phát triển của mỗi tổ chức.
Các lĩnh vực tham gia thay đổi tùy theo mục tiêu của ngƣời nghiên cứu. Tuy
nhiên, việc ra quyết định luôn đƣợc xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kì mục tiêu
nào và không đựơc bỏ qua và đã đƣa ra khung phân tích để giám sát vai trò của tham
gia trong các dự án và chƣơng trình phát triển. Họ thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra
quyết định, (2) Thực hiện, (3) Hƣởng lợi, (4) Đánh giá (Vũ Thị Huyền Trang, 2009)..
Trong khi đó, Vũ Thị Huyền Trang (2009) nhận thấy dự án có 3 pha và 5 hình
thức tham gia là (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện (thực hiện
và thiết kế lại), và (3) bảo dƣỡng. Khung phân tích có mục tiêu tham gia và khung
phân có mục tiêu dự án, nhƣng chúng tƣơng hợp để phù hợp với thực tế.
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài về sự tham gia phụ nữ trong công tác thu
gom, xử lý rác thải cũng mang đầy đủ những nội dung và tính chất của sự tham gia
nhƣ trong bất kỳ sự tham gia và phát triển nào. Trong nghiên cứu này, sự tham gia
của phụ nữ đƣợc hiểu là sự tham gia của tổ chức và của cả các hội viên trong tổ
6
chức đó vào các hoạt động trong chƣơng trình thu gom, xử lý rác thải vì một môi
trƣờng trong sạch.
1.1.2. Các khái niệm về công tác thu gom, xử lý rác thải
- Khái niệm về rác thải: Rác thải là những vật và chất mà ngƣời dùng không còn
muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý
nghĩa với ngƣời này nhƣng lại là lợi ích của ngƣời khác, rác thải còn đƣợc gọi là chất
thải Trong cuộc sống, rác thải đƣợc hình dung là những chất không còn đƣợc sử dụng
cùng với những chất độc đƣợc xuất ra từ chúng (Bách khoa toàn thƣ mở, 5/2017).
- Thu gom rác thải: Thu gom rác thải là hoạt động quét dọn, tập hợp, phân
loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm
hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận (Nghị định 59 của
Chính phủ,2007).
phụ nữ và cộng đồng để họ “tham gia” thực sự vào các hoạt động thu gom, xử lý.
Tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, văn hoá, điều kiện kinh tế, địa lý của từng vùng
miền khác nhau, mức độ tham gia của ngƣời dân vào công tác thu gom, xử lý ở các
cấp độ khác nhau. Các mức độ tham gia của phụ nữ có thể đƣợc coi nhƣ một tiến
trình liên tục và chia thành 5 cấp độ khác nhau thể hiện chất lƣợng sự tham gia (thể
hiện ở hình 1.1).
5
4
3
2
1
Tự nguyện và chủ động
Theo định hƣớng từ bên ngoài
Theo nghĩa vụ hay bị bắt buộc
Cung cấp thông tin
Thụ động
Hình 1.1. Các mức độ tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom,
xử lý rác thải
Nguồn: Phụ nữ huyện Lƣơng Tài (2016)
1.1.3.2. Các hình thức tham gia của phụ nữ trong thu gom, xử lý
- Phụ nữ làm: là sự tham gia lao động trực tiếp từ phụ nữ vào các hoạt động
phát triển nông thôn nhƣ: phụ nữ thực hiện thu gom, xử lý rác, phụ nữ tham gia quét
dọn đƣờng làng ngõ xóm, phụ nữ đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, phụ nữ với các
hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và
những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình.
Phụ nữ trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham
gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dƣỡng, từ những việc tham
gia đó đã tạo cơ hội cho phụ nữ có việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ.
- Phụ nữ kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chƣơng trình, hoạt động có sự
giám sát và đánh giá của ngƣời dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của
Đảng và Nhà nƣớc nói chung và nâng cao hiệu quả chất lƣợng công trình. Ở những
công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hƣởng lợi có
tác động tích cực trực tiếp đến chất lƣợng công trình và tính minh bạch trong việc
sử dụng các nguồn lực của Nhà nƣớc và của ngƣời dân vào xây dựng, quản lý và
9
vận hành công trình. Việc kiểm tra có thể đƣợc tiến hành ở tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tƣ trên các khía cạnh kỹ thuật cũng nhƣ tài chính.
- Phụ nữ quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà phụ nữ đã tham gia;
các công trình sau khi xây dựng xong cần đƣợc quản lý trực tiếp của một tổ chức do
hƣởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình. Việc tổ
chức của phụ nữ tham gia duy tu, bảo dƣỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát
huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình;
- Mọi người cùng hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy
nhiên cần chia ra các nhóm hƣởng lợi ích trực tiếp và nhóm hƣởng lợi gián tiếp.
Nhóm hƣởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hƣởng các lợi ích từ các hoạt động nhƣ thu
nhập tăng thêm của của việc thu gom rác thải, dọn vệ sinh đƣờng làng ngõ xóm, các
kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,….
Các xử lý thống kê định lƣợng đã chỉ ra mối liên hệ thuận chiều giữa mức độ
tham gia của công nhân vệ sinh môi trƣờng và của ngƣời dân trong hoạt động phân
loại và hoạt động thu gom rác thải, nghĩa là công nhân vệ sinh môi trƣờng tham gia
càng tích cực tham gia bao nhiêu thì ngƣời dân sẽ tham gia tích cực bấy nhiêu
(Nguyễn Thị Kim Nhung, 2016).
b. Đoàn thể xã hội
Đoàn thể xã hội có vai trò động viên ngƣời dân thực hiện các quy định về phân
loại và thu gom rác, chất thải... Trong các đoàn thể xã hội tại cộng đồng, Hội Phụ nữ,
Hội Cựu chiến binh và Mặt trận Tổ quốc là những đoàn thể tham gia tích cực. Hội
viên phụ nữ cần thể hiện đƣợc vai trò thúc đẩy và huy động ngƣời dân tham gia thu
gom, xử lý rác thải (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2016).
Sự tham gia của phụ nữ và quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành
tố chính của sự phát triển cộng đồng. Sự tham gia của phụ nữ và ngƣời dân là phƣơng
tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực địa phƣơng, tận dụng năng lực và tính sáng tạo của
phụ nữ để tổ chức các hoạt động hoàn thành tiêu chí môi trƣờng. Nó giúp xác định nhu
cầu của phụ nữ đƣợc sát đáng (phụ nữ cần), sự nhận thức của phụ nữ đầy đủ và rộng rãi
(phụ nữ biết), dân chủ động tham gia góp ý xây dựng (phụ nữ bàn), phụ nữ tự đứng ra
góp công, góp của xây dựng cùng với sự tham gia hƣớng dẫn của tổ chức Hội (phụ nữ
làm), vì là công trình của phụ nữ, do phụ nữ tự bỏ công xây dựng nên ngƣời phụ nữ sẽ là
ngƣời trực tiếp và tự kiểm tra bảo vệ công trình của mình (phụ nữ kiểm tra), vì lợi ích
trực tiếp của chính mình (phụ nữ hƣởng lợi). (Nguyễn Văn Chung 2016).
c. Truyền thông
Hiệu quả của truyền thông mang lại hiệu quả to lớn đến hành vi của phụ nữ và
ngƣời dân, đặc biệt là truyền thông qua hệ thống loa phát thanh của khu dân cƣ
(Nguyễn Thị Kim Nhung, 2016).
1.1.4. Nội dung sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải
1.1.4.1. Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng
cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát
huy vai trò phụ nữ tự quản, hình thành ý thức chủ động về bảo vệ môi trƣờng,
nhiễm (Hội phụ nữ Lƣơng Tài, 2016).
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu
gom, xử lý rác thải
1.1.5.1. Trình độ học vấn của phụ nữ trong công tác thu gom, xử lý rác thải
Trình độ học vấn thƣờng đƣợc đo bằng sự thành đạt, sự tích luỹ kiến thức ở
mức độ nào đó trong xã hội. Song đo trình độ học vấn dƣờng nhƣ chƣa có chỉ tiêu
tổng hợp cân sứng. Thông thƣờng ngƣời ta sử dụng một số chỉ tiêu sau: tình trạng đi
học của dân cƣ, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ học sinh trên 1000 dân, cơ cấu các
lớp học, các cấp học. Tuy nhiên mỗi chỉ tiêu đều có một sức phản ánh và hạn chế
riêng của nó (Nguyễn Văn Cừ, 2017).
Trình độ của phụ nữ là yếu tố khá quan trọng trong công tác thu gom, xử lý rác
ở địa phƣơng theo thống kê cũng cho thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa biến số trình
13
độ học vấn với mức độ tham gia vào hoạt động thu gom, phân loại và xử lý rác thải,
học thức không cao sẽ làm theo bản năng thói quen và làm theo kinh nghiêm. Kết quả
này cũng đƣợc phản ánh trong các thông tin định tính (Nguyễn Văn Chung, 2016).
Phụ nữ nhận thức đƣợc tầm quan trọng của mình trong hoạt động thu gom, xử
lý rác ở địa phƣơng sẽ có xu hƣớng tham gia và vận động những ngƣời khác trong
cộng đồng cùng tham gia tích cực hơn trong các hoạt động này. Một phát hiện khác
đƣợc đƣa ra là không phải những ngƣời nhận thức đúng sẽ có hành vi đúng. Biểu
hiện là nhiều ngƣời nhận thấy những khó khăn của công tác thu gom, xử lý rác ở địa
phƣơng do thiếu nguồn tài chính nhƣng lại e ngại và không muốn đóng thêm phí.
Rõ ràng, tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của ngƣời phụ nữ (Nguyễn
Văn Chung, 2016).
1.1.5.2. Ngành nghề và kinh tế gia đình của phụ nữ
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trƣờng đại học Kinh Tế Quốc Dân thì
khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao
lý rác tại địa phƣơng, nó đem lại tác động về kinh tế xã hội và cơ bản là môi trƣờng
tại địa phƣơng.
Chỉ đạo đối với hộ gia đình: Tại địa phƣơng việc lồng ghép công tác thu
gom, xử lý rác thải trong việc đánh giá “Gia đình văn hóa” tại các khu dân cƣ. Sẽ
thúc đẩy cho quá trình đảm bảo vệ sinh môi trƣờng.
Chỉ đạo đối với thôn: Thành lập các tổ vệ sinh môi trƣờng, thƣờng xuyên thu
gom rác thải của các họ gia đình, quét dọn đƣờng làng ngõ xóm. Nguồn kinh phí chi
trả cho ngƣời lao động sẽ chủ yếu đƣợc thu từ các hộ dân đóng góp, các cá nhân phát
sinh rác thải và các nguồn đóng góp, hỗ trợ khác. Xe chở rác đƣợc tỉnh hỗ trợ còn lại
là tự trang bị thêm xe trở rác để đáp ứng hoạt động thu gom, xử lý rác ở địa phƣơng.
Chỉ đạo đối với khu công nghiệp: Khu công nghiệp hoàn thiện hệ thống xử
lý nƣớc thải tập trung. Hệ thống này đƣợc kiểm định, đánh giá theo quy chuẩn môi
trƣờng hiện hành.
Các cơ chế này có ảnh hƣởng lớn tới tình hình thực hiện mục tiêu về môi
trƣờng tại địa phƣơng, nó đem lại tác động về kinh tế xã hội và cơ bản là môi
trƣờng (Nguyễn Văn Chung, 2016).
1.1.5.4. Chính sách hỗ trợ thu gom, xử lý rác thải
Chính sách là tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng diện nào đó của
chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt đƣợc và cách làm để
thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên
các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trƣờng (Nguyễn Anh Phƣơng, 2015).
Chính sách trong hoạt động thu gom, xử lý rác thải là các chủ trƣơng và hành
động của chính phủ nhằm tạo động lực cho các tổ chức thu gom, xử lý rác thải bằng
cách tác động nhƣ đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng và chuyển giao công nghệ.
15
1.1.6. Đặc thù sự tham gia của phụ nữ trong công tác thu gom xử lý rác thải
với các lực lượng lao độngở các ngành nghề khác
Bà Margaret Mugore, ngƣời đã dọn rác từ 6 năm nay, phải mạnh mẽ để đáp
ứng nhu cầu của công việc. Nhƣng bà Margaret Mugore nói rằng cần phải có thời
gian làm việc một cách khoa học và phù hợp.
Bà nói: "Chúng tôi thƣờng gặp vấn đề sức khoẻ, huyết áp cao và mệt mỏi vì
làm việc không có khoa học, nhƣng bây giờ tôi đã có kinh nghiệm và cách làm khoa
học hơn.
Makanyara Gandiwa, ngƣời bắt đầu làm ngƣời quét đƣờng vào năm 1996,
hiện đang lái xe tải rác. Bà nói một nhân viên thị trấn khuyến khích phụ nữ tham gia
các ngành nghề nam giới chiếm ƣu thế. Một chƣơng trình nghị sự về trao quyền
cho phụ nữ, đã truyền cảm hứng cho bà. Bà nói: "Tôi thích phục vụ mọi ngƣời
thông qua việc lái chiếc xe tải này. "Tôi khuyến khích phụ nữ tiếp nhận những công
việc mà nam giới thƣờng làm."
Tuy nhiên, bà cho biết thêm: "Việc làm đƣợc coi là một lĩnh vực của nam giới
không nên thay đổi bạn ngay cả khi bạn kết hôn. Bạn chỉ cần phải đánh giá một cách
công bằng về chồng của bạn ngay cả khi bạn đang làm việc cho một ngƣời đàn ông."
Theo Michael Chideme, quản lý giao tiếp của Thành phố Harare, những
ngƣời thu gom rác từ phụ nữ đang trở nên phổ biến với cƣ dân và thành phố đang
phấn đấu để tăng các nhóm phụ nữ để đạt đƣợc cân bằng giới tính. "Họ làm cho
khách hàng hài lòng", ông nói. "Phụ nữ cũng đang băn khoăn rằng họ có thể làm
công việc và nó cũng là một nền tảng để thực hiện các kỹ năng của họ."
Sally Dura nói: "Khi phụ nữ đƣợc trả một phần thu lao cho công sức lao
động cảu mình, nó sẽ trở nên thú vị và tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phụ nữ nới
đây làm việc nhiều hơn.
Nhóm phụ nữ này đƣợc các cƣ dân đón nhận nồng nhiệt. Hầu hết những
ngƣời nói rằng họ hạnh phúc đã đem đến cho xã hội một môi trƣờng trong sạch. Giờ
đây, những con đƣờng Thành phố Harare và khu vực công cộng không còn tình
trạng vứt rác bừa bãi nhƣ trƣớc nữa, môi trƣờng sống ngày một đƣợc cải thiện. Mô
hình thu gom, xử lý rác thải của phụ nữ Thành phố Harare, đã thực sự đem lại hiệu
1.2.2.1. Kinh nghiệm tham gia của phụ nữ trong thu gom, xử lý rác thải huyện
Hưng Hà (Thái Bình)
Trong khi bài toán xử lý rác thải ở nông thôn vẫn là vấn đề nhức nhối ở nhiều
địa phƣơng trong cả nƣớc, thì tại huyện Hƣng Hà (Thái Bình), xác định công tác
bảo vệ môi trƣờng ở nông thôn là nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là tiêu chí để
phấn đấu xây dựng nông thôn mới, ngay từ năm 2010, Hội Phụ nữ huyện Hƣng Hà
đã phối hợp cùng Phòng Tài nguyên - Môi trƣờng huyện nghiên cứu và triển khai
mô hình phân loại rác thải tại nguồn, thực hiện thí điểm tại xã Tây Đô. Triển khai
18
thực hiện mô hình là phụ nữ. Phòng Tài nguyên Môi trƣờng huyện đã mở các lớp,
các buổi nói chuyện lồng ghép trong các buổi sinh hoạt phụ nữ, nhằm giáo dục, phổ
biến tới các chị em trong xã kiến thức cơ bản về cách làm mô hình. Từ 50 gia đình
làm thí điểm năm 2010, đến nay hàng trăm gia đình thuộc 8/8 thôn của xã Tây Đô
đã tham gia thực hiện mô hình, góp phần cải thiện vệ sinh gia đình, cải thiện môi
trƣờng trong làng, ngoài xóm.
Trong khuôn viên của vƣờn nhà, các gia đình chỉ cần đào một chiếc hố có
chiều rộng 60 cm, chiều cao 80 cm, đặt vào trong hố chiếc sọt tre có nắp đậy. Mọi
rác thải hữu cơ trong sinh hoạt gia đình đƣợc bỏ xuống đó. Sự phân hủy của rác tạo
ra nguồn phân bón tự nhiên giúp cây cối phát triển tốt. Cứ sau khoảng 2- 3 tháng,
khi rác trong hố đã đầy, ngƣời dân tiếp tục lấp đất lên trên, và trên mặt đất đó có thể
tận dụng trồng chuối, rau, sắn hay cây cảnh… Liên tục luân chuyển nhƣ vậy trong
diện tích vƣờn nhà, với chi phí chỉ khoảng vài chục ngàn đồng, ngƣời dân vừa cải
thiện đƣợc môi trƣờng, vừa trồng đƣợc cây, rau, quả tƣơi tốt. Những loại rác vô cơ
khác, sẽ đƣợc bỏ vào sọt rác gia đình và mang đến bãi rác tập trung góp phần giải
quyết bài toán xử lý rác thải tại nông thôn (Thu Hoài, 2012).
1.2.2.2. Kinh nghiệm về xử lý rác thải nông thôn ở Quảng Bình với “Mô hình
hiệu quả xử lý rác thải ở nông thôn”