Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Bộ môn văn là một môn có vị trí quan trọng trong chương trình Giáo dục
nói chung và trong trường THPT nói riêng, đó là một trong hai môn chính phải
thi tốt nghiệp và tính điểm hệ số nhân đôi đối với các khối chuyên ban. Chính vì
vậy, bộ môn Văn có vai trò quan trọng quyết định tới kết quả của học sinh. Tuy
nhiên, môn Văn đã và đang mất dần vị trí của mình. Một thực tế đáng buồn
rằng: Hiện nay, đa số các em học sinh không thích và yêu môn Văn nữa. Vì sao
lại như vậy?
Trong một số trường THPT có hẳn một ban C dành cho các em yêu thích
các môn Khoa học xã hội nhưng đa số các em học ban C không phải vì yêu thích
mà vì không theo được ban A, B nên đành học ban C theo kiểu “Chuột chạy
cùng sào mới vào ban C”, còn các em yêu thích học Văn thì lại không chọn Văn,
cho dù có chọn học ban C thì khi thi Đại học các em cũng ít hoặc không theo
ban C. Theo khảo sát tình hình học tập và tâm tư của các em hiện nay phần lớn
đều cho rằng học văn không đem lại thu nhập cao, khó xin việc... trong khi nhu
cầu xã hội đang cần là phát triển về kinh tế, ngân hàng, hay các kỹ sư, bác sĩ…
với những trường đang được coi mà “mốt” và thời thượng. Vì thế đa phần học
sinh mải mê theo ban A, B mà vô tình “bỏ rơi” ban C. Các em học Văn theo kiểu
“chống đối” chỉ học đủ điểm để lên lớp và đỗ tốt nghiệp.
Hiện nay, đa phần học sinh “chống chọi” với môn Văn bằng cách sắm cho
mình một quyển “Để học tốt” cất sẵn trong cặp, học sinh soạn bài cũng chỉ
mang tính chất đối phó với thầy cô…Học sinh không cần đọc văn bản, không
cần cảm thụ và chỉ cần “tự vệ” bằng cách đó. Thậm chí, học sinh còn không cần
quan tâm tới điểm số của môn học vì bản thân các em không cho môn Văn là
quan trọng với mình. Một bộ phận học sinh thích học Văn thì lại lắc đầu vì cách
dạy Văn của cô giáo khiến cho các em không còn thích và yêu Văn nữa. Chính
vì vậy người giáo viên dạy văn cần linh hoạt áp dụng các phương pháp dạy học
mới vào trong quá trình giảng dạy.
buộc trong kì thi Đại học, cách đó chắc chắn sẽ ít nhiều đem lại hiệu quả, sẽ
giúp học sinh học Văn nhiều hơn nhưng chưa hẳn đã khiến học sinh thêm yêu
Văn.
Với mong muốn trong một tương lai không xa, Văn học sẽ trở về vị trí vốn
có của nó, tôi mạnh dạn đề xuất “Một số phương pháp giúp học sinh chủ động
tích cực trong học tập bộ môn Văn”.
2. Mục đích
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc học bộ môn Văn trong nhà trường
cũng như tình hình giảng dạy hiện nay mong muốn đề ra một số phương pháp để
tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy lòng yêu thích môn học trong học sinh. Phát huy
tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong cách học cũng như để các em có thể
tự do cảm thụ tác phẩm theo cách hiểu của mình không gò bó, khuôn sáo.
Nhằm tạo ra sự hợp tác, đối thoại giữa giáo viên và học sinh thông qua tác
phẩm, khích lệ tinh thần tự học ở học sinh, giúp học sinh hứng thú với bài học
khi chính các em là người chủ động khám phá tác phẩm.
Học sinh được phát huy nhiều khả năng của mình trong quá trình chuẩn bị
bài, tham gia các hoạt động trong tiết học cũng như được quyền bày tỏ chính
kiến của mình về tác phẩm trước tập thể.
Xây dựng một không khí học tập sôi động với tinh thần chung là thỏa mái,
nhẹ nhàng, không áp lực, không căng thẳng nhưng vẫn đạt được những hiệu quả
nhất định.
3. Đối tượng và phạm vi thực hiện
2/23
2
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
Học sinh khối 10 (10A7, 10A8), 11 (11A10) trong phạm vi giáo viên giảng
chứng minh, còn người thầy vĩ đại thì mở lối chỉ đường”. Quả là, người thầy đạt
đến độ vĩ đại phải là người biết “mở lối chỉ đường”, tức là biết gợi mở cho học
sinh học tập, biết đánh thức tiềm năng nơi học sinh và đặc biệt là rèn luyện cho
học sinh tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập. Hiện nay, trong các
trường học, phương pháp giảng dạy của các thầy cô đã được đổi mới. Quan
điểm lấy học sinh là trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở đã
đem đến cho giáo dục những thành tích đáng kể.
Với học sinh, hành trình đến với chân trời tri thức là con đường đẹp đẽ
nhưng cũng rất gian nan. Để có thể đi đến đích nhất thiết phải chọn cho mình
một thái độ học tập đúng đắn và hợp lí. Nhà bác học Đác Uyn từng nói: “ Tất cả
những gì có giá trị một chút tôi đều thu nhận được bằng cách tự học”. Vậy tự
học là gì? Là phương pháp lấy sự chủ động, tích cực của bản thân người học làm
yếu tố cốt lõi, căn bản. Nhất là với phương pháp này, người học có thể lựa chọn
được những gì phù hợp với năng lực và nhu cầu bản thân. Trên cơ sở lựa chọn
ấy, người tiếp nhận cũng sẽ lựa chọn tốt nhất và vận dụng hiệu quả nhất kiến
thức thu được cho những mục đích học tập cụ thể. Đây chính là con đường, cách
học hiệu quả để chiếm lĩnh tri thức lớn nhất làm giàu vốn hiểu biết của bản thân.
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo
dục trung học hiện nay. Luật Giáo dục (Điều 28) đã nêu: Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Như vậy, tích cực hóa chính là một
tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang
chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang đối tượng tìm kiếm tri thức để
nâng cao hiệu quả học tập. Tất cả các phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động
học tập của học sinh đều được coi là phương pháp dạy học tích cực.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: Đa số các em học sinh đến
với môn Ngữ Văn không phải vì yêu thích mà xuất phát từ những động cơ khác
của bản thân. Nếu bị giáo viên gọi thì học sinh thường có chung câu trả lời: Em
không biết; em chưa nghĩ ra; hoặc là em cũng có ý kiến giống bạn... Và nếu tiếp
tục nhận được sự gợi mở từ giáo viên thì học sinh thường ít tập trung và quan
tâm đến lời định hướng ấy. Thậm chí, có những đơn vị kiến thức rất cơ bản, có
sẵn trong sách giáo khoa, giáo viên chỉ rõ đoạn, rõ trang và học sinh biết nhưng
cũng không có một cánh tay nào xung phong. Trong quá trình luyện tập và củng
cố bài học: Học sinh rất lười làm bài, lười suy nghĩ. Việc mà các em thường làm
trong hoạt động này là: ngồi chờ, nói chuyện và chép bài sau khi giáo viên chữa.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả
như sau:
5/23
5
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
Bảng thống kê kết quả học tập
Lớp
Trước thử nghiệm (Đầu học kì I)
Sĩ số
Giỏi
10A7
44
8
24
6
(5%)
(20%)
(60%)
(15%)
0
5
26
6
(0%)
(13,5%)
(70,3%)
(16,2%)
(22,5%)
(68,5%)
(9%)
8
29
3
(20%)
(72,5%)
(7,5%)
4
23
10
(10,8%)
(62,2%)
(27%)
xoay quanh bài học, kịch hóa tác phẩm theo cách cảm nhận riêng của học sinh
vẫn giữ được nội dung nhưng mang màu sắc và tính chất đổi mới tùy theo cách
nhìn tác phẩm của các em.
Thông thường, học sinh hiện nay vốn hiếu động không thích bị gò ép vào
những khuôn mẫu nhất định nên việc mở rộng vấn đề hay tóm lược vấn đề của
bài học theo cách truyền thống đã không còn có sự phù hợp. Học sinh luôn đòi
hỏi học nhưng phải được đi đôi với chơi, do đó việc kết hợp giữa hình thức học
và một số trò chơi lồng ghép xoay xung quanh bài học sẽ có tác dụng giúp học
sinh nắm được cốt lõi của bài và ấn tượng về bài học. Có thể nói các chương
trình truyền hình ngày càng nở rộ với rất nhiều Game show và bản thân học sinh
có đã có cả một hệ thống các Game vừa chơi, vừa học cho thấy cách học truyền
thống xuất phát từ một phía có thể làm học sinh dễ nhàm chán và bỏ rơi bộ môn
Văn. Học sinh luôn có nhu cầu chơi cao hơn học do đó đưa các trò chơi vào bài
học vừa giúp học sinh phát huy được tính năng động, tích cực trong bài học của
mình đồng thời làm cho các em không còn cảm thấy nhàm chán với bộ môn
Văn.
1.2.
Quy trình thực hiện ở mỗi lớp
Để thực hiện được phương pháp học mà chơi trước hết giáo viên phải là
người có sự đầu tư suy nghĩ, có sự đầu tư về thời gian và biết cách tổ chức nhóm
hoạt động cũng như có sự thay đổi trong giáo án giảng dạy.
Tùy vào điều kiện và hoàn cảnh mỗi lớp cũng như không khí học tập hay
tâm lý học sinh trong lớp dạy mà có cách thức thực hiện sao cho phù hợp, kế
7/23
7
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
phương thức làm nhóm học tập, giáo viên cần phân chia nhóm và giao trách
nhiệm công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm đó khuyến khích tính
sáng tạo của nhóm bằng các điểm cộng thêm ngoài phần điểm theo quy định.
Tuy nhiên, có một số lớp học sinh lại có thiên hướng ưa hoạt động cá nhân,
với những lớp này cần thiết là tổ chức giảng dạy theo hình thức phát huy vai trò
của cá nhân trong các tiết học bằng phương thức tổ chức các game nhỏ nhỏ
giống như giải ô chữ, đoán nội dung hay tìm câu chủ điểm, tìm ý chính…với
8/23
8
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
hình thức này học sinh phát huy được tính chủ động của cá nhân mỗi học sinh.
Cũng có thể mở rộng hoạt động chơi với tác phẩm đối với các lớp chỉ thích hoạt
động theo nhóm nhỏ 3 tới 5 học sinh, mỗi nhóm này sẽ tự chuẩn bị câu hỏi xoay
xung quanh nội dung tác phẩm đã được yêu cầu chuẩn bị sẵn ở nhà và đưa ra
buộc nhóm kia phải trả lời trong thời gian quy định và ngược lại, giáo viên sẽ
đóng vai trò giám khảo cho cuộc thi giữa hai bên để giảng giải những thắc mắc
hay đáp án các em đưa ra chưa thật sự hợp lý. Các nhóm khác ngoài hai nhóm
nhỏ này sẽ được cộng điểm bổ sung nếu như câu hỏi được nhóm chơi trả lời
không chính xác.
Như vậy, để có thể ứng dụng các phương pháp tạo sự hứng khởi, chủ động
trong học sinh giáo viên cần phảo có sự thí điểm trước ở từng lớp và thực hiện
theo từng giai đoạn sao cho phù hợp với tình hình học tập chung của lớp đó.
2. Phương pháp cụ thể giúp học sinh chủ động tích cực trong học tập bộ
môn Ngữ Văn
2.1. Hoạt động nhóm học tập lớn
Giáo viên tiến hành chia nhóm học tập ngay từ đầu năm học thường là 10
phải học kỹ năng khen trước chê sau.
Các tổ còn lại sẽ thay phiên nhau đặt câu hỏi cho tổ có thành viên vừa trình
bày, các thành viên trong tổ trình bày phải có nhiệm vụ bảo vệ bài giảng của
mình bằng cách đưa ra các luận điểm để cho các nhóm khác thấy được sự chuẩn
bị kĩ lưỡng của nhóm mình cho đến khi giáo viên thấy ổn thì bắt đầu nhận xét và
đặt thêm câu hỏi cho người thuyết trình để xem mức độ hiểu bài tới đâu. Học
sinh sẽ ghi phần nội dung bài giảng sau khi đã có sự chọn lọc, chốt ý của giáo
viên. Trong phần này giáo viên đóng vài trò dẫn dắt, điều khiển các hoạt động
của học sinh để nội dung bài học đi đúng hướng và đúng thời gian cho phép.
Ví dụ minh họa: Khi hướng dẫn học sinh giải quyết bài tập 1 – tiết “Ôn
tập văn học trung đại Việt Nam” – Sách giáo khoa - Ngữ Văn 11 – Tập 1 (trang
77), Tôi tiến hành phương pháp thảo luận nhóm. Hoạt động nhóm diễn ra như
sau:
Quá trình chuẩn bị:
− Hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở nhà:
+ Giáo viên hướng dẫn các nhóm học sinh ( 4 nhóm) lập bảng thống
kê các tác giả, tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 gồm
các cột: Thứ tự, tác giả, tác phẩm, thể loại, nội dung, đặc sắc nghệ
thuật, giai đoạn, ghi chú. Phần ghi chú học sinh ghi rõ tác phẩm
thể hiện chủ yếu đặc điểm lớn nào về nội dung của văn học trung
đại (chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự).
Bảng thống kê thể hiện trên giấy khổ lớn để lớp có thể theo dõi.
+ Học sinh chuẩn bị bảng thống kê các tác phẩm văn học trung đại
đã làm khi tổng kết phần văn học trong chương trình 10 mang đến
lớp để có dữ liệu so sánh.
− Thực hành trên lớp:
+ Giáo viên yêu cầu các nhóm học sinh treo bảng thống kê theo mẫu vào
những vị trí đã chuẩn bị sẵn.
+ Ví dụ:
NỘI DUNG
CHÍNH
ĐẶC SẮC
NGHỆ THUẬT
GIAI
ĐOẠN
Bức tranh sinhđộng về cuộc
sống xa hoa
quyền quý nơi
phủ
chúa
Trịnh và thái
độ coi thường
danh lợi của
tác giả.
- .....
Quan sát tỉ mỉ,
ghi chép trung
thực, tả cảnh
sinh động, lựa
chon chi tiết
đặc sắc, đan
xen tác phẩm
thơ ca.
- ...........
đến hết thế kỉ XIX, em có nhận xét gì về nội dung nhân đạo trong văn
học trung đại Việt Nam ở bước phát triển này?
• Nhóm 3: Cảm hứng thế sự đã được thể hiện như thế nào trong đoạn
trích “Vào phủ chúa Trịnh”?
• Nhóm 4: Tại sao nói với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì lần đầu tiên
trong văn học dân tộc có một tượng đài bi tráng và bất tử về người
anh hùng nông dân nghĩa sĩ?
+ Học sinh các nhóm lần lượt trả lời và cuối cùng giáo viên tổng kết, đánh
giá cho điểm.
2.2. Game show học tập
11/23
11
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
Với phương pháp này có rất nhiều hình thức tiến hành, có thể thực hiện sau
phần thuyết trình của các nhóm đã kết thúc, để chốt lại giáo viên có thể đưa ra
trò chơi giải ô chữ để chốt lại vấn đề của bài học nhằm tạo ấn tượng cho học
sinh, đồng thời cũng tránh sự nhàm chán, mệt mỏi khi phải tập trung quá nhiều
cho phần tranh luận đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi.
Cũng có hình thức sử dụng trò chơi khác trong bài học, giáo viên phân
công nhiệm vụ cho mỗi tổ chuẩn bị một trò chơi xoay xung quanh nội dung
phần bài của nhóm mình chuẩn bị giống như chương trình chiếc nón kì diệu.
Các thành viên trong tổ khác có nhiệm vụ tham gia giải đáp các ô chữ, tìm ra
đúng nội dung theo sự gợi ý của nhóm chuẩn bị. Sau khi ô chữ đã được mở ra,
nhiệm vụ của nhóm chuẩn bị là sẽ giảng giải về nội dung chuẩn bị của nhóm
mình về bài học đã được thâu tóm trong trò chơi để các nhóm khác hiểu được
P Ê N Ê L Ố P
G I
Ả I
T R Í
S Ử T
H I
K Ể
Hệ thống câu hỏi như sau:
12/23
12
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
1. Thể loại phản ánh những xung đột xã hội, cuộc đấu tranh giữa thiện và ác,
chính nghĩa và gian tà? (6 chữ cái)
2. Đây là từ còn thiều trong câu ca dao: Nửa đêm trở...trông trời?( gồm 3
chữ cái)
3. Nhân vật chính trong đoạn trích Uy – lit – xơ trở về? (gồm 7 chữ cái)
4. Thể loại nào mà hình thức lưu truyền là hát – kể? (gồm 5 chữ cái)
5. Một trong những mục đích của truyện cười? (gồm 6 chữ cái)
6. Hình thức lưu truyền chủ yếu của truyện cười là gì? (gồm 2 chữ cái)
7. Ô hàng dọc: là một đặc trưng cơ bản của văn học dân gian? (gồm 6 chữ
cái).
2.3 Kịch hóa tác phẩm
Thông thường các tác phẩm ngữ văn tương đối đa dạng với nhiều thể loại,
mỗi thể loại có những đặc trưng riêng cho nên giáo viên có thể căn cứ vào đó tạo
ra một phương pháp mới để lôi cuốn học sinh. Với hình thức kịch hóa thực chất
cũng là một sân chơi cho học sinh thể hiện tài năng của mình. Nội dung này có
về tác phẩm ở một khía cạnh khác so với cách thức thuyết trình thông thường.
Ngoài ra, một vài tác phẩm có lời thoại kịch cá nhân học sinh sẽ được mời
phân vai giống như các diễn viên trên sân khấu nhưng không phải đóng kịch mà
chủ yếu thể hiện qua lời thoại. Cách nhấn nhá phù hợp với nhân vật của học sinh
cũng tạo ra ấn tượng rất lớn về tác phẩm đối với các học sinh khác. Trong phần
thể hiện này, học sinh phải trả lời được câu hỏi của giáo viên về nhân vật và các
em có quyền đặt câu hỏi trực diện cho các bạn còn lại trong lớp cùng tham gia
vào bài giảng.
Ví dụ minh họa: Khi tìm hiểu văn bản “Tình yêu và thù hận” (Rô – mê – ô và
Giu – li – ét), trong phần đọc – hiểu văn bản, thay vì gọi một học sinh đứng lên
đọc, tôi đã hướng dẫn các em học sinh đóng kịch. Quá trình ấy diễn ra như sau:
− Hướng dẫn học sinh chuẩn bị:
+ Thời gian hướng dẫn: đảm bảo thời gian các em học sinh có đủ thời gian
để chuẩn bị (3 tuần trước khi diễn ra tiết học).
+ Lựa chọn và phân vai học sinh tham gia (3 học sinh):
• Một học sinh đóng vai: Rô – mê –ô
• Một học sinh đóng vai: Giu – li – ét
• Một học sinh làm người dẫn chuyện.
+ Lựa chọn lời thoại: dựa vào đặc điểm của đoạn trích: dung lượng ít, lời
thoại ngắn và dễ nhớ nên đa phần lời thoại được giữ lại. Riêng lời thoại 1,
cắt bớt và chỉ giữ lại đoạn “Ấy...nhỉ”. Ngoài ra giáo viên còn định hướng
trước cho học sinh ngữ điệu của từng lời thoại (dựa vào bối cảnh và tâm
trạng nhân vật).
− Thực hiện trên lớp: học sinh trình bày phần chuẩn bị; giáo viên nhận xét
và cho điểm.
2.4. Quyền lợi của học sinh
Học sinh ngoài vấn đề yêu thích môn học, đối với các em điểm số cũng khá
quan trọng. để khích lệ tinh thần học tập tích cực, các em sẽ có cột điểm cộng và
cột điểm trừ. Giáo viên tính điểm cộng cho nhóm và người trình bày. Nếu nhóm
bảo vệ được bài giảng đến cùng thì sẽ giữ được trọn vẹn số điểm cộng, nếu
của học sinh trong suốt thời gian trước đó và quy đổi ra điểm số cụ thể, tối đa
nhất là cộng 1,5đ. Giáo viên sẽ công khai điểm số cộng, trừ trước lớp, phần
điểm cộng chỉ được áp dụng cho điểm miệng và 15 phút.
Như vậy, với hình thức cộng điểm cũng là một cách để học sinh luôn phấn
đấu nỗ lực không ngừng trong quá trình học tập.
3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Kết quả chung:
15/23
15
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
Hầu hết các em học sinh nắm được cách thức học tập một cách cụ thể, chi
tiết và tạo cho các em nguồn hứng khởi giống như đang bước vào một thế giới
mới ngay từ đầu. Điều này góp phần kích thích tinh thần học tập của các em
bằng chính khả năng của mình. Cũng vì vậy mà số học sinh tích cực chủ động
ngày càng có xu hướng tăng, số học sinh thụ động, chống đối, thờ ơ với môn
học giảm rõ rệt. Điều này thể hiện rất rõ trong việc chuẩn bị bài trước khi đến
lớp; tinh thần tích cực, trách nhiệm trong việc tổ chức các game show và việc
hoàn thành thuyết trình nhóm.
Với phương pháp tạo hứng thú và nâng cao khả năng tự lĩnh hội kiến thức
cho học sinh, giáo viên đã tạo nên được những tiết học phong phú, hấp dẫn học
sinh. Đặc biệt, học sinh bước đầu ý thức được vai trò và tầm quan trọng bộ môn
để từ đó có thái độ học tập tích cực chủ động hơn.
Cùng với sự thay đổi tích cực trong nhận thức thì kết quả học tập của các
em cũng được nâng cao rõ rệt. Nhất là kết quả ấy lại là sự phản ánh một cách
trung thực nỗ lực cố gắng của các em.
(20,5%)
(51,9%)
(27,6%)
6
19
15
(15%)
(47,5)
(37,5%)
2
17
18
(5,4%)
(45,9)
(48,7%)
Thờ ơ
30
14
0
(67,5%)
(32,5%)
(0%)
27
11
2
(67,5%)
(27,5%)
(5%)
20
16
giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình
hành động của cộng đồng. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương
pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói
17/23
17
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong
mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay
người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự
chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự
học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự
học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học
được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Tuy nhiên, trong học tập, không
phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động
độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối
quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ,
khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,
tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác
trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất
là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối
hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo
Đề nghị Sở giáo dục và đào tạo thường xuyên tổ chức chuyên đề “ Đổi
mới phương pháp dạy học Văn” có chất lượng và hiệu quả. Từ đó, giáo viên có
thể học tập, trao đổi và vận dụng trong quá trình dạy Văn. Đồng thời cần có
những điều chỉnh về thời gian tiết dạy phù hợp nhằm phát huy năng lực, tinh
thần chủ động tích cực của học sinh đối với bộ môn.
Đối với các thầy cô bộ môn Ngữ Văn: cần nâng cao tinh thần trách nhiệm,
tâm huyết với nghề nghiệp, thường xuyên nâng cao kĩ năng giảng dạy, trau dồi
trình độ chuyên môn. Đặc biệt cần phải xây dựng và dự kiến thực hiện kế hoạch
giảng dạy năm học phù hợp, sáng tạo và linh hoạt.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác
19/23
19
Một số phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong học tập bộ môn Ngữ Văn
PHỤ LỤC
Học sinh thuyết trình nhóm
Thảo luận bảo vệ bài thuyết trình
20/23
20
3
5.
Phương
pháp
hiện....................................................................................3
thực
6. Ý nghĩa của đề tài …………………………………………………...………….... 3
B. PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................4
I. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ................................................................................4
1.
Cơ
sở
luận......................................................................................................4
lí
2. Cơ sở thực tiễn..................................................................................................4
II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU........................................................6
1. Quy trình thực hiện phương pháp tạo sự tích cực chủ động trong học
sinh.......................................................................................................................6
1.1. Quy trình hình thành ý tưởng ……………………………….………......6
1.2. Quy trình thực hiện ở mỗi lớp …………………………………………... 7
1.3. Quy trình thí nghiệm các phương pháp ……………………………….... 8
2. Phương pháp cụ thể giúp học sinh chủ động tích cực trong học tập bộ
môn
Ngữ
Văn........................................................................................................9
2.1. Hoạt động nhóm học tập …………………………………………….…..9