TỶ LỆ MẮC LAO VÀ KIẾN THỨC VỀ BỆNH LAO CỦA BỆNH NHÂN CÓ TRIỆU CHỨNG NGHI NGỜ LAO TẠI KHOA Y HỌC NHIỆT ĐỚI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN ĐĂK TÔ NĂM 2016 - Pdf 45

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
SỞ Y TẾ
---*---

TỶ LỆ MẮC LAO VÀ KIẾN THỨC VỀ BỆNH LAO
CỦA BỆNH NHÂN CÓ TRIỆU CHỨNG NGHI NGỜ
LAO TẠI KHOA Y HỌC NHIỆT ĐỚI
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN ĐĂK TÔ NĂM 2016

Chủ nhiệm đề tài: NGÔ THỊ THO
Khoa khám - Hồi sức cấp cứu, Trung tâm y tế huyện Đăk Tô
Cộng sự:
- BS. PHẠM THỊ MAI NƯƠNG, Khoa khám – Hồi sức cấp cứu.
- ĐD. BÙI THỊ TRANG, Khoa y học nhiệt đới.
- ĐD. NGUYỄN THỊ HỒNG, Khoa khám – Hồi sức cấp cứu.
- ĐD. TRƯƠNG CÔNG ĐẠI, Khoa

khám – Hồi sức cấp cứu.

KON TUM – 2016


ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................................i
Mục lục ....................................................................................................................... ii
Các ký hiệu viết tắt .................................................................................................... iii
Danh mục các bảng .................................................................................................... iv
Danh mục biểu đồ........................................................................................................ v
Báo cáo tóm tắt ........................................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................. 1


iii

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AFB

: Acid Fast Bacilli
Trực khuẩn kháng acid cồn

AIDS

: Acquired Immunodeficiency Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

BCG

: Bacille de Calmette et Guerin

BK

: Bacille de Koch
Vi khuẩn lao

CĐ, ĐH

: Cao đẳng, Đại học

Cs

: Cộng sự

: World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới

XDR TB

: Extensively drug resistant tuberculosis
Bệnh lao siêu kháng thuốc

XDR

: Extensively drug resistance
Siêu kháng thuốc


iv

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Sự phân bố về tuổi và giới ........................................................................... 20
Bảng 3.2. Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo các nhóm tuổi....................................... 21
Bảng 3.3. Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo dân tộc ................................................. 21
Bảng 3.4. Đối tượng nghiên cứu mắc lao theo nghề nghiệp.......................................... 22
Bảng 3.5. Đối tượng nghiên cứu mắc lao trình độ học vấn ........................................... 22
Bảng 3.6. Các yếu tố làm dễ mắc lao ........................................................................... 24
Bảng 3.7. Kiến thức về phát hiện bệnh lao ................................................................... 25
Bảng 3.8. Hiểu biết thuốc lao được cấp không mất tiền ............................................... 25
Bảng 3.9. Phổ biến kiến thức về bệnh lao .................................................................... 27
Bảng 3.10. Nguồn thong tin bệnh nhân biết về bệnh lao .............................................. 27


v

đoán, điều trị lao AFB(+) và AFB(-).
Kết quả:
1. Tỷ lệ mắc bệnh lao bệnh lao ở nhóm đói tượng có triệu chứng nghi lao là 39,4%; tỷ lệ
này cao hơn ở nam giới so với nữ giới (44,1% so với 35,1%). Tỷ lệ mắc lao nhiều hơn ở 2
nhóm tuổi dưới 30 và trên 60 tuổi ( 25% và 28,6%). Dân Kinh 14,3% mắc lao so với nhóm
dân tộc thiểu số 85,7% (p> 0,05). Nghề nông tỷ lệ mắc lao cao 92,9% (p< 0,05). Nhóm
trình độ cấp I và mù chữ có tỷ lệ mắc lao cao chiếm 35,7% và 28,6% (p> 0,05).
2. Kiến thức về bệnh lao: Có 46,5% biết nguyên nhân gây bệnh lao là do vi khuẩn, có
54,9% biết đường lây truyền chính qua hô hấp, có 60,6% biết tiếp xúc trực tiếp với nguồn
lây là yếu tố làm dễ mắc lao. Bệnh nhân biết phát hiện bệnh lao nhờ xét nghiệm đờm và X
quang phổi 76,1%, có 64,8% biết thuốc lao được cấp không mất tiền, có 49,3% biết đúng
thời gian điều trị, có 57,7% biết phòng bệnh lao bằng cách phát hiện sớm và điều trị triệt
để bệnh nhân lao.
Kết luận: Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có triệu chứng nghi lao có kiến thức về bệnh
lao chưa cao.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium
tuberculosis) gây nên, có thể gặp ở hầu hết các bộ phận của cơ thể. Bệnh lây
truyền chủ yếu qua đường hô hấp mà phổi là cơ quan ảnh hưởng trước tiên và
nhiều nhất [33]. Mặc dù thuốc điều trị đặc hiệu bệnh lao đã có từ hơn 50 năm,
nhưng hiện nay bệnh lao vẫn còn là một trong những trở ngại lớn cho phát
triển kinh tế xã hội vì 75% người mắc lao nằm trong nhóm lao động chủ yếu
của xã hội. Nguy hiểm hơn, hàng ngày trên thế giới cứ 15 giây lại có một
người chết do bệnh lao, cứ mỗi giây trôi qua lại có một người mới nhiễm lao
[24].
Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do lao đã

với kiến thức về bệnh và được điều trị triệt để; ngoài phương pháp phát hiện
chủ động tại cơ cở, chúng tôi có thể phục vụ thường xuyên cho số đông bệnh
nhân khi có triệu chứng nghi lao đến khám tại khoa khám bệnh, chủ động
tuyên truyền, khám và phát hiện tại bệnh viện đạt hiệu quả cao, đỡ tốn kém
góp phần bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân tại địa phương.
Từ những lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ mắc lao và
kiến thức về bệnh lao của bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao tại khoa
Y học Nhiệt đới Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2016” nhằm 2 mục
tiêu:
1. Xác định tỉ lệ mắc lao ở bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao tại
khoa Y học Nhiệt đới Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2016.
2. Mô tả kiến thức về bệnh lao ở bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ lao
tại khoa Y học Nhiệt đới Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2016.
.


3

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình bệnh lao
1.1.1. Tình hình bệnh lao trên thế giới
Công cuộc đấu tranh của loài người với bệnh lao đã trải qua nhiều thế
kỷ. Hiện nay trên thế giới không có một nước nào không có người bị nhiễm,
bị bệnh và chết vì lao [4], [19]. Theo số liệu ước tính của Tổ chức Y tế Thế
giới (World Health Organization: WHO), trong năm 2015 có 10,4 triệu người
mắc bệnh lao mới trong đó có 1,2 triệu người đồng nhiễm HIV, có 1,4 triệu
người chết do lao, trong đó có 0,4 triệu người chết ở người HIV dương tính.
Hơn một nửa số ca mắc bệnh lao trên thế giới (60%) tập trung ở 6 quốc gia:

AFB(+) khác là 28 người, chiếm tỷ lệ 3,6% tổng số bệnh nhân lao. Riêng 6
tháng đầu năm 2016, phát hiện 88 bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới chiếm
50,8% trong tổng số 173 bệnh nhân lao được đăng ký điều trị [31].
Riêng huyện Đăk Tô năm 2015 có 33 trường hợp lao các thể, có 21
trường hợp lao AFB(+) mới. Trong 6 tháng đầu năm 2016 phát hiện 26
trường hợp lao các thể, trong đó lao AFB(+) mới là 10 người [32], [18].
1.2. Đặc điểm bệnh lao
1.2.1. Bệnh lao là bệnh nhiễm khuẩn
Vi khuẩn lao do Robert Koch phát hiện (1882) vì vậy còn được gọi là
Bacille de Koch. Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteriaccae, là vi khuẩn kháng
acid cồn, nhuộm Ziehl – Neelsen không bị tẩy màu bởi dung dịch acid cồn
nên vẫn bắt màu đỏ Fuchsin [3], [4], [26].
* Một số đặc điểm cơ bản của vi khuẩn lao:
- Vi khuẩn lao là một loại vi khuẩn hiếu khí: giải thích lao phổi là thể lao
phổ biến nhất và số lượng vi khuẩn nhiều nhất trong các hang lao có phế quản
thông [2].
- Vi khuẩn lao sinh sản chậm: trong điều kiện bình thường, chu kỳ là 12 24giờ/lần, nhưng có khi hàng tháng. Áp dụng đặc điểm này để điều trị bệnh


5

lao, chỉ uống thuốc một lần duy nhất trong ngày và phác đồ điều trị lao phải
cần thời gian dài mới có thể làm sạch vi khuẩn trong tổn thương, giảm nguy
cơ tái phát [2], [4].
- Vi khuẩn lao có khả năng kháng thuốc: vi khuẩn lao kháng thuốc là do
đột biến gen. Điều này giải thích các phác đồ điều trị lao phải phối hợp thuốc
và phải tuân thủ nguyên tắc điều trị chặt chẽ.
+ Kháng thuốc tiên phát: là kháng thuốc ở người bệnh chưa từng điều
trị thuốc lao, nay mắc bệnh lao kháng thuốc do lây nhiễm vi khuẩn từ người
bệnh bị lao kháng thuốc.

trong đờm phát hiện được bằng phương pháp soi trực tiếp là nguồn lây nguy
hiểm nhất (còn gọi là nguồn lây chính). Bệnh lao ở trẻ em không phải là
nguồn lây quan trọng vì có tới 95% bệnh lao ở trẻ em không tìm thấy vi
khuẩn trong các bệnh phẩm.
Vi khuẩn lao vào cơ thể qua đường hô hấp là phổ biến nhất. Bệnh nhân
lao phổi khi ho bắn các hạt rất nhỏ lơ lửng trong không khí, phân tán xung
quanh người bệnh, người lành hít các hạt này khi thở có thể bị bệnh. Ngoài ra
vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hoá (gây lao ruột),
đường da, niêm mạc (gây lao mắt...), nhưng các con đường này ít gặp. Vi
khuẩn cũng có thể lây nhiễm sang thai nhi bằng đường máu qua tĩnh mạch
rốn, nếu mẹ bị lao cấp tính (như lao kê), hoặc qua nước ối (khi chuyển dạ),
nếu mẹ bị lao niêm mạc tử cung, âm đạo. Trong thực tế con đường truyền
bệnh này lại càng hiếm gặp. Như vậy, con đường truyền bệnh quan trọng nhất
với bệnh lao là đường hô hấp.
Thời gian nguy hiểm của nguồn lây: đó là thời gian từ lúc người bệnh
có triệu chứng lâm sàng (hay gặp là ho khạc đờm) đến khi được phát hiện và
điều trị. Thời gian này càng dài có nghĩa là việc phát hiện bệnh lao càng
muộn, bệnh nhân càng được chung sống lâu với những người xung quanh và
càng lây nhiễm cho nhiều người. Khi bệnh nhân được phát hiện và chữa thuốc
lao thì các triệu chứng lâm sàng hết rất nhanh (trung bình 1 – 2 tuần), trong đó


7

có triệu chứng ho khạc đờm, tức là người bệnh giảm nhiễm khuẩn ra môi
trường xung quanh. Trách nhiệm của người thầy thuốc, cũng như người bệnh
(qua giáo dục truyền thông) là cần phải rút ngắn “thời gian nguy hiểm” của
nguồn lây, nghĩa là cần phát hiện sớm bệnh lao [2], [3], [4].
1.2.3. Bệnh lao có quá trình diễn biến qua hai giai đoạn
Đa số tác giả quan niệm bệnh lao có hai giai đoạn: giai đoạn lao nhiễm

trong nghiên cứu bệnh lao.
Điều cần chú ý là 95% bệnh nhân lao và 99% trường hợp tử vong lao
đều ở các nước đang phát triển; bệnh nhân tử vong có 80% thuộc lứa tuổi từ
15-60, đó là tuổi lao động. Có thể thấy rằng bệnh lao là một gánh nặng đối với
các nước đang phát triển về mặt xã hội, kinh tế [9].
1.3. Dấu hiệu nghi ngờ và phương pháp phát hiện bệnh lao
1.3.1. Dấu hiệu nghi ngờ
* Người nghi lao phổi khi có các triệu chứng sau:
- Ho kéo dài trên 2 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng
nghi lao quan trọng nhất.
- Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi.
- Sốt nhẹ về chiều.
- Ra mồ hôi “trộm” ban đêm.
- Đau ngực, đôi khi khó thở.
* Nhóm nguy cơ cao cần chú ý:
- Người nhiễm HIV.
- Người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, đặc biệt trẻ em.
- Người mắc các bệnh mạn tính: loét dạ dày-tá tràng, đái tháo đường,
suy thận mãn,...
- Người nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá, thuốc lào.
- Người sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch kéo dài như Corticoid, hoá
chất điều trị ung thư,…
*Các trường hợp có bất thường trên X- quang phổi đều cần xem xét phát hiện
lao phổi [11].


9

1.3.2. Phương pháp phát hiện bệnh lao
- Phát hiện chủ động: cán bộ y tế chủ động đưa các phương tiện phát

gây tai biến. Đối với điều trị lao cho trẻ em, liều thuốc cần được điều chỉnh
hàng tháng theo cân nặng.
* Dùng thuốc đều đặn: Các thuốc chống lao phải được dùng cùng một
lần vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn để đạt nồng độ cao nhất
trong máu và duy trì ở nồng độ đó để phát huy tác dụng tối đa.
* Dùng thuốc đủ thời gian và theo hai giai đoạn tấn công và duy trì:
- Bệnh lao không kháng thuốc: Giai đoạn tấn công kéo dài 2 – 3 tháng
nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để
ngăn chặn các đột biến kháng thuốc. Giai đoạn duy trì kéo dài 4 – 5 tháng
nhằm tiêu diệt triệt để các vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái
phát. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt (lao màng não, lao xương
khớp…), thời gian điều trị giai đoạn duy trì kéo dài hơn.
- Bệnh lao đa kháng: Tùy theo từng phác đồ điều trị, cần có thời gian
tấn công ít nhất là 8 tháng, tổng thời gian điều trị cho một phác đồ ít nhất là
20 tháng.
Điều trị bệnh lao nhằm những mục đích: khỏi bệnh, giảm lây nhiễm
trong cộng đồng, giảm tỷ lệ tử vong và giảm tỷ lệ kháng thuốc. Bệnh lao có
thể được điều trị khỏi bằng thuốc chống lao nếu được phát hiện sớm, điều trị
kịp thời và đúng nguyên tắc. Nếu không phát hiện sớm, điều trị không kịp
thời và không tuân thủ nguyên tắc điều trị thì vi khuẩn lao có thể kháng lại
với thuốc chống lao và người bệnh sẽ mắc lao kháng thuốc, đặc biệt là lao đa
kháng và siêu đa kháng [24].
1.4.2. Nguyên tắc quản lý
- Tất cả các bác sỹ (công và tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải
được tập huấn theo hướng dẫn của Chương trình Chống Lao Quốc gia và báo
cáo theo đúng quy định.
- Sử dụng phác đồ chuẩn thống nhất trong toàn quốc.


11


12

bệnh cần được mở cho thông gió tự nhiên hoặc dùng quạt điện đúng chiều để
làm loãng các hạt nhiễm khuẩn và đẩy vi khuẩn ra ngoài, dưới ánh nắng mặt
trời vi khuẩn lao sẽ dễ bị tiêu diệt. Bố trí vị trí làm việc hợp lý theo chiều
thông gió: không để không khí đi từ người bệnh đến cán bộ y tế.
+ Tại nhà bệnh nhân: các thành viên trong gia đình người bệnh lao là
những người có nguy cơ bị nhiễm cao nhất. Vậy nên, cần tránh tiếp xúc với
nguồn lây nhiễm, chỉ tiếp xúc khi thật cần thiết. Nhà ở phải thông thoáng,
đầy đủ ánh sáng, đặc biệt những phòng mà người bệnh thường hay sinh
hoạt [21], [9].
+ Đối với bệnh nhân: dùng khẩu trang hoặc ít nhất có khăn che miệng
khi tiếp xúc nói chuyện với người khác, khi hắc hơi, ho. Khạc đờm vào giấy
hoặc ca cốc, bỏ đúng nơi quy định, rửa tay xà phòng thường xuyên. Lấy xét
nghiệm đờm đúng nơi quy định, tốt nhất là ngoài trời, môi trường thông
thoáng ít khả năng tiếp xúc của những người xung quanh.
+ Nhân viên y tế: sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, cần dùng
khẩu trang đạt chuẩn như loại N95 hoặc tương đương trở lên.
- Giảm tiếp xúc nguồn lây
+ Phát hiện nguồn lây: muốn phòng lao cho cộng đồng có hiệu quả phải
phát hiện được tối đa có thể người lao phổi AFB(+) và chữa khỏi bệnh lao
cho những người này.
+ Cách ly: Nên có nơi chăm sóc điều trị riêng cho người bệnh lao phổi
AFB(+), đặc biệt với lao phổi kháng đa thuốc.
+ Trong các cơ sở đặc biệt như trại giam, trung tâm chữa bệnh, giáo
dục và lao động xã hội có thể có nhiều người HIV(+) khả năng lây nhiễm rất
cao, cần cách ly thỏa đáng những người bệnh để điều trị mới tránh được các
vụ dịch nghiêm trọng.
+ Nhân viên y tế cần tuân thủ quy trình khám, chăm sóc người bệnh:


Nhận biết các dấu hiệu nghi ngờ và các
yếu tố nguy cơ làm dễ mắc lao

- Ho khạc đàm kéo dài, gầy sút cân,
sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, đau
ngực khó thở.
- Người nhiễm HIV, tiếp xúc với
nguồn lây, nghiện thuốc lá – rượu –
ma túy, mắc các bệnh mạn tính…

Tỷ lệ mắc lao và kiến
thức về bệnh lao

Xác định lao phổi AFB (-) và AFB(+) được
điều trị theo phác đồ
Có kết quả xét nghiệm đờm kèm hình ảnh tổn
thương phổi trên XQ được nghi nhận trong
hồ sơ bệnh án. Các trường hợp lao phổi
AFB(-) được điều trị phác đồ lao sau khi có
biên bản hội chẩn toàn viện với tổ chống lao

Nhận biết các phương pháp phòng
tránh và hạn chế lây lan bệnh lao
-Tiêm BCG cho trẻ sơ sinh.
-Phát hiện sớm và điều trị triệt để bệnh
nhân lao.
-Tránh những tiếp xúc trực tiếp.
-Hạn chế yếu tố làm dễ.
-Khạc nhổ đúng chỗ,xử lý tốt đờm giải,


15

2.2. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang.
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện tại khoa Y học Nhiệt đới thuộc Trung tâm y tế
huyện Đăk Tô.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu:
Bắt đầu từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016. Thời gian thu thập thông
tin từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/12/2016.
2.4. Cỡ mẫu
71 đối tượng là bệnh nhân có triệu chứng nghi lao đang được theo dõi
và điều trị tại khoa Y học nhiệt đới.
2.5. Phương pháp chọn mẫu
Phỏng vấn toàn bộ bệnh nhân có triệu chứng nghi lao quan trọng theo
tiêu chuẩn chọn đang được theo dõi và điều trị lao tại khoa Y học Nhiệt đới
Trung tâm y tế huyện Đăk Tô từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/12/2016.
2.6. Biến số, chỉ số
Tên biến số

Định nghĩa biến

Phân loại

Thông tin chung
Tuổi

Số tuổi trong phiếu phỏng Rời rạc

phòng

Nhị giá

2. Xác định lao AFB (+)
hoặc AFB (-)

Kiến thức về bệnh lao
Nguyên nhân gây bệnh

Di truyền, vi khuẩn lao, lao Danh mục
động quá sức, không biết

Đường lây truyền bệnh lao

Hô hấp, tiêu hóa, đường Danh mục
khác, không biết.

Dấu hiệu nghi ngờ mắc lao:
- Ho và khạc đờm kéo dài
- Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi

Mỗi dấu hiệu có đánh dấu Nhị giá

- Sốt nhẹ về chiều

vào ô là có biết, để trống

- Ra mồ hôi trộm



Nhị giá

Thuốc lao được cấp không mất Có, Không

Nhị giá

tiền
Khi có dấu hiệu nghi ngờ nên đi Phòng khám tư nhân, bệnh Danh mục
khám ở đâu

viện tỉnh, trạm y tế và trung
tâm y tế huyện

Thời gian điều trị bệnh lao

1-2 tháng, 6-8 tháng, 8-12 Danh mục
tháng, không biết.

Nhân viên y tế có phổ biến kiến Có, Không

Nhị giá

thức về bệnh lao
Nghe nói về bệnh lao qua các
loại hình truyền thông:
- Qua cán bộ y tế

Mỗi yếu tố có đánh dấu vào Nhị giá


- Phát hiện sớm và điều trị bệnh dấu vào ô là có biết, để trống
nhân lao triệt để

không biết.

- Tránh những tiếp xúc trực tiếp
- Hạn chế yếu tố làm dễ
- Khạc nhổ đúng chỗ…

2.7. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
2.7.1. Kỹ thuật thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại khoa sau đó ghi nhận các nội dung
vào phiếu phỏng vấn.
- Kiểm tra hồ sơ bệnh án để ghi nhận và đối chiếu các thông tin hành
chính: ngày vào viện, số vào viện, chẩn đoán vào viện và chẩn đoán điều trị
tại khoa để đảm bảo tính trung thực của nghiên cứu.
2.7.2. Công cụ thu thập thông tin
- Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và
dễ trả lời.
- Nội dung phiếu phỏng vấn là những câu hỏi đóng và câu hỏi gồm
nhiều sự lựa chọn.
2.8. Quy trình thu thập số liệu
- Các thành viên trong nhóm thực hiện đề tài tiến hành đồng thời phỏng
vấn đối tượng nghi ngờ mắc lao và kiểm tra đối chiếu hồ sơ bệnh án, ghi nhận
các trường hợp chẩn đoán xác định lao phổi AFB(+) và AFB(-) vào phiếu
phỏng vấn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status