BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
--------
NGUYỄN NHƯ ÁI
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN NHƯ ÁI
Khóa: 35
MSSV: 1055060001
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S PHAN PHƯƠNG NAM
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Ngày 11/07/1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và
TTCK chính thức khai sinh TTCK Việt Nam 1. Từ đó đến nay, TTCK Việt Nam đã
không ngừng biến động và ngày càng chứng tỏ nó là một trong những thị trường được
quan tâm nhất. Và cho đến hiện nay, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của TTCK
đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, TTCK sẽ không thể vận hành
và phát triển mạnh nếu không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt
động của nó. Vì lẽ đó, để tạo nên cơ sở pháp lý cho việc hình thành TTCK và các hàng
hóa cần thiết của nó, cũng như một cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động và vận
hành của TTCK. Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 đã được ban hành để điều
chỉnh những quan hệ phát sinh trong thị trường này. Về phía các cơ quan quản lý nhà
nước, để cụ thể hóa các quy định của Luật Chứng khoán, đảm bảo sự thi hành Luật một
cách đúng đắn, đúng tin thần của các nhà lập pháp, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban
hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn có tác động tích cực điều chỉnh hoạt động
của TTCK. Tuy nhiên, Pháp luật Chứng khoán nước ta chưa thật sự hoàn chỉnh. Nó
vẫn còn nhiều thiếu sót và chưa bắt kịp tinh thần của pháp luật chứng khoán thế giới,
một phần do TTCK nước ta chỉ mới ra đời, còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm,
cũng như điều kiện kinh tế nước ta còn hạn chế. Vì vậy để có thể hoàn thiện hệ thống
pháp Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho một môi trường đầu tư lành mạnh, công bằng và
hiệu quả, đòi hỏi phải có sự cố gắng và nổ lực không ngừng của các nhà lập pháp.
Trên TTCK, một chủ thể đóng vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng lớn và tác
động trực tiếp đến hoạt động của TTCK đó chính là các CTCK, thông qua hoạt động tự
doanh chứng khoán các công ty này góp phần tạo lập giá cả, tăng quy mô đầu tư vốn,
tăng chất lượng đầu tư, điều tiết, bình ổn thị trường, làm tăng tính thanh khoản của các
tài sản tài chính. Bên cạnh đó, tự doanh chứng khoán là một trong những hoạt động đặc
1 Thị Thùy Giang, “Tìm hiểu lịch sử thị trường chứng khoán Việt Nam”, http://luanvan.co/luan-van/tim-hieulich-su-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-11614/, truy cập ngày 29/06/2015
6
thù của CTCK, cũng là hoạt động duy nhất mà các CTCK dùng vốn của mình để đầu tư
pháp luật về hoạt động này, chưa đi sâu vào việc nghiên cứu, phân tích để làm rõ
những vấn đề còn bất cặp, hạn chế của nó.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
7
Mục đích cuối cùng khi nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hoạt động tự doanh của
công ty chứng khoán” là nhằm làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam khi điều chỉnh
hoạt động tự doanh, từ đó có những kiến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
Chứng khoán Việt nam nói chung và pháp luật điều chỉnh hoạt động tự doanh chứng
khoán nói riêng. Để đạt được mục đích này, bài viết sẽ nghiên cứu hai vấn đề trọng tâm
sau:
Một là, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về hoạt động tự doanh chứng khoán và pháp
luật điều chỉnh hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán.
Hai là, nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về hoạt động tự doanh chứng
khoán, thực trạng áp dụng pháp luật tự doanh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
• Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động tự doanh chứng khoán được
quy định trong:
Luật Chứng khoán năm 2006
Luật Chứng khoán đã sửa đổi, bổ sung năm 2010.
Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Chứng khoán.
- Thông tư 210/2012/TT-BTC hướng dẫn về thành lập và hoạt động công ty
chứng khoán.
- Nghị định 108/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực chứng khoán và TTCK.
9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH
CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH
CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái quát chung về hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng
khoán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động tự doanh chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm hoạt động tự doanh chứng khoán.
Để hình thành và phát triển TTCK có hiệu quả, một yếu tố không thể thiếu được
là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Mục tiêu của việc hình
thành TTCK là thu hút vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính
thanh khoản cho các loại chứng khoán. Do vậy, để thúc đẩy TTCK hoạt động một cách
có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các CTCK.
TTCK Việt Nam chính thức ra đời và đi vào hoạt động từ năm 2000, tuy nhiên trong
những năm đầu mới hình thành hoạt động của thị trường rất chậm chạp và vắng lặng.
Ban đầu, các CTCK ra đời chỉ nhằm thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán. Tuy
nhiên, đến năm 2004, hoạt động tự doanh đã được một số CTCK chú trọng thực hiện.
Theo giáo trình Luật Chứng khoán Đại học Luật Hà Nội: “Tự doanh là nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán, trong đó CTCK mua bán chứng khoán bằng vốn của mình để thu
lợi nhuận và chịu mọi rủi ro liên quan đến việc nắm giữ chứng khoán đó”2.
Và theo Luật Chứng khoán Việt Nam hiện hành, tự doanh chứng khoán cũng được
định nghĩa là việc CTCK mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình. Trong đó, chứng
khoán được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn
bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp
vốn đầu tư. Mặc dù pháp luật Việt Nam thừa nhận có nhiều loại chứng khoán như trên.
nhận tại khoản 1 Điều 45 Thông tư 210/2012/TT-BTC, đó là một trong những nguyên
tắc hoạt động của CTCK. Theo đó, hoạt động tự doanh phải được thực hiện theo các
bước nhất định và phải có phương án đầu tư cụ thể nhằm đảm bảo tính hiệu quả và an
toàn trong hoạt động.
3 Hà Thị Mai Linh (2007), Hoạt động tự doanh chứng khoán tại công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Ngoại
thương, tr. 16
4 Hà Thị Mai Linh, tlđd (2), tr. 17
11
Thứ ba, hoạt động tự doanh của CTCK có quy mô rất lớn và danh mục đầu tư rất
đa dạng5. Bởi vì, hầu hết các CTCK đều có tiềm lực tài chính lớn mạnh thể hiện ở mức
vốn điều lệ theo quy định của pháp luật đối với hoạt động tự doanh chứng khoán tối
thiểu là 100 tỷ đồng. Ngoài ra, CTCK là những chủ thể hoạt động có tính chuyên
nghiệp cao. Chính vì vậy, các CTCK không tập trung đầu tư vào một công ty, một
ngành hay một thị trường nhất định mà họ đầu tư trên nhiều thị trường, kể cả thị trường
tập trung và phi tập trung trong và ngoài nước với nhiều ngành nghề, lĩnh vực đa dạng.
Thứ tư, hoạt động đầu tư chứng khoán của các CTCK luôn chứa đựng rất nhiều
rủi ro6. Bởi vậy, trong hoạt động tự doanh của mình, các CTCK đều sử dụng các công
cụ phòng vệ để phòng tránh rủi ro như option, future... Tuy nhiên, việc sử dụng các
công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sự
phát triển của thị trường đối với việc sử dụng rộng rãi các công cụ phòng vệ trong hoạt
động đầu tư như hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, quyền chọn bán; nhân lực; chiến
lược phát triển của công ty; chính sách quản lý danh mục đầu tư...
Thứ năm, đây là hoạt động trực tiếp tìm kiếm lợi nhuận của CTCK thông qua mua
bán chứng khoán, không phải là hoạt động cung ứng dịch vụ. Có thể nói, tự doanh
chứng khoán là hoạt động kinh doanh duy nhất trong các hoạt động kinh doanh chứng
tư chứng khoán riêng lẻ thì được lựa chọn: hoặc là tự quản lý vốn đầu tư - tức là tự
thực hiện việc mua, bán chứng khoán cho chính mình, hoặc là ủy thác vốn cho một
công ty quản lý quỹ để công ty quản lý quỹ thực hiện việc đầu tư chứng khoán cho
mình7.
Thứ ba, khi thực hiện hoạt động tự doanh, CTCK sẽ mở tài khoản giao dịch chứng
khoán cho chính mình tại CTCK của mình chứ không phải mở tài khoản tại một CTCK
khác. Còn công ty đầu tư chứng khoán, nếu muốn thực hiện hoạt động mua bán chứng
khoán thì phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại một CTCK.
1.1.2. Mục đích của hoạt động tự doanh chứng khoán.
CTCK triển khai thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán là nhằm đạt được các
mục đích sau:
Tự doanh để thu chênh lệch giá cho chính mình.
CTCK là những tổ chức kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp. Với những tiềm
lực về tài chính, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất,... cùng với vai trò và vị trí của mình,
các CTCK có nhiều lợi thế về thông tin và khả năng phân tích, định giá chứng khoán,...
Vì vậy, khi thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán, khả năng sinh lời từ hoạt động
này của CTCK sẽ cao hơn các nhà đầu tư khác. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và
7 Khoản 2 Điều 77 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20/07/2012 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
13
tính minh bạch của thị trường, hầu hết pháp luật các nước điều quy định những điều
kiện nhất định mà các CTCK phải đáp ứng được như: điều kiện về vốn, về nguồn nhân
lực, cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động tự doanh,...
Dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán và cung ứng.
Các CTCK là những tổ chức kinh doanh trên thị trường vốn, phạm vi và quy mô
nhất trên thị trường, họ có sẵn khả năng chuyên môn, thông tin và đặt biệt là nguồn vốn
lớn, nên hầu hết các CTCK đều triển khai thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán,
tuy nghiệp vụ này không được ổn định như các nghiệp vụ kinh doanh khác của CTCK,
đồng thời cũng là nghiệp vụ tiêu tốn nhiều nhân lực và tài chính nhất, bên cạnh đó
cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro nhưng hoạt động tự doanh có thể mang lại cho CTCK
những khoản lợi nhuận khổng lồ.
Hỗ trợ các hoạt động khác phát triển
Tự doanh chứng khoán là hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán của CTCK. Điển hình, theo quy định của Luật Chứng khoán Việt
Nam hiện hành, cụ thể là khoản 2 Điều 60: “CTCK chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ
bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán”, bởi
vì hai nghiệp vụ này có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngoài ra, đối với các nghiệp vụ khác
như môi giới, tư vấn đầu tư,...hoạt động tự doanh cũng có những hỗ trợ to lớn về thông
tin, nhận định, quan hệ khách hàng,... Bởi mỗi CTCK đều có những thế mạnh khác
nhau trên TTCK, có công ty mạnh về hoạt động môi giới chứng khoán, có công ty
mạnh về mảng tư vấn tài chính,... Tuy nhiên, sẽ rất khó để một công ty có thể phát triển
mạnh dịch vụ tư vấn trong khi hoạt động tự doanh của chính công ty không đạt kết quả
khả thi. Nhưng ngược lại, nếu các CTCK có hoạt động tự doanh phát triển, thì ngoài
việc có thể thúc đẩy các hoạt động khác phát triển mạnh, nó còn thể hiện được tính
chuyên nghiệp và khả năng phân tích của công ty trên TTCK.
Bên cạnh các vai trò trên, hoạt động tự doanh còn giúp CTCK phát triển khách
hàng, vì trong quá trình thực hiện hoạt động tự doanh, mối quan hệ giữa khách hàng và
CTCK sẽ được cũng cố, từ đó sẽ nảy sinh nhiều mối quan hệ tốt đẹp khác. Ngoài ra,
hoạt động tự doanh còn giúp các CTCK nắm bắt kịp thời tình hình của thị trường, việc
nắm bắt kịp thời, sát sao sự biến động của thị trường phối hợp với sự phân tích, nhìn
nhận, đánh giá của những cán bộ có trình độ chuyên môn cao của CTCK sẽ giúp
CTCK đưa ra được chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng giai đoạn, thời kỳ hoạt
động.
1.1.4.1. Nhân tố chủ quan.
Chính sách phát triển của công ty.
Các CTCK khi thực hiện hoạt động tự doanh đều phải tuân thủ các chiến lược đầu
tư và chính sách phát triển chung của công ty. Chính sách phát triển của công ty đưa ra
các mục tiêu cần đạt được trong từng thời kỳ, giai đoạn nhất định với những chiến lược
đầu tư khác nhau, đồng thời cũng đưa ra những thay đổi về tổng lượng vốn, nguồn
nhân lực,… cho hoạt động đầu tư của công ty. Bên cạnh đó, việc đưa ra các mục tiêu
khác nhau sẽ quyết định đến loại hình đầu tư cũng như chính sách quản lý danh mục
đầu tư của CTCK. Chính vì vậy, chính sách phát triển của công ty có ảnh hưởng rất lớn
và mang tính quyết định đối với tất cả các hoạt động của CTCK nói chung và hoạt
động tự doanh chứng khoán nói riêng.
16
Khả năng về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực luôn là yếu tố đóng vai trò quan trọng và to lớn trong mọi tổ chức.
Điều này cũng không ngoại lệ đối với CTCK, với vị trí là một định chế tài chính hoạt
động trên TTCK – một thị trường đòi hỏi người tham gia phải có khả năng chuyên môn
cao và những am hiểu nhất định mới có thể tồn tại và phát triển bền vững, thì yếu tố
con người càng đóng vai trò quan trong hơn, họ chính là tâm điểm của mọi hoạt động.
Trong hoạt động tự doanh của CTCK, yếu tố nhân lực cần có bao gồm: trình độ chuyên
môn, khả năng phân tích, đánh giá của cán bộ nhân viên thực hiện hoạt động tự doanh;
cơ cấu tổ chức, phân bố công việc tại bộ phận tự doanh của CTCK.
Khả năng của các cán bộ, nhân viên được giao thực hiện hoạt động tự doanh của
CTCK không chỉ dừng lại ở việc có kiến thức về lĩnh vực tài chính, có khả năng phân
tích, đánh giá và có kinh nghiệm trên thị trường, mà còn cần họ là những con người có
khả năng làm việc trong môi trường có áp lực cao bởi tính chất của thị trường, đồng
thời họ phải là những người có đạo đức nghề nghiệp cao để đảm bảo tính minh bạch,
công bằng của thị trường. Những cán bộ, nhân viên thực hiện hoạt động tự doanh trong
CTCK nếu muốn thực hiện hoạt động tự doanh thì phải có số vốn điều lệ tối thiểu là
100 tỷ đồng, trong khi đó để tiến hành các nghiệp vụ khác như môi giới thì chỉ cần 25
tỷ đồng, tư vấn chỉ cần 10 tỷ đồng vốn pháp định. Qua đây, ta có thể thấy yêu cầu về
tiềm lực tài chính đối với hoạt động tự doanh chứng khoán tương đối cao hơn nhiều so
với các nghiệp vụ khác, tồn tại sự chênh lệch đáng kể này về yêu cầu vốn pháp định là
do xuất phát từ đặc điểm và vai trò của hoạt động tự doanh đã phân tích ở các phần
trên, điều này cho thấy tầm quan trọng của tiềm lực tài chính đối hoạt động tự doanh
chứng khoán.
Ngoài ra, nếu một CTCK có một tiềm lực tài chính lớn thì đó sẽ là một lợi thế vô
cùng lớn so với các đối thủ khác. Có một quy mô vốn lớn sẽ giúp CTCK không những
tạo ra được một tác động đáng kể trên thị trường, có một vị thế lớn mạnh mà còn có thể
giúp CTCK đứng vững trên thị trường trước những biến động tiêu cực.
Quy trình tự doanh chứng khoán
Tùy theo quy mô, tổ chức mà mỗi CTCK sẽ có một quy trình tự doanh chứng
khoán riêng. Quy trình này sẽ phân bổ công việc, trách nhiệm, quyền hạn của từng cán
bộ, nhân viên thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán. Nếu CTCK xây dựng được
một quy trình hoạt động chặt chẽ, khoa học thì các nhân viên tự doanh chứng khoán
mới có thể nhận thức rõ được trách nhiệm của mình, từ đó làm cho hoạt động trở nên
hiệu quả. Ngược lại, nếu CTCK xây dựng một quy trình tự doanh không chặt chẽ,
không logic, bị trùng lắp nhau thì không chỉ gây ra sự lãng phí về nguồn nhân lực, thời
gian, tài chính mà còn làm cho hoạt động kém hiệu quả và có thể dẫn đến những rủi ro.
Sự phát triển của các hoạt động khác
Một CTCK có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán. Các hoạt động này có mối quan hệ
tương hỗ lẫn nhau. Nếu một CTCK có thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán bên
cạnh hoạt động tự doanh chứng khoán, thì việc có được sự tín nhiệm của khách hàng từ
hoạt động môi giới sẽ giúp bộ phận tự doanh chứng khoán thu thập được những thông
18
hóa cơ bản như xăng, dầu,… cũng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên TTCK, từ đó
ảnh hưởng đến giá trị danh mục đầu tư và những quyết định của CTCK.
Tình hình chính trị - xã hội
Tình hình chính trị - xã hội của một quốc gia luôn có những tác động nhất định đến
hoạt động của TTCK nói chung và các CTCK nói riêng của quốc gia đó, thậm chí có
19
thể ảnh hưởng đến TTCK của quốc gia khác, của cả một khu vực hoặc tác động đến
toàn thế giới. Có thể kể đến những sự kiện lớn như chiến tranh, thay đổi thể chế chính
trị hay những biến động trong hệ thống pháp luật,… đều có thể dẫn đến những thay đổi
nhất định trong môi trường kinh doanh. Những thay đổi về chính trị sẽ ảnh hưởng rất
lớn đến TTCK, chính trị thay đổi sẽ làm cho những quy định và sự kiểm soát của
Chính phủ nới lỏng ở một số ngành nghề này nhưng lại thắt chặt ở một số ngành nghề
khác, từ đó tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành nghề khác nhau.
Các quy định của pháp luật.
Môi trường pháp lý cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
TTCK. Tùy theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia mà các CTCK có những chiến
lược kinh doanh, đầu tư phù hợp trong hoạt động tự doanh chứng khoán để đáp ứng
đầy đủ những yêu cầu mà pháp luật đặt ra như: vốn pháp định, tỷ lệ vốn khả dụng, tỷ lệ
giao dịch dành cho tạo lập thị trường, hạn chế vay, hạn chế cho vay,… Những quy định
pháp lý này của một quốc gia có thể gây ra những tác động tích cực tới thị trường
nhưng cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho thị trường. Có thể kể đến một
quy định điển hình của Chính phủ đã gây hoang hoang cho các nhà đầu tư trên TTCK
trong thời gian qua là chỉ thị 03 quy định về định mức cho vay của các ngân hàng
thương mại đối với cho vay chứng khoán không được vượt quá 3% tổng mức dư nợ
cho vay. Điều này đã làm cho TTCK ảm đạm trong suốt một khoảng thời gian khá dài,
nhiều nhà đầu tư phải lo chạy bán chứng khoán để trả nợ. Hơn nữa, các quy định của
pháp luật còn quyết định loại nghiệp vụ mà CTCK được thực hiện và quy mô của
những nghiệp vụ đó. Vì vậy, các quy định của pháp luật sẽ ảnh hưởng đến sự thành bại
nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư. Tình trạng này xảy ra khi CTCK mua phải chứng
khoán của một tổ chức phát hành có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh, cũng như
triển vọng cung cấp các yếu tố đầu vào cùng với khả năng tiêu thụ sản phẩm thiếu hiệu
quả vững chắc. Thậm chí, chỉ cần một sự thay đổi về nhân sự cấp cao trong tổ chức
phát hành cũng có thể làm giá chứng khoán đó sụt giảm. Và rủi ro của CTCK cũng như
các nhà đầu tư khác sẽ cao nhất khi tổ chức phát hành chứng khoán bị phá sản và biến
mất trên thương trường. Rủi ro này xuất hiện hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào tổ
chức phát hành chứng khoán mà CTCK sở hữu. Vì vậy trước khi quyết định mua loại
chứng khoán nào các CTCK cần tìm hiểu rõ thông tin về tổ chức phát hành loại chứng
khoán đó, phân tích đánh giá xem công ty đó có triển vọng để đầu tư không,… Trong
dạng rủi ro này, các CTCK cũng có thể chịu rủi ro do bỏ hết trứng trong cùng một rỗ,
tức CTCK chỉ đầu tư vào một loại chứng khoán nào đó với hi vọng loại chứng khoán
này sẽ mang lại khoản lợi nhuận khổng lồ cho công ty, nhưng điều đó đã không xảy ra
khi giá loại chứng khoán này tuộc dốc nghiêm trọng trên thị trường vì một lý do bất
ngờ nào đó mà CTCK không thể lường trước được, và điều này sẽ làm cho CTCK lỗ
nặng. Thậm chí, việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển
nhượng trong một thời hạn nhất định (thường là ba năm) cũng có thể khiến các CTCK
gặp rủi ro, nhất là khi cần tiền để trả nợ vay ngân hàng hoặc muốn rút vốn đầu tư vào
21
nơi khác8. Vì vậy với dạng rủi ro này, ngay cả những chứng khoán tốt nhất cũng có thể
không giữ vững được vị thế lâu dài trước sự biến động khôn lường của thị trường hiện
nay, nên ngay cả các CTCK chuyên nghiệp nhất cũng khó có thể loại trừ hoàn toàn các
rủi ro này.
• Rủi ro từ thông tin: hoạt động mua, bán chứng khoán của các nhà đầu tư chứng khoán
mà đặc biệt là các CTCK – những tổ chức đầu tư chứng khoán lớn trên thị trường
thông qua hoạt động tự doanh là một trong số ít những hoạt động mà sự thành bại của
nó đòi hỏi và gắn liền với yêu cầu về tính đa dạng, tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và
những rủi ro trên. Thiết nghĩ việc đầu tiên và quan trọng nhất để quản trị rủi ro là các
CTCK phải xây dựng được quy trình quản lý rủi ro, thông thường quản lý rủi ro được
chia thành năm bước sau9:
Bước 1: Nhận dạng rủi ro: Đây là bước đầu tiên tìm hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi
ro. Cách đơn giản và trực tiếp nhất là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra
rủi ro.
Cách làm rõ bản chất của rủi ro là:
Thứ nhất: Nhận dạng những tác nhân có thể gây ra rủi ro.
Thứ hai: Tìm hiểu chiều hướng có thể gây ra rủi ro.
Thứ ba: Kiểm tra lại xem biểu hiện rủi ro đang phân tích có phụ thuộc vào biến cố nào
khác hay không.
Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro: Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của
công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đã xác định bằng cách dùng một phương pháp giả
định nếu có nân tố rủi ro thì công ty sẽ được gì và mất gì.
-
-
Bước 3: Đánh giá tác động của rủi ro: Để đánh giá rủi ro, các công ty thường làm bài
toán chi phí và lợi tức. Đôi khi việc quản lý rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty
như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lý rủi ro có thực
sự đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không.
Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro. Để
quản lý rủi ro có hai chiến lược:
-
Thứ nhất: Dựa vào một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thuê họ thiết kế một giải pháp
quản lý rủi ro cụ thể thích hợp với chiến lược của công ty.
Thứ hai: Tự công ty thực hiện phòng chống rủi ro bằng cách sử dụng các công cụ
chứng khoán phái sinh như quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,… đồng
biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo giữa các bộ phận nghiệp
vụ để đảm bảo tránh xung đột lợi ích giữa CTCK với khách hàng. Ngoài ra, Dự thảo
sửa đổi, bổ sung thông tư 210 sắp tới cũng đã bổ sung thêm một nguyên tắc nhằm đảm
bảo sự tách biệt quản lý về nhân sự trong quá trình tự doanh của CTCK đó là: nhân
viên hành nghề tại bộ phận môi giới chứng khoán, bộ phận tư vấn đầu tư chứng khoán
không được kiêm nhiệm thực hiện các công việc tại bộ phận tự doanh chứng khoán.
Ưu tiên khách hàng: Yêu cầu này cũng được đặt ra khi CTCK đồng thời thực hiện hai
nghiệp vụ tự doanh và môi giới chứng khoán. Pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng
như pháp luật chứng khoán của nhiều nước trên thế giới đều yêu cầu các CTCK đồng
thời thực hiện hai nghiệp vụ này phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng, có nghĩa
là CTCK phải đảm bảo lệnh giao dịch của khách hàng phải được ưu tiên thực hiện
24
trước lệnh giao dịch của CTCK10. Điều này sẽ đảm bảo tính công bằng trong giao dịch
chứng khoán khi mà các CTCK luôn có nhiều lợi thế hơn khách hàng về tìm kiếm
thông tin và phân tích thị trường.
Công ty chứng khoán phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong
giao dịch thỏa thuận với khách hàng. So với các khách hàng của mình, đặc biệt là các
khách hàng cá nhân, CTCK là chủ thể có ưu thế hơn hẳn về vốn, trình độ chuyên môn,
khả năng phân tích đánh giá thị trường cũng như khả năng tiếp cận thông tin. Chính vì
vậy, để tránh trường hợp các CTCK vì lợi ích của bản thân mình, trong khi thực hiện
hoạt động môi giới chứng khoán đưa ra những khuyến nghị nhằm hướng khách hàng
đến việc mua các loại chứng khoán CTCK đang cần bán hoặc bán các loại chứng
khoán CTCK đang cần mua có thể gây ra thiệt hại cho khách hàng. Do đó, pháp luật
chứng khoán Việt Nam đã quy định yêu cầu này tại khoản 5 Điều 53 Thông tư
210/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạt động CTCK để buộc các CTCK phải
thực hiện. Yêu cầu này sẽ giúp các khách hàng của CTCK xem xét lại các khuyến nghị
của CTCK, từ đó họ có các quyết định đầu tư, giao dịch công bằng, khách quan và hiệu