Nghiên cứu khả năng hấp phụ fe3+(aq) bởi bã cà phê biến tính - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VUNG TÀU

BARIA VUNGTAU
UNIVERSITY
CAP Sa in t Iacqịựes

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP PHỤ Fe3+(aq)
BỞI BÃ CÀ PHÊ BIẾN TÍNH

Trình độ đào tạo:Đ ại học
Ngành: Công nghệ Kỹ thuật H óa học
Chuyên ngành: H óa dầu

G iảng viên hướng dẫn: TS. Đỗ N gọc M inh
Sinh viên thực hiện:

N guyễn Cao M inh

M SSV: 13030220

Lớp: D H 13HD

Bà Rịa-Vũng Tàu, năm 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU
VIÊN KỸ THUAT - KINH TẾ BIỂN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
(Ký và ghi rõ họ tên)

TS. Đỗ Ngọc Minh

SINH VIÊN THỰC HIỆN
(Ký và ghi rõ họ tên)

Nguyễn Cao Minh

GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

TRƯỞNG NGÀNH

(Ký và ghi rõ họ tên)

(Ký và ghi rõ họ tên)

TRƯỞNG VIỆN
(Ký và ghi rõ họ tên)


Tôi xin cam đoan nghiên cứu này hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Đỗ Ngọc Minh. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề
tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận
xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ
trong phần tài liệu tham khảo.

Vũng Tàu, ngày 03 tháng 07 năm 2017


1.2.1. Phương pháp kết tủa hóa học [3]..................................................................7
1.2.2. Phương pháp hấp phụ [3 ]..............................................................................8
1.2.3. Phương pháp trao đổi ion [3]........................................................................ 9
1.2.4. Phương pháp điện hóa [ 3 ]...........................................................................10
1.2.5. Phương pháp sinh học [3]............................................................................11
1.2.6. Giới thiệu vật liệu hấp phụ..........................................................................11
1.2.7. Nhóm khoáng tự nhiên................................................................................ 12
1.2.8. Nhóm nguyên liệu tự nhiên và phế thải nông nghiệp.............................. 12
1.2.9. Một số loại vật liệu hấpphụkhác.................................................................13
1.3.

Giới thiệu về bã cà phê[5]................................................................................. 16

1.4.

Tổngquan tình hình nghiên cứu tính chất hấp phụ của bã cà phê................ 17

CHƯƠNG 2. THỰC N G H IỆ M ........................................................................21
2.1.

Chế tạo vật liệu hấp phụ từ bã cà phê [ 8 ] ........................................................21

2.1.1. Nguyên liệu và hóa chất............................................................................. 21
2.1.2. Dụng cụ và thiết b ị ...................................................................................... 21
2.1.3.
2.2.

Cách tiến hành..............................................................................................21


3.1.1. Phân tích SEM..............................................................................................33
3.1.2. Phân tích các đại lượng đặc trưng cho vật liệu hấp phụ.........................34
3.1.3.

So sánh khả năng hấp phụ của vật liệu và than hoạt tính thương mại .. 34

3.3. Ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ Fe3+ của vật liệu............................35
3.4. Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ Fe3+ của vật liệu.................. 36
3.5. Xác định đại lượng hấp phụ của bã cà phê biến tính........................................ 37
3.6. So sánh kết quả nghiên cứu..................................................................................40

KẾT LU Ậ N ........................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM K H Ả O ................................................................................. 43
PHỤ L Ụ C .............................................................................................................. 44


Bảng 1.1: Thành phần của cà p h ê .......................................................................17
Bảng 2.1. Thể tích các dung dịch thành phần cần lấy để pha chế các dung dịch
phức sắt với các nồng độ khác n h a u .................................................................. 25
Bảng 2.2. Kết quả thực nghiệm đo mật độ quang của các dung dịch phức sắt
khác nhau.................................................................................................................25
Bảng 3.1. Kết quả đo các thông số đặc trưng cho vật liệu hấp phụ theo mô
hình B E T .................................................................................................................34
Bảng 3.2. So sánh khả năng hấp phụ Fe3+(aq) trên bề mặt bã cà phê biến tính
và than hoạt tính thương m ại................................................................................ 34
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ Fe3+
của vật liệ u ............................................................................................................. 35
Bảng 3.4. Kết quả thực nghiệm nghiên cứu sự ảnh hưởng nồng độ sắt lên khả
năng hấp phụ của CF1/4........................................................................................ 38
Bảng 3.5. So sánh kết quả nghiên cứ u ................................................................ 41

Trong khi đó, theo thống kê mỗi năm trên thế giới sản xuất khoảng 6.6
triệu tấn cà phê được sản xuất. Hệ quả là một khối lượng lớn bã cà phê được
thải bỏ. Một phần bã cà phê được làm thức ăn cho gia súc, phần còn lại được
đốt như chất thải sinh ra khí nhà kính CO2. Vì vậy, cần phát triển các công
nghệ tái sử dụng bã cà phê cho các mục đích hữu ích và chuyển hóa chúng
thành nguồn vật liệu mới.
Trong khoảng một thập niên gần đây, các nhà khoa học đã tiến hành
nhiều nghiên cứu trên bã cà phê và chứng minh được rằng bã cà phê có tính
chất hấp phụ đáng kể, không chỉ đối với các kim loại nặng và các hợp chất
hữu cơ độc hại tan trong nước mà còn đối với khí cacbonic. Nhưng, chỉ có
một số ít nghiên cứu tính chất hấp phụ của bã cà phê biến tính.
Việc tận dụng nguồn phế thải bã cà phê để điều chế chất hấp phụ sinh
học không chỉ giải quyết bài toán môi trường, mà còn là bài toán kinh tế.
Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu này bã cà phê được xử lý bằng các
phương pháp lý hóa khác nhau với mục đích tổng hợp chất hấp phụ sinh học
với độ hấp phụ cao ứng dụng trong xử lý nước thải công nghiệp.


Tình hình nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới việc sử dụng bã cà phê vào nghiên cứu xử lý kim
loại trong nước thải đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, một số công
trình đã được công bố trong nước và trên thế giới.
Trong một nỗ lực để tái sử dụng chất thải thực phẩm cho các mục đích
hữu ích, nhóm nhà khoa học thuộc trường Đại học Kinki đã nghiên cứu khả
năng sử dụng bã cà phê để loại bỏ các ion chì trong nước uống [Toshimitsu
Tokimoto, Naohito Kawasaki, Takeo Nakamura, Jyunichi Akutagawa, Seiki
Tanada (2004). Removal o f lead ions in drinking water by coffee grounds as
vegetable biomass, Journal o f Colloid and Interface Science, 281(1), 56­
61]. Các đặc tính hấp phụ ion chì bởi cà phê đã được nghiên cứu bằng cách
xác định hàm lượng chất béo và protein, các đường hấp phụ đẳng nhiệt và tốc

• Xác định điều kiện tối ưu cho quá trình hấp phụ Fe3+trong dung dịch
nước trên bề mặt vật liệu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
• Xử lý bã cà phê bằng KOH ở nhiệt độ cao.
• Xác định các đặc tính của vật liệu hấp thụ thu được.
• Khảo sát tính chất hấp phụ kim loại Fe3+ bởi vật liệu thu được và xác
định điều kiện tối ưu cho quá trình hấp phụ.
• Xác định các thông số của quá trình hấp phụ.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu khoa
học, phương pháp thực nghiệm.
Các kết quả đạt được của đề tài: Vật liệu hấp phụ sinh học từ bã cà phê có
hoạt tính hấp phụ cao được chế tạo.
Cấu trúc của đồ án tốt nghiệp: Đồ án tốt nghiệp bao gồm 3 chương (Tổng
quan tài liệu, Thực nghiệm, Kết quả và Thảo luận), 46 trang, 13 hình, 8 bảng.


CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Tổng quan về tình hình ô nhiễm nguồn nước
Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung
ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước
thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay,
mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung
(chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang
xây dựng trạm xử lí nước thải. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công
nghiệp thải ra khoảng 30 000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại

nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8.4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm
lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu...
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m 3/ ngày không
qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh.Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,
mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần
lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một
lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết đ ư ợ c . là những
nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các
kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.


Tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp,
hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ
sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không
được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm
nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình
biến đổi từ 1500-3500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu,
tăng lên tới 3800-12500MNP/100ml ở các kênh tưới tiêu.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực
vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến
môi trường nước và sức khoẻ nhâmn dân. Nước thải bao gồm thành phần vật
lý, hóa học, sinh vật và vi sinh vật.
- Thành phần vật lý gồm các chất bẩn không tan trong nước:




Các phương pháp xử lý nước
Hiện nay, đa phần các cơ sở, nhà máy thường ưu tiên sử dụng các

phương pháp hóa học, hóa lý và sinh họctrong xử lý nước.
1.2.1. Phương pháp kết tủa hóa học [3]
Phương pháp này dựa trên phản ứng hóa học giữa chất đưa vào nước thải với
các kim loại cần tách ở độ pH thích hợp sẽ tạo thành hợp chất kết tủa và được
tách ra khỏi nước bằng phương pháp lắng.
Phương pháp thường được dùng là kết tủa kim loại dưới dạng hydroxit
bằng cách trung hòa các chất thải axit.
Ưu điểm:
• Đơn giản, dễ sử dụng.
• Rẻ tiền, nguyên vật liệu dễ kiếm.
• Xử lý được cùng lúc nhiều kim loại, hiệu quả xử lý cao.
• Xử lý được nước thải đối với các nhà máy có quy mô lớn.
Nhược điểm:


Với nồng độ kim loại cao thì phương pháp này xử lý không triệt để.

• Tạo ra bùn thải kim loại.
• Tốn kinh phí như vận chuyển, chôn lấp khi đưa bùn thải đi xử lý.
• Khi sử dụng tác nhân tạo kết tủa là OH- thì khó điều chỉnh pH đối
với nước thải chứa kim loại lưỡng tính, ví dụ Zn.


Nếu trong nước thải có nhiều kim loại nặng thì càng thuận tiện cho quá
trình kết tủa vì ở giá trị pH nhất định độ hòa tan của kim loại trong dung dịch
có mặt các kim loại sẽ giảm.


Chi phí xử lý cao.


1.2.3. Phương pháp trao đổi ion [3]
Phương pháp trao đổi ion là phương pháp ứng dụng nguyên tắc trao đổi
ion thuận nghịch của chất rắn và chất lỏng mà không làm thay đổi cấu trúc
của chất rắn. Quá trình này ứng dụng để loại bỏ các cation và anion trong
nước thải. Các cation sẽ trao đổi với ion hydrogen hay sodium, các anion sẽ
trao đổi với ion hydroxyl của nhựa trao đổi ion.
Có hai phương pháp sử dụng trao đổi ion:
• Trao đổi ion với lớp nhựa chuyển động, vận hành và tái sinh liên
tục.
• Trao đổi ion với lớp nhựa trao đổi đứng yên,vận hành và tái sinh
gián đoạn.
Hầu hết các loại nhựa trao đổi ion là các hợp chất tổng hợp. Nó là các
chất hữu cơ hoặc vô cơ cao phân tử đính kết với các nhóm chức. Các nhựa
trao đổi ion dùng trong xử lý nước thải là các hợp chất hữu cơ cao phân tử có
cấu trúc không gian 3 chiều và có lổ rỗng. Các nhóm chức được đính vào cấu
trúc cao phân tử bằng cách cho hợp chất này phản ứng với các hóa chất chứa
nhóm chức thích hợp. Khả năng trao đổi ion được tính bằng số nhóm chức
trên một đơn vị trọng lượng nhựa trao đổi ion. Hoạt động và hiệu quả kinh tế
của phương pháp này phụ thuộc vào khả năng trao đổi ion và lượng chất tái
sinh cần sử dụng.
Cấu tạo của hạt nhựa có thể phân ra hai phần. Một phần gọi là gốc của
chất trao đổi ion, một phần khác gọi là nhóm ion có thể trao đổi (nhóm hoạt
tính). Chúng hoá hợp trên cốt cao phân tử. Các vật liệu nhựa này có thể thay
thế được mà không làm thay đổi tính chất vật lý của các chất trong dung dịch
và cũng không làm biến mất hoặc hòa tan. Khi nhựa trao đổiion đã hết khả
năng trao đổi ion, nó sẽ được tái sinh lại bằng các chất tái sinh thích hợp.Sau



Chỉ thích hợp với nước thải có nồng độ kim loại cao.

• Mặc dù hiệu suất xử lý đạt tới 90% hoặc hơn, nhưng nồng độ kim
loại trong nước thải vẫn còn cao.


1.2.5. Phương pháp sinh học [3]
Phương pháp sinh học là phương pháp sử dụng những vi sinh vật đặc
trưng chỉ xuất hiện trong môi trường bị ô nhiễm kim loại nặng và có khả năng
tích lũy kim loại nặng trong cơ thể. Các vi sinh vật thường sử dụng như tảo,
nấm, vi khuẩn... Ngoài ra, còn có một số loài thực vật sống trong môi trường
ô nhiễm kim loại nặng có khả năng hấp thụ và tách các kim loại nặng độc hại
như cỏ Vertiver, cải xoong, cây dương xỉ, cây thơm ổi... Thực vật phản ứng
khác nhau đối với sự có mặt của các ion kim loại trong môi trường.
Cơ chế hấp thụ kim loại nặng ở vi khuẩn như sau:


Giai đoạn 1: Tích tụ các kim loại nặng và sinh khối, làm giảm nồng
độ các kim loại này ở trong nước.



Giai đoạn 2: Sau quá trình phát triển ở mức tối đa sinh khối, vi sinh
vật thường lắng xuống đáy bùn hoặc kết thành mảng nổi trên bề mặt
và cần phải lọc hoặc thu sinh khối ra khỏi môi trường nước.

Ưu điểm:
• Thu nhận kim loại nặng ở mức độ cao.

các hợp chất hữu cơ và có độ ẩm khoảng trên 2% thì nó được sử dụng làm
chất trợ lắng, trợ lọc và làm trong nước giảm độ cứng của nước sinh hoạt
dùng để loại bỏ chất phóng xạ trong nướcthải.
Bentonit là khoáng sét phi kim thuộc loại alumono silicat, thành phần
hóa học có thể viết là Si8(Alx My)O20trong đó M là Ca, Mg, Na. Có hai loại
bentonit là bentonit kiềm (Na, K) và bentonit kiềm thổ (Mg,Ca). Nhìn chung,
bentonit xử lý hiệu quả đối với nước thải chứa chất không tan như các chất
hữu cơ, dầu, vi sinh vật. Để xử lý các muối tan chứa các ion kim loại người ta
sử dụng bentonit đã hoạt hóa biến tính.
1.2.8. Nhóm nguyên liệu tự nhiên và phế thải nông nghiệp
Vỏ lạc được sử dụng để chế tạo than hoạt tính với khả năng tách loại
ion Cd(II) rất cao. Chỉ cần hàm lượng than hoạt tính là 0,7 g/l có thể hấp phụ
dung dịch hấp phụ chứa Cd(II) nồng độ 20 mg/l. Nếu so sánh với các loại
than hoạt tính (dạng viên) có trên thị trường thì khả năng hấp phụ của nó cao
gấp 31lần.
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Khoa Công nghệ Môi


trường, trường đại học Mersin, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy vỏ lạc có thể sử dụng để
cải tạo ruộng, lọc các nguồn nước bị ô nhiễm kim loại độc do các nhà máy
thải ra, đặc biệt là ở các vùng đất, nguồn nước bị nhiễm ion kim loại và vỏ lạc
có thể loại bỏ 95% ion đồng khỏi nước thải công nghiệp.
Vỏ đậu tương có khả năng hấp phụ tốt đối với nhiều ion kim loại nặng
như Cu(II), Zn(II) và các hợp chất hữu cơ. So sánh với một số vật liệu tự
nhiên khác, vỏ đậu tương thể hiện khả năng hấp phụ cao hơn, đặc biệt đối với
các ion kim loại nặng. Vỏ đậu tương sau khi được xử lý với axit ctric thì dung
lượng hấp phụ cực đại đối với đồng đạt đến 1.7 mmol/g (ứng với 108mg/g).
Bã míađược đánh giá như phương tiện lọc chất bẩn từ dung dịch nước
và được ví như than hoạt tính trong việc loại bỏ các ion kim loại nặng như
Cr(III), Ni(II), Cu(II)...Bên cạnh khả năng tách loại kim loại nặng, bã mía

khí cacbonic, khí thải. Chế độ hoạt hoá quyết định chất lượng của than hoạt
tính.
Than hoạt tính có thể dùng để tẩy màu, làm trong, khử mùi, tinh chế
thực phẩm, đồ uống, dầu mỡ. Ngoài ra, một số loại than hoạt tính có đặc thù
riêng: dùng trong y học, than hấp phụ kim loại, than dùng trong mặt nạ, than
oxy hoá dùng để xử lý phóng xạ. Phần lớn các loại than này đều được biến
tính bề mặt để tăng cường thêm các nhóm chức qua phản ứng oxy hoá hoặc
tẩm một số xúc tác.
b. Silicalgel
Silicalgel là một loại chất hấp phụ có thành phần hoá học chủ yếu là
silic oxit (SiO2) có cấu trúc rất xốp.Độ xốp của silicalgel có thể đạt 50-60%,
diện tích bề mặt có thể đạt tới 800 m2/g.
Nguyên liệu để tổng hợp silicalgel là axit silicic, axit đơn H2SiO4 là
axit rất yếu. Khi vượt quá độ hoà tan nó không kết tủa mà tạo thành polymer


thông qua phản ứng trùng ngưng, giai đoạn đầu của phản ứng trùng ngưng là:
2H2SĨO4 ^ H2SĨ2O7 + H2O
Phản ứng trùng ngưng tiếp diễn hình thành các phân tử polymer lớn
cho tới khi nồng độ axit đơn dư trong dung dịch nằm trong khoảng 100-150
mg/l tuỳ thuộc vàopH.
Silicalgel thường được chế tạo bằng cách kết tủa SiO2 từ dung dịch
thuỷ tinh lỏng với axit (chủ yếu là axit sunfuric), trong một số trường hợp có
thể thuỷ phân SiCl4 hoặc các hợp chất silic khác dễ thuỷphân.
Trong quá trình thủy phân với axit sunfuric sẽ hình thành axit silicic
yếu và ngay lập tức xảy ra phản ứng trùng ngưng tạo thành dạng gel đặc và
trong, chứakhoảng 90% nước hay 300 phân tử nước trên 1 phân tử SiO2.
Tính chất của silicalgel phụ thuộc vào các yếu tố thực hiện khi chế tạo
như: nồng độ, pH, nhiệt độ. Hạt keo càng nhỏ thì diện tích bề mặt càng lớn.
Thông thường khi thủy phân ở vùng pH thấp, hạt keo nhỏ thì thời gian đông

Thành phần chính của than bùn là axit humic, axit fulvic, các axit này có cấu
trúc hóa học không cố định. Nó là tập hợp các axit có phân tử lượng lớn
chứa nhiều nhóm chức, chứa đa phần các nhân thơm. Nó không bị vi sinh
vật phân hủy và là một trong những phân đoạn hữu cơ bền nhất trong tự
nhiên.
Than bùn là loại vật liệu hỗn hợp của nhiều loại hợp chất hữu cơ chứa
nhiều nhóm chức phân cực nên có khả năng hấp phụ các chất hữu cơ phân
cực và các kim loại chuyểntiếp.
1.3.

Giới thiệu về bã cà phê[5]
Diện tích trồng cà phê nước ta ngày càng được mở rộng trong vài năm

trở lại đây. Theo Bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích
trồng cà phê tăng 8% trong năm 2012 đạt mức 616000 ha so với 571 000


năm 2011 và sản lượng đạt 1.49 triệu tấn. Diện tích trồng cà phê nước ta
năm 2014 ước tính vào khoảng 653 000 ha, tăng 2% so với năm 2013
(633000 ha). Tuy nhiên, thực tế diện tích gieo trồng có thể vượt quá 660000
ha. Sản xuất cà phê nước ta tăng đều đặn trong vòng 3 năm gầnđây.
Chính vì thế cà phê là một tiềm năng rất lớn, chúng ta có thể tận dụng,
tái chế bã cà phê để đem lại những lợi ích về kinh tế, xã hội, và còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môitrường.
Bã cà phê là một vật liệu lignocellulose, có khả năng tách kim loại
nặng hòa tan và màu trong nước nhờ vào cấu trúc xốp và thành phần
cellulose. Các nhóm hydroxyl trên cellulose đóng vai trò quan trọng trong
khả năng trao đổi ion, nhóm hydroxyl này có khả năng trao đổi yếu vì liên
kết OH phân cực không mạnh. Nhiều biện pháp biến tính đã được công bố
như oxy hóa các nhóm hydroxyl thành các nhóm chức acid hoặc sulfo hóa

Các thành phần khác

1.4.

Tổngquan tình hình nghiên cứu tính chất hấp phụ của bã cà phê



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status