SKKN một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi chuẩn bị tâm thế sẵn sàng vào lớp 1 - Pdf 45

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị tâm thế sẵn
sàng vào lớp một.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng vào việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ 5
- 6 sẵn sàng vào lớp một
3. Tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Vi. Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: Ngày 05 tháng 01 năm 1985
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm mầm non
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường Mầm non Bắc An
- Điện thoại: 0984085116
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
- Tên đơn vị: Trường mầm non Bắc An
- Địa chỉ : Xã Bắc An - Thị xã Chí Linh - Tỉnh Hải Dương.
- Điện thoại: 0320.2223962
5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Sự quan tâm tạo điều kiện của BGH nhà trường để áp dụng sáng kiến vào
quá trình dạy trẻ trên lớp.
- Sự giúp đỡ quan tâm của đồng nghiệp trong trường.
- Phụ huynh quan tâm phối hợp cùng cô giáo trong việc áp dụng đề tài vào thử
nghiệm.
- Thời gian tìm hiểu về đề tài.
- Một số tài liệu về tâm lý học trẻ em độ tuổi 5 - 6 tuổi
6. Thời gian áp dụng: Năm học 2013 - 2014
HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Nguyễn Thị Vi

2.2. Thời gian
- Áp dụng trong năm học 2013 - 2014
2.3. Đối tượng : Áp dụng tại các lớp 5 tuổi ở trường nơi tôi đang công tác.
2


3. Nội dung sáng kiến
Giáo dục giúp trẻ phát triển toàn diện về đức, trí, lao, thể, mỹ là nhiệm vụ
của ngành giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Việc chuyển
giao giữa các bậc học đang được chú trọng và quan tâm nhất là độ tuổi từ
mầm non bước sang tiểu học. Đây có thể được coi là bước ngoặt vô cùng quan
trọng đối với trẻ. Nhiệm vụ của các cô giáo mầm non đặc biệt là giáo viên dạy
lớp 5 tuổi là phải chuẩn bị cho trẻ một tâm thế vững vàng, sẵn sàng bước vào
lớp một để trẻ tiếp cận môi trường mới một cách tốt nhất, nhanh nhất nhằm
giúp trẻ tiếp thu tri thức dễ dàng. Tạo cho trẻ tính tự lập, mạnh dạn không phụ
thuộc vào cô giáo, bố mẹ hay các bạn trong lớp. Đây cũng là điểm mới, điểm
nổi bật của đề tài tôi đang nghiên cứu áp dụng và thử nghiệm tại nơi đang
công tác.
Các giải pháp của đề tài có tính khả thi cao bởi vì các biện pháp rất thiết
thực, dễ áp dụng tại các lớp 5 tuổi tại tất cả các trường mầm non trong toàn thị
xã. Cách thức áp dụng sáng kiến cũng rất đơn giản trước tiên giáo viên 5 tuổi
cần tìm hiểu tâm sinh lý của trẻ tại lớp mình đang giảng dạy. Khi đã lắm chắc
được tâm sinh lý của trẻ giáo viên sẽ tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi,
lao động phù hợp với trẻ từ đó sẽ chuẩn bị được tâm thế sẵn sàng cho trẻ vào
lớp một.
4. Giá trị đạt được của sáng kiến
Sáng kiến mang lại hiệu quả, giá trị cao sau khi được áp dụng, trẻ đã có
một tâm lý sẵn sàng trước những thay đổi trong cuộc sống, trẻ biết cách ứng
xử, lễ phép với mọi người, trẻ dần thích nghi được với môi trường mới. Trẻ
hứng thú đi học và thích được đến trường tiểu học.

phải là làm thay cho công việc dạy học ở lớp một. Không nên dạy trước những
gì mà sau này trẻ sẽ được học một cách bài bản ở trường phổ thông. Nhiều
giáo viên mầm non do không chịu được áp lực từ phía phụ huynh đã nén nút
dạy trẻ 5 tuổi tập viết, do giáo viên mầm non không được học bài bản về dạy
viết nên đã dạy sai, khi trẻ vào lớp một rất vất vả cho giáo viên lớp một sửa
lại lỗi sai đó, có nhiều trường hợp không thể sửa được.
Từ thực tế trên tôi nhận thấy cần có biện pháp giúp trẻ có một tâm thế sẵn
sàng vào lớp một để tránh những hậu quả không mong muốn xẩy ra.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp sử dụng lời nói
- Phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ
- Phương pháp trực quan - minh họa
4


- Phương pháp nêu gương - đánh giá
- Phương pháp so sánh đối chứng
2.3. Một số điểm mới của vấn đề nghiên cứu
Chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng vào lớp một cần sự vào cuộc của toàn
Đảng, toàn dân, toàn xã hội. Thế nhưng không phải ai cũng nhận thức được
vai trò quan trọng cũng như những việc làm cần thiết để chuẩn bị cho trẻ sẵn
sàng vào lớp một. Trẻ được phát triển tốt ở mầm non cũng chính là sự chuẩn
bị tốt cho bậc học tiếp theo là tiểu học. Vì vậy, việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ
vào lớp một phải vừa phù hợp với tâm lý trẻ vừa phù hợp với yêu cầu của
ngành học đề ra.
2. Cơ sở lý luận của đề tài
Ngày nay trong môi trường giáo dục hiện đại mối quan tâm hàng đầu của
giáo viên, phụ huynh và toàn xã hội là khi trẻ chuẩn bị bước vào lớp một cần
chuẩn bị cho trẻ những gì? Để trẻ không gặp khó khăn trong quá trình chuyển
tiếp giữa hai bậc học mầm non và tiểu học dẫn đến tình trạng sốc học đường.

tuổi.
- Gia đình trẻ còn nghèo bố mẹ mải làm kinh tế ít có thời gian chăm sóc và
gần gũi trò chuyện với trẻ.
- Thể chất của các em không đồng đều có tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ
cân và thể thấp còi còn chiếm tỷ lệ rất cao.
- Công tác tuyên truyền cho phụ huynh hiểu về việc chuẩn bị cho trẻ vào
lớp một chưa thường xuyên.
- Thiếu sự phối hợp giữa trường mầm non, phụ huynh và trường tiểu học.
Để tìm ra được biện pháp giúp trẻ chuẩn bị tâm thế sẵn sàng vào lớp một
tôi đã khảo sát trẻ đầu năm học và có bảng kết quả thực tế như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát tâm lý trẻ
Số lượng
Thời gian
Đầu năm

trẻ
35

Trẻ tự tin
8

Tỉ lệ

Trẻ nhút

Tỉ lệ

(%)
23



29

Đầu
năm

Trẻ
Tỉ lệ

SDD

Tỉ lệ

(%)

thể nhẹ

(%)

cân
83

4

11

Trẻ SDD
thể thấp
còi
2


Trẻ mẫu giáo 5 tuổi là lứa tuổi khởi đầu làm quen với chữ viết, làm quen
với việc học đọc, học viết là vô cùng quan trọng. Nếu trẻ không nắm vững 29
chữ cái và 10 con số từ số 1 đến số 10 thì lên lớp một trẻ sẽ không thể học
được. Ở lớp một trẻ phải học kết hợp âm và chữ, học cách ghép vần, cách cầm
bút đúng, về con số trẻ phải cộng trừ trong phạm vi 100. Nếu ở mẫu giáo trẻ
không nắm vững 29 chữ cái và 10 chữ số thì vào lớp một trẻ sẽ không tự tin và
lúng túng cho nên phải dạy cho trẻ nắm vững 29 chữ cái tiếng Việt, trẻ nhận
biết chữ cái thông qua tri giác bằng tri giác âm thanh, nhận biết các chữ in
thường, viết thường, trẻ biết cách liên hệ các chữ cái đó với các từ và tìm ra
chữ cái mình đã học. Ngoài nắm chắc các con số từ 1 đến 10 trẻ cần biết định
hướng trong không gian, thời gian, biết màu sắc, hình dạng các đồ vật, các
khối. Dạy trẻ học toán thường khô khan, cứng nhắc vì vậy đòi hỏi giáo viên
cần có sáng tạo bằng cách lồng ghép các trò chơi, các tình huống nhằm gây
hứng thú cho trẻ tham gia học tập
Ví dụ: Trong tiết dạy trẻ nhận biết, phân biệt khối cầu, khối trụ tôi đã dựa
trên nền nhạc bài thể dục buổi để sáng tác ra một đoạn bài hát có kèm nhạc vui
nhộn mà vẫn nhấn mạnh được đặc điểm của hai khối để giúp trẻ nhớ lâu mà
tiết học không nhàm chán. Miêu tả hình dạng khối cầu tôi có đoạn bài hát như:
“Cô dạy em tìm hiểu về các khối, tròn xoe xoe đó chính là khối cầu khối cầu”.
Về khối trụ: “Cô dạy em tìm hiểu về các khối, một hai ba bốn xếp chồng, xếp
chồng, xếp chồng , lăn lăn lăn bền này, lăn lăn lăn ngược lại, lăn cả hai bên. Ta
cùng hô to khối trụ”. Ngoài ra tôi còn làm baboy có hình ảnh động của các
khối để trẻ quan sát, nhận xét…từ đó khắc sâu được đặc điểm các khối cho trẻ.
Giáo viên cho trẻ rèn luyện các thao tác mở vở, mở sách, luyện cho trẻ khả
năng ghi nhớ, chú ý có chủ định, biết tập trung lắng nghe, rèn những kỹ năng
nghe và nói, mở rộng vốn hiểu biết để dần hình thành 4 kỹ năng nghe, nói,
đọc, viết cho trẻ khi học tiểu học.
Ví dụ: Trong giờ hoạt động góc cô cho trẻ học cách mở sách, mở vở, cách
cầm sách đúng chiều không cầm ngược, góc âm nhạc cho trẻ hát và nghe hát

mà trẻ gần gũi, hiểu và thông cảm cho nhau, biết chia sẻ những khó khăn gặp
phải ở môi trường mới do đó giáo viên rèn cho trẻ kỹ năng nói mạch lạc, rõ
ràng, biết chú ý lăng nghe ý kiến của cô giáo và các bạn.

9


Vào học lớp một là bước ngoặt lớn trong cuộc đời mỗi trẻ. Đang từ cuộc
sống khá thoải mái về mặt thời gian cũng như tinh thần, bé phải chuyển qua
một môi trường đòi hỏi “làm việc” một cách thực sự, phải tập trung chú ý
trong cả một tiết học dài nhiều trẻ khó có thể thích nghi được chính vì vậy đòi
hỏi người giáo viên cần phải rèn cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi tính tập trung chú ý
để khi bước vào lớp một trẻ không cảm thấy bị căng thẳng và mệt mỏi sau một
tiết học dài.
Ngoài ra giáo viên còn cần dạy trẻ các kỹ năng tránh xa những nơi nguy
hiểm, đồ dùng nguy hiểm, không theo những người lạ mặt khi người thân
chưa đến đón kịp. Ở trường mầm non giáo viên đón và trả trẻ tận tay phụ
huynh nhưng ở trường tiểu học có trống tan là cô và trẻ cùng về nếu phụ
huynh chưa kịp đón trong khi trẻ chưa được trang bị những kiến thức đầy đủ
khi vào lớp một trong trường hợp này trẻ sẽ tự ý đi về hoặc theo một người lạ
mặt vì vậy dễ xẩy ra tai nạn hoặc bị bắt cóc.
4.4. Chuẩn bị về thể chất cho trẻ
Chuẩn bị về thể chất cho trẻ cẩn chuẩn bị cả hai mặt đó là dinh dưỡng và
sức khỏe của trẻ. Có một chế độ dinh dưỡng tốt, cân đối, hợp lý đảm bảo vệ
sinh trẻ sẽ có một cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, lanh lợi, thông minh. Muốn
trẻ đạt được điều đó giáo viên cần phối hợp với cô nuôi, phụ huynh xây dựng
thực đơn hợp lý, đủ 4 nhóm thực phẩm tránh lặp lại thực phẩm giữa hai bữa
trên lớp và hai bữa ở nhà. Kết hợp với ban giám hiệu nhà trường khám sức
khỏe định kỳ 2 lần trên một năm để kịp thời phát hiện những trẻ bị mắc bệnh
có biện pháp xứ lý ngay. Ngoài ra cần thực hiện cân trẻ 3 tháng một lần và đo

mọi mặt, từ thông tin hai chiều mà phụ huynh và giáo viên lắm bắt được
những thay đổi về tâm lý của trẻ hàng ngày từ đó có kế hoạch điều chỉnh dạy
và học hợp lý hơn.
5. Đánh giá kết quả
Sau khi áp dụng đề tài chất lượng trên trẻ được nâng cao rõ rệt: Trẻ hứng
thú đi học, mong muốn trở thành học sinh. Ngôn ngữ trẻ phát triển nhanh, trẻ
nói rõ ràng, tự tin. Nhận thức của trẻ phát triển, trẻ biết định hướng không
gian, thời gian. Biết cách ứng xử với mọi người
Bảng 1: Kết quả khảo sát tâm lý trẻ
Số lượng

Trẻ tự tin

Tỉ lệ

Trẻ nhút

Tỉ lệ
11


Thời gian
trẻ
(%)
nhát
(%)
Cuối năm
35
32
91

5.1.

Tỉ lệ

SDDthể

Tỉ lệ

(%)

nhẹ

(%)

Trẻ SDD
thể thấp
còi

cân,
94

1

3

1

Tỉ lệ
(%)


Tỉ lệ
(%)
77
9

Thời

Số

Trẻ

gian

lượng

bình

trẻ

thường

35

29

83

4

11

(%)

nhẹ

(%)

cân,

Trẻ SDD
thể thấp
còi

Tỉ lệ
(%)

Sức khỏe của trẻ có nhiều tiến bộ tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và
thể thấp còi giảm đi rõ rệt so với đầu năm. Đầu năm trẻ bình thường chiếm
83%, cuối năm là 94% tăng 11%. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đầu
năm 11%, cuối năm 3% giảm 8% không còn trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi
như đầu năm.
12


5.2.

Bài học kinh nghiệm

- Xây dựng kế hoạch năm, tháng, tuần, ngày phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý trẻ, phù hợp với điều kiện thức tế của lớp, của địa phương.
- Định ra những quy định, nội quy của lớp cho trẻ thực hiện tuy nhiên

từ đó đã đưa ra các giải pháp, biện pháp phù hợp.
Kết quả thu được sau khi áp dụng các giải pháp đó là trẻ hình thành các kỹ
năng học cần thiết trong môi trường tiểu học như: biết lắng nghe, biết tập
trung và làm theo hướng dẫn của giáo viên từ đó trẻ học tốt hơn. Các bé được
chuẩn bị tâm lý sẵn sàng hơn để làm quen với môi trường mới ở lớp một,
tránh được những rối loạn về tâm lý hay cảm xúc có thể xảy ra. Trẻ hòa nhập,
giao tiếp tôt hơn khi vào lớp một. Từ đó hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề
căn bản trong những tình huống thường gặp ở môi trường tiểu học.
Trẻ biết đồng cảm, yêu thương và chia sẻ với những người xung quanh. Trẻ
tránh được những hành vi, những cách cư xử không hay, những thói quen xấu.
Tránh được việc bị bạn bè bắt nạt, kỳ thị hoặc biết cách ứng xử phù hợp nếu
rơi vào những tình huống đó. Trẻ tránh được việc bị mất bình tĩnh, bị kích
động, bị lôi kéo…vào những tình huống mà trẻ không làm chủ được mình.
2. Một số khuyến nghị
2.1. Đối với ngành giáo dục
- Đặt ra mục tiêu giáo dục, phương pháp giáo dục phải phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Ngoài việc đòi hỏi chất lượng của học sinh cần chú trọng
đến việc giáo dục tình cảm, đạo đức và kỹ năng sống cho trẻ.
- Tổ chức các chuyên đề cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên 5 tuổi về
cách thức chuẩn bị tâm thế cho trẻ sẵn sàng vào lớp một.
2.2. Đối với nhà trường
- Tham mưu với các cấp lãnh đạo trong việc tu sửa, mua sắm thêm cơ
sở vật chất cho nhà trường như: Đồ chơi ngoài trời, máy chiếu…
- Tăng cường công tác tuyên truyền cho cha mẹ trẻ và cộng đồng địa
phương về việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một. Từ đó có biện pháp nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ phù hợp.

14




2

2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến……..………….

2

3. Nội dung sáng kiến…………………………………………………. 3
4. Giá trị đạt được của sáng kiến……………………………………… 3
5. Đề xuất kiến nghị để mở rộng sáng kiến…………………………… 3
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến…………………………..…………

4

2. Cơ sở lý luận của đề tài…………………………………..………… 5
3. Khảo sát thực trạng………………………………………..………
3.1.

Thuận

5

lợi………………………………………………..…………

5
3.2.

Khó



5. Đánh giá kết quả…………………………………………………… 11
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng…………………………… 13
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận………………………………………………………..……

14

2. Một số khuyến nghị…………………………………………….….

14
17


2.1.Đối với ngành giáo dục…………………………………………...

14

2.2.Đối với nhà trường………………………………………………..

14

2.3. Đối với phụ huynh học sinh……………………………….…...

15

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status