Thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục từ thực tiễn huyện chương mỹ, thành phố hà nội - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH HÀ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
NGÀNH GIÁO DỤC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƢƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn “Thực hiện Chính sách phát triển viên chức ngành giáo
dục từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành Phố Hà Nội” là công trình nghiên
cứu độc lập của cá nhân tôi. Các thông tin trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu. Các nghiên cứu hoàn toàn trung thực
và chưa được công bố ở công trình, đề tài nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Tác giả luận văn

Lê Thanh Hà


31

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành
giáo dục tại huyện Chương Mỹ

35

2.3. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành
giáo dục tại huyện Chương Mỹ

46

Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC NGÀNH
GIÁO DỤC Ở HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

63

3.1. Định hướng nâng cao chất lượng thực hiện chính sách phát triển
viên chức ngành giáo dục tại huyện Chương Mỹ

63

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

66

KẾT LUẬN

HĐTD

Hội đồng tuyển dụng

KT-XH

Kinh tế - Xã hội

TĐKT

Thi đua, khen thưởng

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

UBND

Ủy ban nhân dân

VTVL

Vị trí việc làm


DANH MỤC BẢNG


53

Bảng 2.7: Biểu thống kê tỉ lệ phân loại đánh giá viên chức ngành giáo dục

54

Bảng 2.8: Biểu thống kê số lượng viên chức được khen thưởng trong
2 năm gần nhất

56

Bảng 2.9: Biểu thống kê số lượng học sinh đạt giải các cuộc thi cấp
thành phố, cấp quốc gia qua các năm

57

Bảng 2.10: Biểu thống kê so sánh số lượng viên chức đạt giỏi cấp
huyện và cấp thành phố sau 5 năm.

58


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp phát triển của một đất nước, một cơ quan hay tổ chức thì
yếu tố nguồn nhân lực luôn giữ vị trí quan trọng và mang tính quyết định. Vì
vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là cơ sở tiền đề đưa đất nước tiến lên.
Đại hội IX(2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ Công nghiệp hóa,

phong cách làm việc còn chậm. Do đó, những kết quả đạt được chưa tương xứng
với vị trí, vai trò của viên chức trong đời sống xã hội. Ngoài những hạn chế của
đội ngũ nhân lực hiện có, việc tuyển dụng nhân lực mới tại các đơn vị giáo dục
cũng đang gặp phải một số vướng mắc như thiếu sự chủ động, khó thu hút nhân
lực có chất lượng chuyên môn cao, tiêu cực phát sinh trong quá trình tuyển dụng,
sử dụng và quản lý viên chức… Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ
trong chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục, đặc biệt là việc triển khai
thực hiện chính sách phải được vận dụng các phương pháp linh hoạt để phù hợp
với tình hình thực tế tại các địa phương.
Huyện Chương Mỹ là một trong 30 quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội,
cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía Tây Nam, huyện có địa bàn rộng đứng thứ
3 toàn thành phố (diện tích 237,38 km2), dân số đông, toàn huyện có tổng số 115
đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập với tổng số viên chức (tính đến hết tháng
6/2017) là 4305 người. Trong những năm qua công tác tổ chức thực thi các chính
sách của Nhà nước trong đó có chính sách về phát triển viên chức ngành giáo
dục tại huyện Chương Mỹ đã được Huyện ủy, HĐND và UBND huyện chú
trọng thực hiện và đạt được những kết quả đáng kể góp phần vào công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội chung của huyện.
Ngoài những kết quả được ghi nhận, quá trình tổ chức thực thi chính sách
phát triển viên chức ngành giáo dục tại huyện Chương Mỹ còn bộc lộ nhiều bất
cập và hạn chế dẫn đến chất lượng thực hiện không toàn diện; hiệu quả đạt được

2


chưa cao so với các quận, huyện khác. Để mang lại hiệu quả cao trong việc cung
cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục và mang lại lợi ích thực sự cho người
dân thì cần thiết phải tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển
viên chức ngành giáo dục, nghiên cứu và đưa ra những định hướng, giải pháp
nhằm thực hiện chính sách có hiệu quả nhất là một đòi hỏi khách quan. Từ

- Nguyễn Thị Thanh Huyền, Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn
Bộ tư pháp - Luận văn Thạc sĩ ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã
hội, 2014.
- Hệ thống các Kế hoạch, Báo cáo, Đề án dài hạn và các văn bản khác của
UBND huyện Chương Mỹ có liên quan đến viên chức ngành giáo dục giai đoạn
2012 - 2017.
Về cơ bản, các bài viết, công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu về
viên chức tại nhiều khía cạnh theo sự thay đổi của pháp luật về đội ngũ này. Tuy
nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào cung cấp đầy đủ và hệ thống
về lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo
dục tại một đơn vị hành chính cấp huyện, cụ thể là huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội. Với đề tài này, học viên mong muốn nghiên cứu sâu về việc thực hiện
chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục, cụ thể là những tác động của cơ
chế, chính sách, pháp luật đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển
viên chức ngành giáo dục và đào tạo tại huyện Chương Mỹ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục để có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính
sách phát triển viên chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính
sách phát triển viên chức ngành giáo dục tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:

4


- Nghiên cứu cơ sở lý luận, hệ thống những nhận thức về thực hiện chính


Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương để làm rõ những vấn đề lý
luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục.
Phương pháp thống kê: được sử dụng để thu thập số liệu từ các báo cáo,
tài liệu thống kê của các phòng ban chuyên môn của UBND huyện Chương Mỹ,
kết hợp với phương pháp khái quát thực tiễn, phân tích định tính, suy luận logic,
diễn giải nhằm phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện Chương Mỹ; từ đó, đưa ra định hướng,
quan điểm, giải pháp cho chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Học viên nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết về thực
hiện chính sách công để phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách. Kết quả
đánh giá việc thực hiện chính sách làm sáng tỏ các lý thuyết về chính sách công.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn hệ thống hóa các lý luận liên quan về thực
hiện chính sách công, thu thập và phân tích những vấn đề thực tiễn của việc triển
khai thực hiện chính sách công, cụ thể trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo của
huyện Chương Mỹ. Từ đó, cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành
của huyện và các cơ quan cấp trên trong việc thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục ở cấp huyện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục;
Chương 2: Thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục từ
thực tiễn hiện nay của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính
sách phát triển viên chức ngành giáo dục ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.


lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó trong phạm vi
thẩm quyền của mình. Các tổ chức, doanh nghiệp, các đoàn thể đều có thể có
những chính sách riêng của mình để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt

7


động như: các chính sách mở rộng thị trường kinh doanh, chính sách cạnh
tranh… những chính sách này chỉ có hiệu lực thi hành trong phạm vị của tổ chức
đó, do vậy chúng có thể được coi là những “chính sách tư”. Mặc dù được sử
dụng rộng rãi nhưng chính sách tư hầu như không được đề cấp đến và được
nghiên cứu với tư cách là một ngành khoa học. Về cơ bản “chính sách” có những
đặc điểm sau: chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;
chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực
tế; chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định,
nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó, chính sách được ban hành đều có
sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
“Chính sách công” là khái niệm hiện nay thường xuyên được dùng trong
điều hành và quản lý nhà nước, trong lĩnh vực hoạt động của luật pháp, trong
nghiên cứu và học thuật. Tuy nhiên, khái niệm về chính sách công không phải
lúc nào cũng được hiểu hoàn toàn giống nhau. Trên thế giới có rất nhiều quan
điểm khác nhau về chính sách công, cho đến nay khái niệm về chính sách công
vẫn là chủ đề khó đạt được sự thống nhất. Có một định nghĩa gần đây của
William Jenkin được thế giới chấp nhận một cách rộng rãi: “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một
nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để
đạt được các mục tiêu đó” [37, pg. 5], theo định nghĩa này: chính sách công
không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó mà là một tập hợp các quyết định có
liên quan đến nhau trong một khoảng thời gian dài, chủ thể ban hành chính sách
công phải là cơ quan nhà nước và chính sách công nhằm vào những mục tiêu

xác định” [36].
Mỗi khái niệm, định nghĩa về chính sách công có một cách tiếp cận khác
nhau, tuy nhiên qua phân tích có thể nhận thấy nội hàm các khái niệm có một số
điểm chung sau:
+ Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước;
+ Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau;
+ Chính sách công có mục tiêu, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề

9


xã hội nhằm hướng tới một mục tiêu chung theo ý chí của Đảng cầm quyền.
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan
quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các Bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà
nước. Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến pháp,
Luật, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư, Quyết định. Mục đích là để phát triển và
quản lý sự phát triển của xã hội.
Chính sách công thể hiện ý chí, quan điểm, chủ trương đường lối của chủ
thể ban hành chính sách, bao gồm các quyết định, định hướng chỉ đạo của chủ
thể ban hành có liên quan, tác động lẫn nhau. Trong chính sách đó cũng phải nêu
ra được những biện pháp, các công cụ và đặc biệt phải có mục tiêu mà chính
sách đó hướng đến, trả lời những câu hỏi mục tiêu chính sách là gì? Giải pháp
thực hiện chính sách như thế nào?...
Như vậy, thuộc tính căn bản của chính sách công gồm: tính nhà nước,
tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và
gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
nhất định.
Khái niệm về “Viên chức”: theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 thì
“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc
tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ

lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu định hướng, duy trì sự ổn
định trong quá trình phát triển đất nước và phục vụ người dân. Ngoài vai trò cơ
bản này, Chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục còn có các vai trò cụ
thể sau:
- Chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục là phương tiện quan
trọng, là cơ sở để định hướng mọi hoạt động và hành vi của người viên chức
ngành giáo dục. Tùy theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong
từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước có sự điều chỉnh các chính sách nhằm định
hướng cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu đối với đội ngũ viên
chức ngành giáo dục thích ứng với từng giai đoạn lịch sử.
- Chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục là phương tiện quan

11


trọng trong việc điều tiết nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực,
đồng thời tạo sự công bằng trong chế độ làm việc cũng như hưởng thụ đối với
viên chức trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo từng địa bàn, giữa địa phương này
với địa phương khác, cấp này với cấp khác cũng như giữa các vùng, miền trong
cả nước.
- Chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục có vai trò kích thích sự
phát triển, tạo động lực mạnh mẽ tới đội ngũ viên chức ngành giáo dục trong quá
trình thực thi nhiệm vụ. Các chính sách về tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, đánh
giá, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, phụ cấp… nếu được quy định hợp lý và
thực thi kịp thời sẽ là nguồn động viên to lớn, phát huy được khả năng tối đa của
người viên chức ngành giáo dục trong hoạt động nghề nghiệp.
Trên cơ cở làm rõ vị trí, vai trò cơ bản của chính sách phát triển viên chức
ngành giáo dục, việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách được xác định như
sau: thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục là một khâu trong
chu trình chính sách, là việc chuyển hóa toàn bộ ý chí của chủ thể chính sách

chức. Năm 1998 nước ta mới có Pháp lệnh Cán bộ, Công chức và năm 2008 có
Luật Cán bộ, Công chức được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày
01/01/2010. Đến năm 2010 có Luật Viên chức được Quốc hội thông qua và có
hiệu lực từ 01/01/2012. Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2014, tổng số viên
chức ở nước ta là: 2.312.690 người chiếm tỉ lệ 89,4% trong tổng số công chức,
viên chức cả nước (số lượng công chức trong các cơ quan nhà nước năm 2014 là:
275.620 người) [13]. Như vậy, viên chức đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp dịch vụ công, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh
vực thiết yếu của đời sống xã hội.
Viên chức ngành giáo dục được xác định là một bộ phận của hệ thống
viên chức nói chung, vì vậy hệ thống các quan điểm của Đảng và chính sách của
Nhà nước đối với viên chức ngành giáo dục nằm trong tổng thể quan điểm, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với viên chức. Trên cơ sở đó, chính sách phát
triển viên chức ngành giáo dục được xác định trong thể chế xây dựng và quản lý
viên chức của Nhà nước thông qua Luật và các văn bản dưới luật, cụ thể: Luật
viên chức số 58/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

13


Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010; Nghị định số
29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ Về tuyển dụng, sử dụng và quản
lý viên chức; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Quy
định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Và trong các chương trình, dự
án, đề án chính sách phát triển chung đối với cán bộ, công chức, viên chức được
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt như: Quyết định số
163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025, Quyết định số
225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016-2020 có mục tiêu về “xây dựng,

Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của liên bộ:
Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Nội vụ Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở
các cơ sở giáo dục phổ thông công lập.
Căn cứ tuyển dụng theo Mục 1, Chương III của Luật Viên chức; Quy định
về điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng; về thi tuyển, xét tuyển viên chức thực hiện
theo Chương II, Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ và
Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28/12/2012 của Bộ Nội vụ ban hành Quy
chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; Quy chế tổ chức thi thăng hạng chức danh
nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh
nghề nghiệp đối với viên chức; các Kế hoạch chung của UBND thành phố Hà
Nội và các văn bản hướng dẫn khác về tuyển dụng.
b) Chính sách về tiền lương
Theo Khoản 1, 2 Điều 90 Bộ luật lao động (2012): Tiền lương là khoản tiền
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo
thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ
cấp lương và các khoản bổ sung khác... Tiền lương trả cho người lao động căn cứ
vào năng suất lao động và chất lượng công việc [24].
Theo Điều 12 Luật viên chức: viên chức được trả lương tương xứng với vị
trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công
việc hoặc nhiệm vụ được giao.
Chính sách về tiền lương nói chung của viên chức ngành giáo dục gồm:

15


các quy định liên quan đến bậc lương, hệ số lương hưởng theo thang bảng lương
tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ
tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; đối với
giáo viên trực tiếp giảng dạy, có quy định về phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo
theo Quyết định số 224/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính

đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra còn có các quy
định và hướng dẫn thực hiện hàng năm đối với công tác đánh giá viên chức
ngành giáo dục thuộc thành phố Hà Nội.
e) Chính sách về thi đua, khen thưởng
Chính sách về thi đua, khen thưởng đối với viên chức cũng được xác định
nằm trong tổng thể chính sách về thi đua, khen thưởng của Nhà nước, được quy
định trong Luật thi đua, khen thưởng và các văn bản có liên quan. Đối với viên
chức ngành giáo dục có quy định hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 35/2015/TTBGDĐT ngày 31/12/2015 của Bộ Giáo dục và đạo tạo về Hướng dẫn công tác
thi đua, khen thưởng ngành giáo dục.
1.2.2. Ý nghĩa việc thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành
giáo dục
Một chính sách công nói chung được xây dựng lên là nhằm giải quyết
những vấn đề thực tiễn đặt ra của cuộc sống, nếu không được cụ thể hóa để đưa
vào thực hiện, thì chính sách không có giá trị thực tiễn, không đem lại lợi ích và
không giải quyết được vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội. Từ việc khái quát
cơ bản về chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục có thể nhận thấy, trên
nhiều phương diện, việc tổ chức thực hiện đưa chính sách phát triển viên chức
ngành giáo dục vào hiện thực có những ý nghĩa rất quan trọng như sau:
- Thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành giáo dục nhằm chuyển
hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực, nói cách khác là
nhằm giải quyết được những vần đề mà đội ngũ viên chức ngành giáo dục đang
gặp phải, nâng cao được chất lượng đội ngũ viên chức ngành giáo dục trong điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể.
- Đối với các chính sách nói chung và chính sách phát triển viên chức

17


ngành giáo dục nói riêng, việc hoạch định, xây dựng đúng và có chất lượng là rất
quan trọng, nhưng nếu quá trình tổ chức thực hiện không đúng, không hiệu quả

định chính sách có những phân tích và đánh giá để đưa ra hướng hành động tiếp
theo nhằm phát triển đội ngũ viên chức ngành giáo dục đảm bảo cả về số lượng
và chất lượng đem lại hiệu quả cung ứng dịch cụ công tốt nhất cho xã hội.
1.2.3. Nội dung các bước thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành
giáo dục
Trên cơ cở sở xem xét việc thực hiện chính sách phát triển viên chức ngành
giáo dục theo các bước tổ chức thực hiện chính sách công, nội dung các bước thực
hiện cụ thể như sau:
Bước 1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển viên
chức ngành giáo dục.
Trước tiên cần xác định, việc tổ chức thực hiện nhằm đưa chính sách phát
triển viên chức ngành giáo dục vào thực tiễn là quá trình phức tạp, diễn ra trong
một thời gian dài, vì thế quá trình này cần được lập kế hoạch, lên chương trình
để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động. Các đơn vị có
liên quan tham gia triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương
đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện, các nội dung cơ bản cần
xây dựng gồm:
- Về kế hoạch tổ chức, điều hành: lập kế hoạch tổ chức điều hành bao gồm
những dự kiến về các chủ thể tham gia, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai
thực hiện chính sách; dự kiến số lượng và các yêu cầu về chất lượng nguồn nhân
lực để tham gia thực thi chính sách; cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và
người thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách.
- Về các nguồn lực: xác định được các nguồn lực, dự kiến về cơ sở vật
chất, phương tiện cần thiết, điều kiện về trang thiết bị kỹ thuật, nguồn lực vật tư,
các nguồn lực tài chính và các yêu cầu thiết yếu phục vụ công tác triển khai thực
hiện chính sách.
- Về thời gian: xác định thời gian triển khai thực hiện, thời gian duy trì
chính sách; dự kiến thời gian tổ chức triển khai thực hiện các bước từ tuyên

19


20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status