ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
LÊ TUẤN DUNG
VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
CỦA CƠ QUAN BÁO CHÍ VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
LÊ TUẤN DUNG
VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
CỦA CƠ QUAN BÁO CHÍ VIỆT NAM
HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Hà Nội – 2017
Sông Tiền (báo Tuổi trẻ), nhà báo Võ Hùng Thuật – Phó tổng thư kí tòa soạn
báo Tuổi trẻ, nhà báo Vũ Huyền Linh – Trưởng phòng Marketing báo
VietNamNet, nhà báo Nguyễn Trường Thanh – Trưởng phòng Công tác bạn
xem truyền hình, Đài truyền hình Việt Nam.
Vì còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu, luận văn sẽ không
tránh khỏi thiếu sót. Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô cũng
như các bạn để bổ sung, hoàn thiện luận văn của mình tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Tuấn Dung
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AP
: Associated Press
Liên đoàn Báo chí
CNN
: Cable News Network
Mạng Tin tức Truyền hình cáp
Formosa
: Công ty Trách nhiệm hữu hạn gang thép Hưng Nghiệp
Formosa
chúng trên Fanpage báo Tuổi trẻ, VietNamNet và VTV
qua sự kiện “Đề án thay thế 6700 cây xanh Hà Nội”
68
Bảng 2.3 Thống kê bình luận của công chúng trên Fanpage báo
Tuổi trẻ, VietNamNet và VTV qua sự kiện “Đề án thay
thế 6700 cây xanh Hà Nội”
69
Bảng 2.4 Thống kê lượng bài đăng và lượng tương tác của công
chúng trên Fanpage báo Tuổi trẻ, VietNamNet và VTV
qua sự kiện “Sự cố môi trường biển miền Trung”
69
Bảng 2.5 Thống kê bình luận của công chúng trên Fanpage báo
Tuổi trẻ, VietNamNet và VTV qua sự kiện “Sự cố môi
trường biển miền Trung”
70
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Tên danh mục
MẠNG XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN BÁO CHÍ ....... 15
1.1. Tổng quan về mạng xã hội và mạng xã hội Facebook .................... 15
1.1.1. Khái niệm mạng xã hội ............................................................... 15
1.1.2. Mạng xã hội Facebook ................................................................ 16
1.2. Phƣơng thức sử dụng mạng xã hội Facebook của cơ quan báo chí .... 22
1.2.1. Mạng xã hội Facebook là nguồn tin của cơ quan báo chí ........ 23
1.2.2. Mạng xã hội Facebook là phƣơng tiện quảng bá thông tin,
tƣơng tác với công chúng của cơ quan báo chí ................................... 28
1.3. Kinh nghiệm một số cơ quan truyền thông trên thế giới ............... 40
1.3.1. Hãng thông tấn AP ...................................................................... 40
1.3.2. Hãng thông tấn CNN ................................................................... 43
1.3.3. So sánh việc sử dụng mạng xã hội của hai hãng thông tấn báo chí.46
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................... 48
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA BÁO TUỔI TRẺ, VIETNAMNET, ........................... 49
ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM .............................................................. 49
2.1. Giới thiệu chung về báo Tuổi trẻ, VietNamNet, VTV .................... 49
2.1.1. Báo Tuổi trẻ .................................................................................. 49
2.1.2. Báo VietNamNet .......................................................................... 50
2.1.3. Đài truyền hình Việt Nam (VTV)............................................... 51
2.2. Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội Facebook của các cơ quan
báo chí đƣợc khảo sát ................................................................................ 53
2.2.1. Khai thác nguồn thông tin từ mạng xã hội Facebook .............. 53
1
2.2.2. Xây dựng Fanpage để tƣơng tác với công chúng và quảng bá
thông tin .................................................................................................. 62
2.3. Nhận xét việc sử dụng Facebook của báo Tuổi trẻ, VietNamNet,
Do sự tiện lợi, nhanh chóng, sâu rộng, mạng xã hội đã trở thành một
phần tất yếu trong đời sống của hàng tỉ thành viên khắp thế giới và sử dụng
như một tiện ích được ưa chuộng nhất với hơn 2,7 tỉ người chiếm 37% dân số
thế giới. Trong đó, mạng xã hội phổ biến nhất phải kể đến là Facebook có tới
hơn 1,8 tỉ người tính đến tháng 1/2017 [86]. Facebook hiện nay là mạng xã
hội nổi tiếng trên toàn thế giới và đang tăng đột biến về số người dùng tại
Việt Nam với 46 triệu người (tính đến tháng 1/2017) [87]. Mạng xã hội này
đang được sử dụng mọi lúc, mọi nơi, tạo ra sức cuốn hút ghê gớm và tốc độ
lan truyền mạnh mẽ. Sự phát triển nhảy vọt của mạng xã hội nói chung và
Facebook nói riêng đã dẫn đến sự thay đổi mối tương quan giữa người viết tin
và người nhận tin, thay đổi trong cách thức truyền tải thông tin của các cơ
quan báo chí, cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng.
Việt Nam đang trong xu thế hội nhập, phát triển và có những biến đổi
sâu sắc về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội. Trong đó, báo chí đóng góp
một phần quan trọng không thể thiếu trong công tác thông tin. Báo chí thực sự
là sức mạnh tri thức, thông tin muôn mặt đời sống đến mọi người dân, là cơ
3
quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là
diễn đàn của nhân dân. Tuy nhiên, trong thời đại khoa học – công nghệ phát
triển với sự ra đời mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông mới, báo chí
muốn thu hút, lôi cuốn được độc giả thì cần phải thay đổi những phương thức
truyền thông truyền thống, nhanh nhạy bắt kịp xu hướng tiếp nhận thông tin
mới của độc giả.
Các nghiên cứu cho thấy phần lớn các cơ quan báo chí hiện nay đang
sử dụng Facebook như một nguồn tin và một công cụ quảng bá thông tin,
tương tác với công chúng. Nhiều cơ quan truyền thông lớn trên thế giới như
AP, CNN, BBC, Washington Post, New York Times, Daily Telegraph …dù
việc ứng dụng mạng xã hội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí luôn
nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu quốc tế. Theo khảo sát sơ bộ
của tác giả luận văn, hiện có hàng chục công bố gần đây về vấn đề này. Trong
đó tiêu biểu có thể kể đến những nghiên cứu sau. Cuốn “Inside Reporting”
của tác giả Tim Harrower [84] đề cập tới mạng xã hội trong tương quan với
báo chí. Tim Harrower giải thích cách thức mạng xã hội có thể đóng góp cho
bài báo trong ba giai đoạn: trước, trong và sau khi sản xuất tin bài. Cụ thể: (1)
giai đoạn trước khi sản xuất tin tức như theo dõi các xu hướng, thảo luận đang
diễn ra (2) giai đoạn trong quá trình sản xuất như đăng trực tiếp mọi sự kiện
tin tức đang xảy ra, kêu gọi đóng góp cộng đồng (crowdsource) bằng hình
ảnh, video…(3) giai đoạn sau sản xuất tin tức như đẩy mạnh quảng bá trên
website bằng đường link tới câu chuyện, làm chủ Facebook chat để khuyến
khích các thảo luận mở rộng chủ đề, chia sẻ hình ảnh, video, bình luận hậu
trường.
Một nghiên cứu đáng chú ý khác là “New agencies and Social media:
A relationship with a future?” của tác giả Mag. Christoph Griessner [79].
Thông qua việc nghiên cứu hoạt động của một số hãng thông tấn lớn như AP,
5
AFP, tác giả chỉ ra hai cách sử dụng mạng xã hội của các cơ quan báo chí là
sử dụng mạng xã hội như một nguồn cung cấp thông tin và xây dựng mạng
lưới tin tức trên toàn thế giới, biến công chúng thành “nhà báo công dân”
(citizen journalist).
Joseph Lichterman trong nghiên cứu “Who’s behind that tweet? Here’s
how 7 news orgs manage their Twitter and Facebook accounts” [76] đã tiến
hành phỏng vấn, khảo sát các biên tập viên phụ trách truyền thông xã hội của
bảy hãng thông tấn lớn về việc họ quản lý, sử dụng các tài khoản trên Twitter
và Facebook của mình. Kết quả cho thấy ba cách sử dụng mạng xã hội đang
được các hãng thông tấn báo chí sử dụng là (1) chia sẻ nội dung tin tức, (2)
góp cộng đồng) và như một công cụ quảng bá, tương tác với công chúng.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, mạng xã hội đã trở nên quen thuộc với công chúng và
trở thành mối quan tâm của rất nhiều học giả. Nghiên cứu về mạng xã hội
cũng như ứng dụng và tác động của mạng xã hội đến báo chí có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu như:
Cuốn “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại”
của tác giả Nguyễn Thành Lợi [40]. Tác giả đã đưa ra năm vai trò của truyền
thông xã hội đối với báo chí là: (1) Kênh để nhà báo thu thập, khai thác và
kiểm chứng thông tin; (2) Giúp các tòa soạn mở rộng công chúng mục tiêu;
(3) Cầu nối giữa công chúng và tòa soạn (4) Tăng uy tín và danh tiếng cho tòa
soạn; (5) Hội tụ về phương thức truyền thông.
Đỗ Chí Nghĩa và Đinh Thị Thu Hằng trong cuốn“Báo chí và mạng xã
hội” [47] đã đi sâu phân tích tác động qua lại giữa báo chí và mạng xã hội
trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay, trong đó chỉ ra năm tác động của
mạng xã hội đối với báo chí: (1) Cung cấp thông tin cho báo chí; (2) Quảng
7
bá thông tin; (3) Kênh tương tác giữa báo chí và độc giả; (4) Kênh phản biện
với thông tin báo chí; (5) Tác động đến cách thức tác nghiệp của nhà báo.
Nguyễn Thị Trường Giang trong tham luận “Tác động của truyền
thông xã hội tới báo chí” [16] đúc kết được ba tác động của truyền thông xã
hội đến cách sử dụng mạng xã hội của báo chí là: (1) Nguồn cung cấp thông
tin, đề tài; (2) Quảng bá thông tin báo chí; (3) Tương tác với công chúng.
Lê Quốc Minh [44] đã chỉ ra ba phương thức sử dụng mạng xã hội của
cơ quan báo chí, cụ thể là báo VietnamPlus: (1) Công cụ quảng bá thông tin,
xây dựng thương hiệu; (2) Nguồn khai thác, thẩm định thông tin; (3) Kênh
tương tác với công chúng. Trong đó có một phương thức đặc biệt được tác giả
mới chỉ khảo sát mạng xã hội Youtube mà chưa soi về mạng xã hội Facebook
như tác giả nghiên cứu.
Dương Nam Hoàng [27] trong luận văn đã phân tích thực trạng tác
động của mạng xã hội đến việc xử lý thông tin của báo điện tử Việt Nam hiện
nay: (1) Cung cấp nguồn tin cho báo điện tử và kiểm chứng nguồn tin kĩ càng;
(2) Giúp thông tin trên báo điện tử lan truyền nhanh chóng, hiệu quả; (3) Việc
xử lý thông tin phản hồi để nắm bắt dư luận xã hội trở nên dễ dàng hơn. Từ
đó, đóng góp giải pháp về xử lý thông tin của báo điện tử: (1) Báo điện tử
phải định hướng thông tin trên mạng xã hội; (2) Giữ vững định hướng của
trang báo, đảm bảo nguyên tắc thông tin; (3) Xây dựng khung pháp lý và hoàn
thiện cơ chế, chính sách; (4) Xây dựng đội ngũ biên tập viên chuyên nghiệp
xử lý thông tin trên mạng xã hội; (5) Nhà báo phải đảm bảo nguyên tắc đạo
đức trong lựa chọn, xử lý thông tin; (6) Đầu tư, phát triển các mạng xã hội
Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn chỉ mới nghiên cứu trên một loại hình báo chí
là báo điện tử mà không soi chiếu với các loại hình báo chí khác như tác giả
nghiên cứu.
9
Đồng Thanh Hoàn [26] tiến hành khảo sát tác động của mạng xã hội
đến hệ thống báo in của lực lượng công an trên hai phương diện tích cực (thúc
đẩy đổi mới tổ chức hoạt động, áp lực tích cực về quy trình tác nghiệp, tăng
sức hấp dẫn thông tin, tương tác với độc giả) và tiêu cực (chạy theo thông tin
giật gân câu khách, nhà báo bị chi phối về thời gian cho mạng xã hội, cạnh
tranh về bạn đọc và lượng phát hành). Tuy nhiên, luận văn cũng mới chỉ dừng
lại ở việc nghiên cứu trên một loại hình báo chí là báo in mà chưa có sự so
sánh với loại hình báo chí khác.
Ngoài những nghiên cứu kể trên, còn có nhiều công trình khác liên
quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm luận văn của Hoàng Thị Hải Yến [69],
thấy những điểm giống và khác nhau giữa các cơ quan báo chí thuộc các loại
hình khác nhau như thế nào trong việc sử dụng Facebook. Thứ ba, đưa ra giải
pháp, khuyến nghị đối với từng cơ quan báo chí và những bài học kinh
nghiệm cho các cơ quan báo chí khác.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng mạng xã hội Facebook của
cơ quan báo chí Việt Nam hiện nay, cụ thể trong việc sử dụng Facebook như
một nguồn tin và phương tiện quảng bá thông tin, tương tác với công chúng.
Đối tượng khảo sát là ba cơ quan báo chí đại diện cho ba loại hình báo
chí, báo Tuổi trẻ, VietNamNet, Đài truyền hình Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các trang Facebook (Fanpage) cả ba cơ quan báo chí nói trên từ tháng
1/2015 đến tháng 12/2016. Để giải quyết các vấn đề trên, trong khi diện
nghiên cứu rộng nên tác giả chọn hai trường hợp cụ thể là: Đề án thay thế
6700 cây xanh Hà Nội năm 2015 và Sự cố môi trường biển miền Trung liên
quan đến Công ty trách nhiệm hữu hạn gang thép Hưng Nghiệp Formosa năm
11
2016 để thấy sự kết nối thông tin giữa kênh phát chính và Facebook của các
cơ quan báo chí.
Trong đó, tác giả chỉ khảo sát những Fanpage chính thức có dấu tích
xanh xác nhận. Với báo Tuổi trẻ, khảo sát trang: Tuổi trẻ
https://www.facebook.com/baotuoitre/. Với báo VietNamNet, khảo sát trang:
VietNamNet https://www.facebook.com/vietnamnet.vn/ và Tin tức Online
https://www.facebook.com/tintuconlinevnn/. Với VTV, khảo sát trang: VTV
– Đài Truyền hình Việt Nam https://www.facebook.com/VTVtoiyeu/, Báo
điện tử VTV https://www.facebook.com/baodientuvtv/, Chào buổi sáng
https://www.facebook.com/chaobuoisangvtv1/, Thời sự VTV
là người phụ trách Fanpage chính.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần khẳng định một số cơ sở lý luận hiện có về mạng xã
hội và hoạt động báo chí. Luận văn góp phần bổ sung và phát triển hệ thống
lý thuyết về việc ứng dụng hiệu quả mạng xã hội nói chung và Facebook nói
riêng trong hoạt động báo chí, có giá trị tham khảo về mặt lý luận đối với các
cơ sở đào tạo, nghiên cứu báo chí, truyền thông.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn làm rõ cách thức sử dụng mạng xã hội Facebook trong hoạt
động báo chí. Trên cơ sở khảo sát thực tế, với số liệu cụ thể, tác giả sẽ phân
tích, đánh giá và đưa ra một số giải pháp cho các cơ quan báo chí tham khảo
trong chiến lược sử dụng mạng xã hội, phần nào giúp các báo đài có cái nhìn
xác thực hơn về vai trò của mạng xã hội trong hoạt động báo chí.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục,
phần nội dung chính được kết cấu thành ba chương cụ thể:
13
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc ứng dụng mạng xã hội
trong hoạt động của cơ quan báo chí
Trong chương 1, tác giả sẽ hệ thống hóa các lý thuyết về mạng xã hội,
mạng xã hội Facebook, đồng thời chỉ ra hai phương thức sử dụng mạng xã hội
của các cơ quan báo chí hiện nay là sử dụng mạng xã hội Facebook như một
nguồn cung cấp thông tin và như một phương tiện quảng bá thông tin, tương
tác với công chúng. Ngoài ra, tác giả cũng giới thiệu kinh nghiệm sử dụng
mạng xã hội của một số cơ quan truyền thông trên thế giới là AP và CNN.
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội Facebook của báo
Tuổi trẻ, VietNamNet, Đài truyền hình Việt Nam
đại học Bang Michigan (Mỹ) thì cho rằng, mạng xã hội là những dịch vụ trên
nền tảng web cho phép các cá nhân: (1) xây dựng hồ sơ thông tin công khai
(hoặc bán công khai) bên trong một hệ thống giới hạn, (2) kết nối với những
người sử dụng khác để chia sẻ điều gì đó, (3) thấy được các kết nối của mình
và các hoạt động mà những người sử dụng mạng xã hội kết nối với mình thực
hiện. Hình thức kết nối cụ thể có sự khác biệt nhất định giữa các website
mạng xã hội khác nhau [33, tr.18].
Cuốn “Báo chí và mạng xã hội” đưa ra khái niệm: “Mạng xã hội
(social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet
lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và
thời gian” [47, tr.7].
15
Bàn đến khái niệm này, PGS.TS Mai Quỳnh Nam nhìn nhận: “Không
nên hiểu mạng xã hội chỉ ở khía cạnh thông tin điện tử. Mạng xã hội có thể
hình dung như là khái niệm chỉ mối quan hệ liên đới giữa con người với nhau
về một vấn đề nào đó trong xã hội”[49, tr.13].Quan điểm này trùng với ý kiến
của tác giả Peter K.Ryan trong cuốn “Social networking”. Tác giả Peter
K.Ryan cũng cho rằng: “Mạng xã hội là một nhóm người kết nối vì một lý do
cụ thể nào đấy. Với việc phát minh ra radio, tivi và đặc biệt là Internet, con
người có thể thiết lập và duy trì sự liên kết vượt qua những giới hạn về không
gian trong lịch sử trước đây”[49, tr.13].
Mục 29, Điều 3, Nghị định 72/2013/NĐ – CP của Chính phủ ban hành
ngày 15/7/2013 giải thích: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông
tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung
cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch
vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat)
trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự
XXI chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại với
sự ra đời của hàng loạt thiết kế thông minh, trong đó phải kể đến sự phát triển
ngày càng lớn mạnh của mạng xã hội. Bên cạnh đó, thế giới ngày càng phẳng
và xã hội luôn có nhiều biến động, nhu cầu về thông tin mọi mặt của con
người càng lớn. Đứng trước xu thế đó, các cơ quan truyền thông phải thay đổi
cách thức chuyển tải để mang lại hiệu quả tối đa về mặt thông tin cho công
chúng.
Sự hội tụ của kỹ thuật số, sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của Internet
và sự ra đời của hàng loạt công nghệ truyền thông mới trong một thập niên
vừa qua đã có ảnh hưởng to lớn đến cách thức sản xuất và phát hành nội dung
báo chí trong thế kỷ 21. Để có thể vươn lên dẫn đầu trong bối cảnh hiện nay
thì một cơ quan báo chí phải có khả năng phục vụ công chúng ở bất cứ nơi
17
đâu và bất cứ khi nào công chúng muốn. Là một chuyên gia chỉ trong một
kênh giờ đây là không đủ và một cơ quan báo chí chỉ có thể đạt được ảnh
hưởng thực sự bằng cách áp dụng một mô hình kinh doanh truyền thông đa
nền tảng – multiplatform media.
Báo chí đa nền tảng (multiplatform media) là xu hướng báo chí người
đọc có thể tiếp cận mọi lúc mọi nơi trên tất cả các nền tảng khác nhau với
những thiết bị khác nhau. Để tiếp cận thông tin, công chúng có thể đọc báo từ
báo giấy, báo điện tử; Đọc trên nhiều thiết bị, từ máy tính, thiết bị cầm tay
(smartphone, iPad, Notebook...). Với người làm báo, không đơn thuần tin tức
chỉ là chữ (text), hình ảnh (image), video/clip mà được mở rộng ra nhiều hình
thức truyền tải hơn...
Nhu cầu, thị hiếu cũng như hành vi của công chúng đã thay đổi, vì thế
việc phát hành nội dung báo chí trong thời đại hiện nay không còn bó hẹp
trong một phương thức – ví dụ chỉ là báo in, phát thanh truyền hình hoặc điện
tử – mà thay vào đó là việc chuyển tải bằng nhiều dạng thức và các phiên bản