Nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Quảng Nam - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HỒ TẤN ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN CÁCH
ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HỒ TẤN ĐẠT

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN CÁCH
ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

Đà Nẵng - Năm 2016

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................... 33
2.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU .............. 33
2.1.1. Mô hình nghiên cứu .................................................................... 33
2.1.2. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................. 52
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 53
2.2.1. Nghiên cứu sơ bộ ........................................................................ 53


2.2.2. Nghiên cứu chính thức ................................................................ 54
2.2.3. Quy trình nghiên cứu .................................................................. 55
2.2.4. Lựa chọn thang đo ....................................................................... 56
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................... 57
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ........................ 64
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................................... 64
3.1.1. Thống kê mẫu nghiên cứu ........................................................... 64
3.1.2. Kiểm tra độ tin cậy và phù hợp của thang đo ............................. 66
3.1.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA ............................................... 69
3.1.4. Phân tích hồi quy......................................................................... 79
3.1.5. Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy ............................. 99
3.1.6. Phân tích kết quả và kiểm định giả thuyết nghiên cứu ............. 103
3.2. BÀN LUẬN ........................................................................................... 107
3.2.1. Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai ................................... 108
3.2.2. Hàm ý ........................................................................................ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU CHỈNH TÊN ĐỀ TÀI (Bản sao)
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số

2.5.

Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Ryan và Xenos

38

2.6.

Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Moore và cộng sự

39

2.7.

Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Jenkins và cộng sự

41

2.8.

Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Kuo và Tang

41

2.9.

Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Yen-chun và cộng sự

42



Trang

3.2.

Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn mẫu nghiên cứu

65

3.3.

Độ tin cậy Cronbach Alpha của các thang đo nhân cách

67

3.4.

Độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo tần suất sử dụng

68

3.5.

Độ tin cậy Cronbach Alpha thang đo cập nhật thông tin

68

3.6.

Hệ số KMO và kiểm định Bartlett


83

3.13. Model Summary với biến phụ thuộc là số nhóm tham gia

84

3.14. ANOVA với biến phụ thuộc là số nhóm tham gia

85

3.15. Coefficients với biến phụ thuộc là số lượng nhóm tham gia

85

3.16. Model Summary với biến phụ thuộc là tần suất sử dụng

87

3.17. ANOVA với biến phụ thuộc là tần suất sử dụng

87


Số
hiệu

Tên bảng

Trang


97

3.26. Hệ số VIF của các mô hình hồi quy

99

3.27. Hệ số Durbin-Watson

100

3.28. Tương quan Spearman giữa các biến độc lập phần dư

101

3.29. Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu

106


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

Trang

2.1.

Mô hình của Ross và cộng sự


39

2.7.

Mô hình của Jenkins-Guarnieri và cộng sự

40

2.8.

Mô hình của Kuo và Tang

41

2.9.

Mô hình của Yen-Chun và cộng sự

42

2.10.

Mô hình của Lonnqvist và GroBe Deters

42

2.11.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

sử dụng để nghiên cứu lý giải việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Trong các
nhân tố đó, nhân tố nhân cách là nhân tố trọng tâm nhất. Chẳng hạn, các nghiên
cứu của Ross và cộng sự, 2009; Amichai Hamburger và Vinitzky, 2010; Ryan
và Xenos, 2011; Moore và cộng sự, 2012; Hughes và cộng sự, 2012; Muscanell
và Guadagno, 2012, Jenkins-Guarnieri và cộng sự, 2013; Nikolina và cộng sự,
2013; Gloria và Yoav, 2014; Eunsun và cộng sự, 2014; Kuo và Tang, 2014;
Yen-Chun và cộng sự, 2015; Lonnqvist và GroBe Deters, 2016.
Như đã được đề cập trong bài báo của An (2013), ở Việt Nam cho đến
nay các nghiên cứu về vấn đề liên quan đến mạng xã hội Facebook vẫn chưa


2

dành được sự quan tâm nhiều. Đến thời điểm tác giả luận văn thực hiện nghiên
cứu này, qua việc tìm kiếm thông tin phục vụ nghiên cứu thì ở Việt Nam các
nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook vẫn còn rất ít.
Cụ thể chỉ có khoảng 2 nghiên cứu: đó là nghiên cứu của Đức và Thái, 2014 nghiên cứu thống kê mô tả về việc sử dụng mạng xã hội nói chung của sinh
viên ở 6 thành phố lớn và nghiên cứu của Nghĩa và Phước, 2014 - nghiên cứu
mối quan hệ giữa việc sử dụng Facebook và vốn xã hội của một số nhóm thanh
niên tại TP. HCM. Các nghiên cứu về tác động của nhân cách đên việc sử dụng
mạng xã hội Facebook thì chưa có một nghiên cứu nào.
Nhận thấy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng
mạng xã hội Facebook là hướng nghiên cứu hay và kết quả nghiên cứu mối
quan hệ này có thể là nền tảng cho việc thiết lập các mô hình marketing hiệu
quả thông qua mạng xã hội này nói riêng và cho mạng xã hội nói chung. Bên
cạnh đó, tác giả luận văn cũng nhận thấy rằng, mặc dù đã trải qua khoảng 8
năm kể từ nghiên cứu đầu tiên được tiến hành bởi Ross và cộng sự (2009). Các
nghiên cứu theo hướng này vẫn còn khá non trẻ so với các hướng nghiên cứu
khác. Hay nói cách khác, các nghiên cứu theo hướng này đang trong giai đoạn
khởi đầu của quá trình định hình các lý thuyết của mình. Chính vì vậy, trong

5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

1

Viết tắt từ Five Factor Model: Mô hình này sẽ được giải thích rõ hơn ở phần sau


4

6. Tổng quan tài liệu
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, tác giả
luận văn sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu tiếu biểu có liên quan đến vấn
đề tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook.
Tài liệu 1: Nghiên cứu của Ross và cộng sự (2009).
Nghiên cứu này ngoài việc nghiên cứu về tác động của nhân cách đến
việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả còn thêm vào mô hình yếu tố
động lực giao tiếp.
Ross và cộng sự đã sử dụng mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM để
nghiên cứu về nhân cách. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phát triển bản câu
hỏi 28 item để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook với nội dung liên
quan đến việc sử dụng cơ bản của Facebook, thái độ liên quan và việc

đăng

tải thông tin cá nhân khi sử dụng mạng xã hội này.

Amichai Amichai Hamburger và Vinitzky cho thấy những người có nhân cách
dễ chấp nhận5 cao sẽ sử dụng ít tính năng của Facebook hơn. Trong khi đó,
những người có ý chí phấn đấu6 cao sẽ có nhiều bạn bè hơn và ít thích đăng ảnh
hơn.
Tài liệu 3: Nghiên cứu của Hughes và cộng sự (2012)
Mô hình nghiên cứu của Hughes và cộng sự thể hiện tác động của nhân
cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên các tác giả thêm vào
mô hình nghiên cứu những nhân cách hẹp (Quảng giao7, Nhu cầu hiểu biết8)
bên cạnh 5 nhân tố nhân cách FFM. Mẫu nghiên cứu được tiến hành trên 300
người có độ tuổi từ 18 đến 63 tuổi. Trong đó, 70% từ Châu Âu, 18% từ Bắc
Mỹ, 9% từ Châu Á và 3% từ các Châu lục khác. Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu
gồm 55% là số người đã đi làm, 41% là sinh viên và 4% là người thất nghiệp.

Agreeableness: Nhân cách được giải thích ở trang 27.
Conscientiousness: Nhân cách này được giải thích ở trang 27.
7
Sociabilty: Nhân cách này thể hiện sự ưa thích chuyện trò với người xung quanh, tương tác xã hội và muốn
mình là trung tâm của sự chú ý.
8
Need for cognition: Nhân cách này liên quan đến sự ưa thích và nỗ lực tìm hiểu về thế giới xung quanh.
5
6


6

Về việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả tiếp cận theo mục
đích sử dụng. Theo đó, việc sử dụng mạng xã hội này sẽ được chia ra thành hai
mục đích sử dụng: mục đích cập nhật thông tin9 và mục đích giao tiếp xã hội10.
Kết quả


7

đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình để kiểm tra các nội dung về bài
đăng của họ.
Đối với sự hối tiếc các tác giả hỏi người tham gia về tần suất họ cảm thấy
hối tiếc vì đăng những nội dung không phù hợp, chẳng hạn như không muốn
sếp của mình thấy, không muốn cha mẹ mình thấy. Các câu trả lời có 4 mức độ
từ không bao giờ đến thường xuyên.
Kết quả
Nhân cách hướng ngoại tác động thuận chiều đối với số lượng bạn bè và
ngược chiều với tần suất sử dụng Facebook và sự hối tiếc khi đăng những nội
dung không phù hợp. Trong khi đó, nhân cách nhiễu tâm tác động thuận chiềuyg
với thời gian sử dụng và ngược chiều đối với tần suất sử dụng và sự hối tiếc.
Nhân cách dễ chấp nhận các tác động thuận chiều đến sự hối tiếc và ngược
chiều đối với số lượng bài đăng trên tường có nội dung về chính họ. Nhân cách
có ý chí phấn đấu tác động thuận chiều đối với sự hối tiếc về những nội dung
đã đăng không phù hợp và ngược chiều đối với số lượng bài đăng trên tường
có nội dung về chính họ cũng như về những người khác.
Tài liệu 5: Nghiên cứu của Jenkins - Guarnieri và cộng sự (2013).
Nghiên cứu của Jenkins-Guarnieri và cộng sự nghiên cứu mối quan hệ
giữa sự gắn bó, khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau, nhân cách và
việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Mẫu nghiên cứu gồm 617 thanh niên độ
tuổi từ 18 đến 22.
Thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) được các tác giả
sử dụng để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook gồm các item liên
quan đến số lượng bạn bè, thái độ sử dụng. Cũng phù hợp với các nghiên cứu
đi trước, nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình 5 nhân tố FFM được sử dụng
để đo lường nhân cách. Thang đo The Experiences in Close Relationships Revised hay còn gọi là thang đo ECR-R của Fraley, Waller và Brennan (2000)




9

Tài liệu 7: Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự (2015)
Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự xem xét liệu các bức ảnh được
đăng lên làm ảnh đại diện có phản ảnh được nhân cách của người sử dụng hay
không? Mẫu nghiên cứu gồm 109 người được chọn từ danh sách gồm 534 bạn
bè trên Facebook của các tác giả. Tất cả những người tham gia đều là sinh viên
đã tốt nghiệp hoặc đang làm nghiên cứu sinh.
Những người tham gia cuộc nghiên cứu này sẽ đánh giá về ảnh được
đăng tải làm hình đại diện của họ trên Facebook về mức độ liên quan với 11
loại ảnh mà các tác giả đã phân loại thông qua thang đo Likert 5 mức độ (từ
hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý). 11 loại ảnh được các tác giả
phân loại gồm: mang tính xã hội (socializing), lãng mạng (Romantic Picture),
nơi độc đáo (Unique Location), yêu cầu sự giúp đỡ (Supporting Cause), gương
mặt (Face Shot), các dịp đặc biệt (Special Occasion), chụp một mình (Alone
Posing), chơi thể thao (Playing Sports), chụp với gia đình (Family), sở thích
(Interests), ảnh hài hước (Humorous Shot). Bên cạnh đó, mô hình 5 nhân tố
FFM vẫn được các tác giả sử dụng để đo lường nhân cách.
Kết quả
Kết quả cho thấy rằng nhân cách có ảnh hưởng đến tới việc lựa chọn ảnh
làm ảnh đại diện trên Facebook. Cụ thể, trong 5 nhân cách trong mô hình FFM
thì nhân cách hướng ngoại là có xu hướng chọn những hình ảnh đại diện thể
hiện rõ ràng nhân cách của họ.
Tài liệu 8: Nghiên cứu của Lonnqvist và GroBe Deters (2016)
Nghiên cứu của hai tác giả người Đức nghiên cứu mối quan hệ giữa số
lượng bạn bè trên mạng xã hội Facebook, cảm nhận về hạnh phúc chủ quan và
sự hỗ trợ mang tính xã hội của sinh viên trường đại học Arizona. Mẫu nghiên
cứu gồm 153 sinh viên.

1.1.1. Định nghĩa nhân cách
Nhân cách hay tính cách cá nhân là từ ngữ mà được sử dụng rất quen
thuộc trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người. Tuy nhiên, có thể nói không
phải ai cũng hiểu rõ ý nghĩa của nó. Một cách để chúng ta có thể xem xét để có
thể hiểu nó là khi chúng ta nói từ “tôi”. (Adams, 1954, trích trong Duane và
Sydney, 2008). Từ “tôi” thể hiện một bức tranh đầy đủ của mỗi người chúng
ta, nó được hiểu là một cá nhân, tách biệt hoàn toàn so với tất cả những người
khác.
Việc hiểu được nguồn gốc hình thành của từ nhân cách sẽ làm cho việc
định nghĩa nó được chính xác hơn. Nhân cách tiếng Anh là personality, có
nguồn gốc từ persona, từ Latinh mang nghĩa “cái mặt nạ” của diễn viên trên
sân khấu, vai mà người đó đóng. Khi khán giả nhìn thấy một persona được đeo,
họ có thể tiên đoán trước được những hành động tiếp theo của nhân vật. Một
diễn viên cho một vai chỉ có thể mang một loại persona chứ không được thay
đổi theo từng tình tiết cho dù vở kịch có kịch tính đến đâu. Như vậy có thể hiểu
nhân cách liên quan vẻ bên ngoài của một người mà mọi người có thể nhìn thấy
được, có tính ổn định và có thể dự đoán được.
Nhân cách còn liên quan đến các thuộc tính bên trong mỗi người. Những
thuộc tính mà có thể chúng ta không thể thấy một cách trực tiếp, cái mà có thể
một người cố gắng giấu không cho người khác biết.

12

Còn có tên gọi khác là Big Five


12

Để có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ cho nhân cách, nét bản sắc riêng
biệt của mỗi cá nhân cũng cần được đề cập đến. Có thể chúng ta thấy được rất

những phạm trù gián đoạn, tách rời nhau phù hợp với con người. Ngược lại,
các thuyết về nét nhân cách lại đưa ra những chiều kích liên tục, chẳng hạn như
sự thông tuệ hoặc sự nhiệt tình biến thiên về phẩm chất và mức độ. Nét nhân
cách là một chiều hướng hành động tổng quát; người ta giả định rằng mỗi cá
nhân có những nét nhân cách với các mức độ thay đổi. Nét nhân cách mô tả
điều được xem là nhất quán trong ứng xử của con người trong những tình huống
và những thời điểm khác nhau. Chẳng hạn, nếu ta có nét nhân cách “thật thà”,
ta có thể chứng minh điều này vào một ngày nào đó đưa trả lại mộ cái ví bị
đánh mất và vào một ngày khác chứng minh bằng cách không lừa dối dựa trên
một trắc nghiệm. Một số các lý thuyết gia về nhân cách cho rằng những nét
nhân cách là nguyên nhân ứng xử song những lý thuyết gia bảo thủ lại lại lập
luận rằng các nét nhân cách chỉ mô tả hoặc tiên đoán các kiểu ứng xử mà thôi.
Tiếp cận nét nhân cách của Allport (1966) là một trong những lý thuyết
gia có ảnh hưởng nhiều nhất về nhân cách. Ông là người nổi tiếng nhất trong
số các lý thuyết gia về tiểu sử nhân cách cho rằng mỗi con người có một nét
đặc trưng độc nhất vô nhị, cũng như một số các nét đặc trưng chung cùng nhau
tạo thành một tổ hợp độc nhất vô nhị về các nét nhân cách. Allport nhìn các nét
nhân cách như là các khối kiến tạo nên nhân cách và là cội nguồn của cá tính.
Eysenck, một lý thuyết gia hàng đầu về nhân cách, đề xuất một mô hình
gắn các typ, các nét nhân cách với ứng xử typ. Các nét nhân cách với ứng xử
thành một hệ tôn ti đơn độc. Ở tầm thấp nhất của hệ Eysenck là những đáp ứng
đơn độc như những hành động hoặc những ý nghĩ. Những đáp ứng xảy ra đều
đặn tạo thành những thói quen, và những thói quen liên hệ tạo thành những nét
nhân cách. Dựa vào các dữ kiện trắc nghiệm của mình, Eysenck kết luận có ba
chiều kích nhân cách rộng lớn: hướng ngoại, nhiễu tâm và loạn tâm. Eysenck
cho rằng những khác biệt nhân cách dựa trên ba chiều kích căn bản là do những


14



tuổi, những xung năng và bản năng và các quá trình vô thức. Cùng lúc chúng
đưa ra một viễn cảnh với những khái niệm phong phú về phát triển và vận hành
của nhân cách.
Thuyết nhân văn: Các lý thuyết theo chủ nghĩa nhân văn, ngược lại với
cách tiếp cận tâm động, là lý thuyết mang ý nghĩa lạc quan về bản chất con
người. Có nhiều viễn cảnh mô tả đặc trưng các lý thuyết nhân văn. Trước hết,
chúng lý giải những hành vi riêng biệt của một con người trong khuôn khổ toàn
bộ nhân cách của người đó; một cá nhân không đơn giản là tổng số các nét nhân
cách riêng rẽ mà mỗi nét ảnh hưởng đến ứng xử theo các cách khác nhau. Các
thuyết nhân văn cũng tập trung vào những phẩm chất bẩm sinh, bên trong một
con người, nó có một ảnh hưởng to lớn đến chiều hướng ứng xử sẽ diễn ra.
Những kích thích do tình huống tạo ra thường được xem là những hạn chế và
rào cản, giống các sợi dây buộc chặt những quả bóng. Một khi con người được
tự do không bị ràng buộc bởi những tình huống tiêu cực thì xu hướng hiện thực
hóa phải chủ động hướng dẫn con người lựa chọn các tình huống khiến cuộc
đời tốt đẹp hơn. Các thuyết nhân văn nhấn mạnh một khung quy chiếu của một
cá nhân và cái nhìn chủ quan về thực tại - không phải là viễn cảnh khách quan
do một nhà quan sát hoặc một nhà trị liệu áp đặt. Sau chót, những thuyết nhân
văn được các lý thuyết gia như Rollo May (1975), chẳng hạn, mô tả được xem
là có một viễn cảnh hiện sinh. Những thuyết này tập trung vào các quá trình
tâm trí cao cấp diễn giải những trải nghiệm hiện thời và giúp con người đáp
ứng hoặc bị tràn ngập bởi những thử thách thường nhật của cuộc sống. Một
phương diện độc nhất vô nhị của các thuyết này tập trung vào sự tự do của con
người; phương diện này tách biệt nhiều hơn các thuyết nói trên khỏi các nhà
theo thuyết ứng dụng mang tính quyết định luận và các tiếp cận phân tâm học.
Thuyết học tập: Tất cả mọi lý thuyết được duyệt xét lại cho đến giờ đều
nhấn mạnh đến những cơ chế nội tạo mang tính giả thuyết: những nét, những





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status