Mục Lục
Lời mở đầu 1
1. Trên phương diện lý luận 2
1.1. Thế nào là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ 2
1.1. Khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ 2
1.2. Tính tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ 3
1.2. Thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.2. Cơ sở lí luận của tư tưởng Marxist về toàn cầu hoá 4
1.3. Tính tất yếu trong việc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta 6
1.4. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.3. Mối liên hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ 8
2. Trên phương diện thực tiễn 11
3. Kết luận 14
Tài liệu tham khảo 15
1. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Thúy Anh, Thạp chí cộng sản Số phát
hành 1 -2001 15
2. Chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế-Động lực phát triển của Việt Nam trong
giai đoạn mới, PGS,TS. Nguyễn Xuân Thắng Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị
Thế giới 15
3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 15
4. Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X 15
5. Đường lối phát triển kinh tế-xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh nước ta trong tình
hình mới. www.thanhnienkhcn.org.vn, đăng ngày 01/01/2006 15
6. Hội Nhập để phát triển, Vũ Khoan, Tạp chí cộng sản Số phát hành 6 -2002# 15
7. Nghị quyết 07- NQ/TW, ngày 27-11-2001 15
8. Nhận thức mâu thuẫn để phát triển công cuộc đổi mới ở Việt Nam Hiện nay: nhìn từ
giác độ mâu thuẫn của quá trình phát triển, GsTS Phạm Ngọc Quang (Hội đồng lý luận
TW), Tạp chí triết học 01/01/2006 15
nhau. Trong quá trình vận dụng học thuyết Hình thái Kinh tế-Xã hội vào sự nghiệp
Xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, đặc biệt trong thời gian gần đây, vấn đề hội
nhập kinh tế cũng là một vấn đề rất được quan tâm, trong thời điểm trước thềm Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X và Việt Nam đang xúc tiến tiến trình gia nhập Tổ chức
thương mại Thế giới WTO. Là một sinh viên, hơn nữa là sinh viên chuyên ngành kinh
tế, nhận thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ mối quan hệ giữa xây dựng một nền kinh
tế độc lập tự chủ với tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, em đã cố gắng tìm
hiểu mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ để từ đó có cơ sở và nền tảng cho việc học tập trong tương lai đồng thời
có cơ hội để trau dồi thêm kiến thức cả về nhận thức lý luận và về mặt kinh tế.
Do kiến thức về lý luận và hiểu biết thực tiễn còn nhiều hạn chế, trong phạm vi
bài tiểu luận em chỉ đưa ra những nét chung nhất về vấn đề nghiên cứu chứ chưa đi sâu
vào phân tích các khía cạnh chi tiết của vấn đề, em hy vọng trong thời gian tới sẽ có cơ
hội được nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ với
hội nhập kinh tế quốc tế có nhận thức lý luận đúng đắn phù hợp với tình hình thực tiễn.
Tiểu luận sẽ gồm những nội dung chính như sau:
-Những nét chung về Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
-Những nét chính về Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế
-Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc
tế
-Những vận dụng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
và trong thời gian tới.
1
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 120
1. Trên phương diện lý luận
1.1. Thế nào là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ
1.1. Khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ
Nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đã được Đảng ta đưa ra từ rất
sớm. Nhưng phải hiểu như thế nào là một nền kinh tế độc lập tự chủ.Về khái niệm nền
độc lập tự chủ về đường lối, chính sách đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức
tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh
tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then
chốt; có năng lực nội sinh về khoa học công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế tài chính vĩ
mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường ”
2
.
1
Tạp chí cộng sản số 4-2001
2
Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
2
1.2. Tính tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Trong việc vận dụng Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã xác định con đường phát triển thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây không chỉ là mục tiêu mà còn
là phương tiện quan trọng trong quá trình tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Trong khi “xác
định độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản, bảo đảm sự bền vững của
độc lập, tự chủ về chính trị”
1
trên “nguyên tắc bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập,
tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường; hợp tác bình đẳng cùng có lợi, chống lại sự áp đặt không công
bằng, không bình đẳng”. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ
quan điểm, đường lối chính trị độc lập tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm
bảo đảm độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu
quả cho chính ngay nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Nói cách
khác, có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế, cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Độc lập tự chủ về kinh tế là
nền tảng vật chất để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ bền vững về chính trị. Độc lập tự
2
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 120
3
Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
3
chúng ta hãy cùng xem xét thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để hiểu rõ hơn
nhận định này.
1.2. Thế nào là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế.
Nói đến hội nhập kinh tế quốc tế, không thể không đề cập đến toàn cầu hóa, trước
hết là toàn cầu hóa kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế có liên quan trực tiếp và là quá
trình đồng hành với quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Không thể có toàn cầu hóa kinh tế
nếu không có sự tham gia ngày càng đông của các quốc gia, dân tộc. Để hiểu rõ thế
nào là hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về khái niệm Toàn
cầu hoá
Toàn cầu hoá (globalization) theo nghĩa rộng được hiểu là một hiện tượng hay
một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của
đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môi trường…) giữa các
quốc gia hay nói cách khác là “một xu hướng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên ít
bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ”, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những
mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị,
kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Nếu hiểu theo nghĩa
hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu
làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia.
Nếu toàn cầu hoá khái niệm chỉ xu thế vận động khách quan bắt nguồn từ sự phát
triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật của thương mại và đầu tư quốc tế
với sự nâng cao vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đánh dấu một giai đoạn phát
triển mới của nhân loại gắn với thời đại kinh tế tri thức thì khái niệm hội nhập kinh tế
quốc tế mang tính chủ quan của chủ thể quốc gia hội nhập, phản ánh năng lực nhận
của quốc tế trong nhiều thế kỷ, thuyết trọng thương đã cung cấp những cơ sở lý luận
cho việc nghiên cứu và hoạch định chính sách để đối phó với toàn cầu hoá.
Thuyết Hiện thực ra đời trong khoảng chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi các
học thuyết khác cố gắng lý giải tiến trình phát triển của xu thế toàn cầu hoá qua các
thời kỳ lịch sử khác nhau và lợi ích chung mà các quốc gia đạt được nhờ thương mại
và đầu tư quốc tế, thuyết Hiện thực lại cho rằng các quốc gia khi tham gia quá trình
toàn cầu hoá đều xuất phát từ cơ sở an ninh – chính trị, và do đó hệ thống kinh tế thế
giới đều vận hành trên cơ sở những lợi ích về chính trị và an ninh
Theo quan điểm Marxist, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và thị trường thế giới dưới
chủ nghĩa tư bản là một thể thống nhất và là biểu hiện của phân công lao động quốc tế
- cơ sở của thị trường thế giới. Sự phát triển của phân công lao động quốc tế quyết định
sự phát triển của thị trường thế giới. Ngược lại, sự phát triển của thị trường thế giới
thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Lý luận thị trường thế giới tư
bản chủ nghĩa của chủ nghĩa Marx là một cách tiếp cận mang tính lịch sử và biện
chứng về toàn cầu hoá. Tuy có mặt hạn chế là nhấn mạnh mặt trái của thị trường thế
giới, chưa phân tích đầy đủ những mặt tích cực của nó, nhưng chủ nghĩa Marx có cách
giải thích sâu sắc và toàn diện hơn các học thuyết khác về nguyên nhân của toàn cầu
hoá.
Theo cách nhìn Marxist, toàn cầu hoá là một xu thế lịch sử tất yếu bắt nguyền từ
tính chất xã hội của lao động sản xuất và là kết quả của sự phát triển và quốc tế hoá
của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Xã hội loại người được hình thành và phát triển thông qua quá trình lao động sản
xuất để tạo ra của cải và đấu tranh giữa con người với nhau để bảo vệ sự sinh tồn. Quá
trình lao động sản xuất và đấu tranh đó buộc từng con người phải tập hợp nhau lại
thành những cộng đồng và liên kết nhiều cộng đồng lại thành các dân tộc và tổ chức
thành các quốc gia, rồi các quốc gia tập hợp lại thành những nhóm quốc gia và cộng
đồng thế giới. Đó là một quá trình phát triển xã hội một cách tự nhiên và không thể
khác được. Bản thân lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn là một hoạt động xã hội
và tính xã hội của hoật dộng này ngày càng cao hơn, thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều
công việc và sản phẩm được thực hiện ở chỗ ngày càng có nhiều công việc và sản
và “nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các
phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn cả đến những
dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy
là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã
man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục”
3
.Phân tích nói trên
của Marx và Engels cho thấy sự phát triển và quốc tế hoá sản xuất dưới chủ nghĩa tư
bản đã làm cho các nước gắn kết lại với nhau và tạo ra xu thế toàn cầu hoá.
4
Như vậy, có thể thấy toàn cầu hóa là quy luật phát triển khách quan của nền kinh
tế thế giới. Nó bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất dưới tác động
mạnh mẽ của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Toàn cầu hóa là xu thế tất
yếu, là tiến trình lịch sử, nó đang và sẽ cuốn hút hầu hết các nước trên thế giới vào
guồng máy của nó.
1.3. Tính tất yếu trong việc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Trước hết, như phần trên đã kết luận, toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu đồng thời
nó là một tiến trình lịch sử chứ không phải là một sự phổ cập tức thì, là một bối cảnh
chứ không phải là một giải pháp, thừa nhận sự tất yếu của toàn cầu hoá thì trên quan
điểm lịch sử cụ thể cũng phải thừa nhận tính khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế.
Hơn nữa, Việt Nam kiên định xây dựng Chủ nghĩa xã hội nhưng bỏ qua Chủ
nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái Kinh tế xã hội, bỏ qua kiến trúc thượng tầng
chính trị, bỏ qua quan hệ sản xuất tư bẩn với tư cách là quan hệ sản xuất thống trị,
nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận sự phát triển của lực lượng sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Theo quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, để thực hiện được mục tiêu xây dựng thành công Chủ
1
2
thiết không chỉ chủ động mà còn phải tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đúng như Nghị
quyết 07 của Bộ chính trị nêu rõ: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị
trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”
1
.
1.4. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế
Xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ hội nhập như được xác định ở trên, tức là sự chủ
động tham gia của các quốc gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, hội nhập bao
hàm các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiện của các quốc gia để tham gia vào các
định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực. Nội dung chủ yếu của quá trình này bao
gồm:
Thứ nhất, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế; cùng các thành
viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối
với thành viên của các định chế, tổ chức đó.
Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết ở trong nước để bảo đảm đạt được mục
tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết quốc tế về hội
nhập. Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện bên trong mỗi nước gồm:
Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ
hàng rào quan thuế và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đầu tư
và sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ thuật – công nghệ giữa các nước thành viên ngày
càng thông thoáng hơn.
1
Nghị quyết 07- NQ/TW, ngày 27-11-2001
7
Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế (bao gồm cả cơ cấu sản xuất kinh doanh, cơ cấu
ngành và mặt hàng, cơ cấu đầu tư) phù hợp với quá trình tự do hoá và mở cửa nhằm
làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành có hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh quốc
tế.
Về tác động tích cực, có thể thấy rằng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
tạo ra những cơ hội mà các nước có thể tận dụng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh
tế, nên xét cho đến cùng, hội nhập kinh tế quốc tế chính là một trong những giải pháp
để tiến hành xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ. Trong quá trình hội nhập,
thương mại và đầu tư được toàn cầu hoá, làm cho các rào cản đối với trao đổi thương
mại và đầu tư bị loại bỏ dần, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các nước tăng cường
thương mại quốc tế, thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực
bên trong nhằm phát triển những ngành sản xuất mà mỗi nước có khả năng nhất và
hiệu quả nhất. Hơn nữa, quá trình hội nhập và tự do hoá thương mại còn làm tăng
cường quá trình trao đổi và chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới, nhờ
8
đó, những nước còn thấp kém về mặt công nghệ có khả năng đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng và nâng cao khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, do đó để
tránh khỏi nguy cơ tụt hậu và hơn nữa đẩy nhanh kinh tế đất nước cả về “thế” lẫn về
“lực”, không thể không mở cửa hội nhập để học tập và tiếp thu từ bên ngoài. Như khái
niệm nền kinh tế độc lập tự chủ mà Đại hội Đảng IX được nêu ở trên, có thể thấy rằng
trong bối cảnh toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu như hiện nay, mục tiêu xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi và gắn chặt với hội nhập kinh tế.
Tuy vậy, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt các nước trước thách
thức của cạnh tranh và điều chỉnh. Xu thế toàn cầu hoá đang lôi cuốn ngày càng nhiều
nước tham gia. Quá trình này đòi hỏi các nước mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá
thương mại, đầu tư. Điều đó cũng có nghĩa là đưa nền kinh tế và các doanh nghiệp
tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế. Có thể coi cạnh tranh là một khía cạnh tích cực
của sản xuất, đó chính là động lực thúc đẩy sản xuất và mang đến nhiều lợi ích cho
người tiêu dùng, thông qua cạnh tranh, nền kinh tế có thể học hỏi cho mình những kinh
nghiệm và đồng thời nâng cao nội lực của kinh tế trong nước, với cơ hội mở rộng thị
trường các mặt hàng thế mạnh ra nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, cạnh
tranh quốc tế đặt các nền kinh tế và doanh nghiệp của các nước trước những thách thức
ngày càng lớn. Vì một vấn đề được đặt ra là với trình độ vốn yếu kém trong cạnh tranh
của các nhà sản xuất trong nước, liệu mở cửa có và áp lực cạnh tranh có phải là một
Dưới tác động chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế hoà
bình hợp tác để phát triển và vai trò to lớn của các công ty xuyên quốc gia, quá
trình toàn cầu hoá ngày nay đã đạt đến một đỉnh cao mới và trở thành một xu
thế bao trùm trong quan hệ quốc tế. Tình hình này có tác động sâu rộng tới mọi
mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong các nước cũng như quan hệ
giữa các quốc gia. An ninh của mỗi quốc gia và an ninh quốc tế đứng trước
những chuyển biến mới bao gồm cả cơ hội và thách thức. Về cơ hội, đó là sự ra
đời và củng cố mạng lưới dày đặc các thiết chế quốc tế đặc biệt là các tổ chức
quốc thế trong mọi lĩnh vực. Vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế
trong quan hệ quốc tế góp phần hạn chế và giúp giảu quyết xung dột giữa các
nước, duy trì và củng cố hoà bình, an ninh quốc tế. Về thách thức, quá trình hội
nhập mở cửa cũng dặt các quốc gia trước rất nhiều thách thức đe doạ chính an
ninh quốc gia của họ nếu bản thân họ không kiểm soát và xử lý tốt các vấn đề
nảy sinh. Những thách thức này rất đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực. Về
kinh tế, thách thức lớn nhất vẫn là vấn đề cạnh tranh quốc tế. Làm thế nào để
nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp
trong nước trước các đối thủ nước ngoài trong điều kiện toàn cầu hoá và mở cửa
là một bài toán khó đối với mọi nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Về
chính trị, quá trình tòan cầu hoá đặt ra những vấn đề phải xử lý, liên quan đến
độc lập chủ quyền, đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội. Về mặt xã hội,
những thách thức của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc té mà các
nước phải đối mặt thể hiện tính phức tạp, chứa đựng nhiều hiểm hoạ đối với sự
ổn định cũ có thể gây ra những hiểm hoạ như: nguy cơ gia tăng thất nghiệp,
nguy cơ suy yếu của văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc; nguy cơ phổ biến
dễ dàng hơn các tệ nạn như khủng bố, ma tuý, mại dâm; nguy cơ gia tăng
khoảng cách giàu nghèo và bất công trong xã hội.
- Tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển
con người.
Toàn cầu hoá và hội nhập có nhiều tác động tích cực tới sự phát triển con người,
làm cho con người có nhiều điều kiện hơn để thoả mãn các nhu cầu về vật chất,
phương, kết hợp kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế
quốc dân thống nhất, kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn
thiện quan hệ sản xuất ; kết hợp kinh tế với quốc phòng ; tăng cường quan hệ phân
công hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ
kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và hai bên cùng
có lợi ; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế
công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng
vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc"
1
.
Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) được tiến hành khi đổi mới đã trở
thành yêu cầu bức xúc và vấn đề sống còn của cách mạng nước ta
Những quan điểm quan trọng của Đại hội VI là bước mở đường để những tư
duy mới về kinh tế được hình thành và hoàn thiện dần, trong đó có nội dung về
kinh tế độc lập tự chủ. Đó chính là những luận điểm: 1. Để có nền kinh tế thực sự
vững mạnh và không ngừng phát triển phải xây dựng được chương trình hành động
cụ thể, đặc biệt là phải bảo đảm cho đủ lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng
cho xã hội, bảo đảm lợi ích cho người lao động, cho tập thể và cho Nhà nước; 2.
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế độc lập tự chủ nhưng thông thoáng ở trong
nước và mở ra bên ngoài; 3. Nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Thị trường xã hội chủ nghĩa là một thể thống
nhất trong cả nước và từng bước hòa nhập vào thị trường thế giới. Bởi vậy cần kiên
quyết đoạn tuyệt với sự chia cắt, khép kín về kinh tế.
Như vậy, Đại hội VIII đã có bước phát triển trong quan điểm của Đảng ta về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Đó
là:
1
Đảng Cộng sản Việt Nam : "Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980",
Nxb Sự thật, Hà Nội, năm 1977, tr 9-10
11
tắc. Điều này xuất phát từ đòi hỏi thực tế của sự nghiệp cách mạng nước ta, phù
hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới. Có một thế giới đang đi vào quá
trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế kinh tế một cách sâu rộng, nhưng để tham
gia vào quá trình đó nhất định phải tự khẳng định mình bằng một thực lực kinh tế
đủ mạnh.
Thứ hai, đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không phải là một
phản ứng tự vệ, giải pháp đối phó tình thế, mà trên cơ sở nhận biết tình hình và quy
luật khách quan, Đảng ta vận dụng quy luật một cách chủ động. Vậy nên, đồng thời
với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ
đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ ba, không chỉ đưa ra những luận điểm được xem như quan niệm về nền
kinh tế độc lập tự chủ, bước đầu hình dung những đường nét và tố chất của nền
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, năm 2001, tr 166 – 167
12
kinh tế đó trong điều kiện nước ta hiện nay, Đảng ta còn đặt nó trong tổng thể các
nhiệm vụ trọng đại của sự nghiệp cách mạng, xác định rõ mối quan hệ biện chứng
của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Như vậy, việc Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đưa ra nhiệm vụ xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập
tự chủ, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm bảo đảm sự vững chắc của thể chế
chính trị, bảo đảm cho sự phát triển bền vững và có hiệu quả cho chính ngay nền
kinh tế cũng như cho việc chủ động mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
Do đó, vượt ra khỏi quan niệm toàn cầu hoá kinh
tế là "toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa", ở Việt Nam, đã dần đi đến thống nhất
nâng cao lên một tầm mức mới với phương châm " Việt Nam sẵn sàng là
bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong Cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"; thực hiện chủ trương lớn: "chủ động
13
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc, bảo
vệ môi trường". Điều đặc biệt đáng lưu ý là, chủ trương chủ động hội nhập
đã được phát triển thành "chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực
hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương đã ký kết và chuẩn
bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập WTO" (Hội nghị 9 Trung ương khoá
IX).
1
Trong thời gian tới Đảng ta tiếp tục có cách chủ trương mới để giải quyết mối
liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và tích cực chủ động hội nhập
kinh tế thế giới. Trong Dự thảo văn kiện Đảng X đã một lần nữa khẳng định sự gắn
bó chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ này: “Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội
nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều
kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ.
Xây dựng kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có
cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh; có thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế
đủ sức đứng vững và ứng phó được với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực
hiện có hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên
nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền
quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc; bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu
tranh; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại; đề cao cảnh giác
Dự thảo văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
5.
Đường lối phát triển kinh tế-xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh nước
ta trong tình hình mới. www.thanhnienkhcn.org.vn, đăng ngày
01/01/2006.
6.
Hội Nhập để phát triển, Vũ Khoan, Tạp chí cộng sản Số phát hành 6
-2002#
7.
Nghị quyết 07- NQ/TW, ngày 27-11-2001
8.
Nhận thức mâu thuẫn để phát triển công cuộc đổi mới ở Việt Nam Hiện
nay: nhìn từ giác độ mâu thuẫn của quá trình phát triển, GsTS Phạm
Ngọc Quang (Hội đồng lý luận TW), Tạp chí triết học 01/01/2006
9.
Quá trình hình thành quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, Nguyễn Thúy Anh, Tạp chí cộng sản Số phát hành 42
-2003.
10.
Tạp chí nghiên cứu quốc tế Thách thức của quá trình toàn cầu hóa đối
với các nước đang phát triển, Trần Văn Cường, Tạp chí nghiên cứu quốc
tế số ra ngày 08/06/2005, www. Iir.edu.vn
11.
Tham luận của Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên Đoàn Đại biểu
Khối Đối ngoại tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, VN embassy
www.mofa.gov.vn
12.
Tính hai mặt của toàn cầu hoá kinh tế và vấn đề hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam, Nguyễn Thị Tỵ, Tạp chí Nghiên cứu khoa học, Trường Đại
học Kinh tế, Đại học Huế