ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN
Nghiên cứu hành vi sử dụng mạng xã hội
Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2018
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................................ 3
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK
CỦA SINH VIÊN ................................................................................................................. ….7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................................ .7
1.2 Các khái niệm cơ bản ....................................................................................................... 11
1.3 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên .................................... 19
Chương 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 29
2.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu ...................................................................................... 29
2.2 Tổ chức phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................................... 36
3.1 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học
Sư Phạm về nhận thức ............................................................................................................ 36
3.2 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học
Sư Phạm về cảm xúc……………………………………………………………………..……...45
3.3 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nhận thức của sinh viên về mục đích sử dụng MXH Facebook
Biểu đồ 3.2. Thời gian bắt đầu sử dụng MXH Facebook của sinh viên
Biểu đồ 3.3 Thời gian sinh viên sử dụng MXH Facebook trong một ngày
Biểu đồ 3.4. Số lượng bạn vè trên MXH Facebook của sinh viên
Biểu đồ 3.5. Những hoạt động sinh viên thường sử dụng MXH Facebook
Biểu đồ 3.6. Biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook qua cơ thể
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của mạng máy tính mang lại những thay đổi lớn cho cuộc sống của
con người. Mạng máy tính là một nguồn dự trữ thông tin vô cùng lớn với khả năng thông
tin liên lạc một cách nhanh chóng và chính xác đã trở thành một nhân tố quan trọng trong
sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia. Ngoài ra, với hàng loạt những ứng dụng,
tiện ích như “trò chơi trực tuyến”, “tán gẫu”, “nhật kí điện tử”, “mạng xã hội”… mạng
máy tính đã trở thành một công cụ giải trí hấp dẫn mà chưa có một loại hình nào có thể
sánh bằng. Trong hàng loạt tính năng và tiện ích của Internet thì mạng xã hội mà cụ thể là
Facebook đã trở thành một ứng dụng có sức lan tỏa đến mức “đáng sợ” trong thời gian
gần đây, phát triển mạnh mẽ và thu hút một lượng lớn người sử dụng, chủ yếu là thanh
thiếu niên và sinh viên. Việc sử dụng Facebook đã dẫn đến hàng loạt vấn đề cụ thể về
hành vi, trạng thái và cả những áp lực cùng với những diễn tiến phức tạp trong đời sống
con người.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và mạng xã hội trên Internet ngày
nay, sự tiếp cận với Facebook trở nên dễ dàng và có sức hút ngày càng lớn. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook của con người dưới góc độ Tâm lí học để
có những kiến giải mang tính khoa học là điều cần thiết cho Tâm lý học hiện đại.
- Phương pháo điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Dựa trên cơ sở lý luận, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu
hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên. Cụ thể là:
Nhận thức của sinh viên về hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook
Hoạt động của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook
Cảm xúc của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook
Thời gian, thời điểm khi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook biểu hiện qua cơ thể của sinh viên
Yếu tố ảnh hưởng đến vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Cách thức tiến hành: thiết kế bảng hỏi, trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi, kết hợp với
việc tổng hợp cơ sở lý thuyết để thiết kế bảng hỏi sử dụng trong đề tài.
Cách thức tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp trên sinh viên.
- Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Xử lý và mã hóa các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu.
Cách thức tiến hành: Tính tay để xử lý các thông số sau trong đề tài nghiên cứu:
Tần số
Điểm trung bình cộng
Các thông số so sánh
Độ tương quan
8. Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận & kiến nghị, phụ lục và danh mục TLTK, bài
nghei6n cứu đươc chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chường 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chuong 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ
HỘI FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tại Đại học Carnegie Mellon, Burke công bố một nghiên cứu cho thấy nói chuyện
với bạn bè thân trên Facebook đã được kết hợp với cải thiện hạnh phúc. Năm 2013,
Burke và Kraut công bố mộtn ghiên cứu cho thấy người dùng Facebook đã liên lạc với
bạn bè thân thiết về cơ hội việc làm có nhiều khả năng tìm được việc làm hơn là những
người liên lạc với những người quen biết. Năm 2014, Burke và đồng nghiệp Robert Kraut
vừa công bố một nghiên cứu theo chiều dọc của 3,649 người dùng Facebook sự tương tác
với người dùng khác trên Facebook làm tăng sự gần gũi, bất kể bao nhiêu nỗ lực tương
tác này mất. [11]
8
Nghiên cứu của McLoughlin và Burgess cho rằng mô hình hành vi rủi ro được biết
đến thường xuyên hơn ở Australia là “Sexting” và “Texting”. Sexting liên quan đến việc
sử dụng hình ảnh của bản thân hoặc với người khác trong một hành vi sex thân mật hoặc
phô trương thân thể. Các bức ảnh được chụp bằng di động sau đó được phát tán cho bạn
bè nhờ MXH. [13]
Hành vi đã được quan tâm, nghiên cứu dưới góc độ tâm lý ngày càng được nghiên
cứu sâu hơn, đa dạng hơn
1.1.1.2
Những nghiên cứu hành vi con người ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Diễm My nghiên cứu hành vi
với đề tài “ Hành vi nói dối của học sinh THCS tại TPHCM”. Kết quả nghiên cứu cho
thấy có đến 79,8% học sinh thừa nhận mình đã nói dối ít nhất một lần và 5,2% học sinh
tự đánh giá mình đã nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên, 2,08% học sinh cho rằng mình đã
nói dối liên tục trên 4 tháng và 12,9% học sinh thừa nhận liên tục nói dối trên 6 tháng.
Tác giả đã làm cho lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi thêm phong phú. [7]
Vấn đề mà giới trẻ đang bị cuốn vào cuộc sống của bản thân đấy là nghiện mạng xã
cơ thể sẽ phải chịu những thay đổi từ việc giảm cân sai quy cách và các hành vi kiểm soát
cân nặng gây nguy hiểm khác. Nghiên cứu đã lấy mẫu 600 Mỹ người sử dụng Facebook
trong độ tuổi từ 16 đến 40. [7]
Nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp, xây dựnginình bạn ở sinh viên đại học sử dụng
Facebook của tác giả Lampe, Ellison và Steinfeld trên 1440 sinh viên năm 1 tại ĐH
Michigan cho thấy: sinh viên sử dụng Facebook để tìm kiếm đốit ác quan hệ tình dục ở
mức thấp nhất, tiếp theo là tìm người hẹn hò và xếp ở mức cao nhất là để điểm tra những
người mà hẹn hò và xếp ở mức cao nhất là để kiểm tra những người mà họ sẽ hẹn hò,
kiểm tra ra những người mà họ đã gặp mặt ở ngoài. [11]
Trên Internet, những thanh thiếu niên có thể tham gia vào rất nhiều những hoạt
động và một trong số đó có thể có khả năng gây nghiên. Từ góc độ tâm lý học, điều này
là hợp lý để nói về “Chứng rối loạn nghiện Facebook” hay rộng hơn “Chứng rối loạn
nghiện trang MXH”. Các tiêu chí nghiện được Young đưa ra như: Không quan tâm tới
cuộc sống cá nhân, tinh thần lo âu, trải nghiệm thay đổi tâm trạng, sự khoan dung và che
giấu hành vi gây nghiện., xuất hiện ở một số người dùng Facebook thái quá.
Yuong đã đưa ra 8 tiêu chuẩn nghiện như sau:
1/ Bận tâm bởi Internet
2/ Có nhu cầu sử dụng Internet ngày càng tăng để được thỏa mãn
3/ Nỗ lực nhiều lần nhưng không thành trong việc kiểm soát
4/ Kích động hoặc dễ bị kích kích khi có xu hướng giảm hoặc ngừng sử dụng
5/ Tiêu tốn thời gian lên mạng nhiều hơn dự kiến
6/ Các mối quan hệ quan trọng, hoạt động nghề nghiệp, xã hội, giải trí bị mất hoặc
có nguy cơ bị mất do sử dụng internet và các ứng dụng
7/ Nói dối gia đình, nhà trị liệu để che dấu hiện trạng thực sự về việc sử dụng
10
8/ Sử dụng Internet để trốn tránh khó khăn hoặc để giải tỏa sự hoảng loạn
Năm 2012 là một năm đầy phát triển của MXH Facebook. Theo báo cáo lợi nhuận
quý ba của Facebook, có tổng cộng 1,01 tỉ người dùng tích cực hàng tháng, tăng trưởng
hành vi tạo tác của B.F.Skinner đã đưa ra ba dạng hành vi: hành vi phản xạ có điều kiện,
11
hành vi phản xạ không điều kiện, hành vi tạo tác. Các dạng hành vi códđiều kiện vàk
hông điều kiện do kích thích (S) gây ra gọi là phản ứng kiểu S. Chúng chỉ là một phần
xác định trong cấu thành của hành vi và chỉ dựa vào phản ứng S thôi thì không có sự
thích nghi với cuộc sống thực tế. Thực chất, quá trình thích nghi được cấu trúc trên cơ sở
các thử nghiệm tích cực – do các tác động của con vật lên môi trường xung quanh một
cách ngẫu nhiên có thểd ẫn đến kết quả dương tính. Những phản ứng sinh ra không phải
do kích thích mà do cơ thể tự tạo ra gọi là tạo tác. Đây là phản ứng dạng R.
Về cơ chế sinh học, cả hành vi có điều kiện cổ điển lẫn hành vi tạo tác đều có cơ sở
là phản xạ có điều kiện, nhưng chúng khác nhau về tính chủ động của hành vi cơ thể đối
với kích thích môi trường. Về nguyên tắc, cả hai đều là sơ đồ trực tiếp S ->R. Điều khác
cơ bản là trong sơ đồ cổ điển S -> R, các kích thích (S) đóng vai trò tín hiệu, còn trong sơ
độ tạo tác, vai trò tín hiệu này đượcye chển vào trong hành vi củng cố. Nói cách khác,
trong sơ đồ hành vi tạo tác, hành vi củng cố có vai trò kích thích (S) trong sơ đồ S -> R.
Vì vậy, có thể diễn đạt mối quan hệ này trong sơ đồ S -> s -> r -> R.
Sau này nhờ những thành tựu nghiên cứu về hành vi của con người, khái niệm hành
vi trong tâm lý học không còn được hiểu một cách máy móc và cứng nhắc như trong
thuyết hành vi. Khi bàn về mô hình S – R, Piaget lưu ý đến tính tích cực của hành vi
người: “Hành vi – đó là sự tìm kiếm những hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hoặc còn
chưa tồn tại… Hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng”. [10]
Tâm lý học hoạt động quan niệm hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt
động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong. Đối lập với tâm lý học hành vi, trong
đó ý thức bị loại ra ngoài phạm vi nghiên cứu. Vugotxki khẳng định “Không nghiên cứu
phản xạ, mà nghiên cứu hành vi, cơ chế, thành phần, cấu trúc của hành vi” và phải nghiên
cứu cả ý thức trong nghiên cứu hành vi. [5]
Một số xu hướng khác, chú ý đến các yêu tố can thiệp giữa kích thích và phản ứng.
Sơ đồ, S-R thành S-O-R (trong đó Organism: yếu tố sinh học). Sau này, sơ đồ còn được
người. Có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau. Khi dựa vào mức độ biểu lộ của hành
vi, toàn bộ hành vi con người được cắt ra theo một trục dọc cho ra hai phạm trù lớn, khái
quát: hành vi bộc lộ (hành vi bên ngoài) và hành vi ngầm ẩn (hành vi nội tâm). Theo ý
nghĩa tượng trưng hành vi con người được chia thành từng mảng: một số mảng thuộc
hành vi biểu tượng, những mảng còn lại thuộc hành vi phi biểu tượng.
- Hành vi bộc lộ và hành vi ngầm ẩn
Tất cả những hành vi của con người mà người khác có thể trực tiếp quan sát được là
hành vi bộc lộ. Những hành vi này dễ xác minh, tức là khi nó được một nhà nghiên cứu
quan sát, ghi lại, đánh giá thì một nhà nghiên cứu khác có thể kiểm tra được. Những hành
vi như đi, đứng, nói, cười, mua, bán… đều thuộc hành vi bộc lộ.
Hành vi bộc lộ là cơ sở vật chất của các mối quan hệ người – người, nhờ có hành vi
bộc lộ mà của cải được làm ra, các công việc trên thế giới được thực hiện. Trước đây,
hành vi ngầm ẩn được xem là không quan trọng với những người khác ngoài chủ thể của
nó, nhưng gần đây các nhà khoa học đã nhận thức lại ý nghĩa của loại hành vi này. Nhiều
13
nhà khoa học đã khẳng định rằng tuy nó không có tác động trực tiếp nhưng rất quan trọng
và có ý nghĩa lâu dài.
- Hành vi biểu tượng và hành vi phi biểu tượng
Nhìn chung hành vi biểu tượng và hành vi phi biểu tượng đều rất quan trọng đối với
cuộc sống xã hội. Có thể nói hành vi biểu tượng là cách thức làm việc của xã hội, là mọi
việc do con người làm và mọi công cụ mà họ sử dụng trên thực tế có cơ sở đối chiếu với
biểu tượng của nó hoặc có ý nghĩa bằng lời.
Nếu hành vi biểu tượng là cách thức làm việc của xã hội thì hành vi phi biểu tượng
là nội dung của cuộc sống xã hội. Nếu sự điều khiển bằng biểu tượng không thực hiện
đến cùng để có những hành vi phi biểu tượng thì có lẽ không có cuộc sống của con
người, vì thế không có xã hội.
1.2.2 Khái niệm mạng xã hội Facebook
1.2.2.1
thời gian nhất định trong ngày, điều này đang dần lôi kéo mọi thứ nghiêng về phía bàn
cân Facebook, sử dụng MXH Facebook như chiếc cầu nối để mọi người cùng trao đổi,
chơi game, chia sẻ, kết nối mọi thông tin trong đời sống thườnggayày, thậm chí có thể
theo dõi những thông tin từ người nổi tiếng.
MXH Facebook được hiểu là “MXH Facebook là dịch vụ nối kết các thành viên
cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt
không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim ảnh, voice
chat… nhằm phục vụ những yêu cầu công cộng chung và những giá trị của xã hội”.
Đặc điểm của mạng xã hội Facebook
- Tính liên kết cộng đồng: Đây là đặc điểm nổi bật của MXH ảo, nó cho phép mở
rộng phạm vi kết nối giữa người với người trong không gian đa dạng. Người sử dụng có
thể trở thành bạn của nhau thông qua yêu cầu mời kết bạn mà không cần gặp gỡ trực tiếp.
Việc gửi yêu cầu này tạo ra một cộng đồng mạng với số lượng thành viên lớn. Những
người có cùng một mối quan tâm cũng có thể tập hợp lại thành các nhóm trên MXH để
giao lưu, chia sẻ thông tin trên mạng thông qua việc bình luận hay dẫn các đường liên kết
trên trang chung của nhóm.
- Tính đa dạng phương tiện: Hoạt động theo nguyên lí của web 2.0, MXH có rất
nhiều tiện ích nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố chữ viết, âm thanh, hình ảnh, hình ảnh
động,…Sau khi đăng kí mở tài khoản, người sử dụng có thể xây dựng không gian riêng
cho bản thân. Nhờ những tiện ích và dịch vụ mà MXH cung cấp, người dùng có thể chia
sẻ đường dẫn, tệp âm thanh, hình ảnh, video,… Không những vậy họ có thể tham gia vào
các trò chơi trực tuyến đòi hỏi có nhiều mối quan hệ mới trong xã hội ảo.
- Tính tương tác: Thể hiện không chỉ ở chỗ thông tin được truyền đi và sau đó được
phản hồi từ người nhận mà còn phụ thuộc vào cách người dùng sử dụng ứng dụng của
MXH.
- Khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ: Tất cả các trang MXH nói
chung, Facebook nói riêng đều có những ứng dụng trông tương tự nhau như cho phép
người sử dụng đăng tâm sự, đăng nhạc hoặc video clip, viết bài,…nhưng phân bố dung
lượng khác nhau. Các trang MXH lưu trữ thông tin và nhóm sắp xếp chúng theo trình tự
thời gian, nhờ đó, người sử dụng có thể truy cập và tìm lịa thông tin đã từng đăng tải.
bạn ngay cả khi không có thời gian gặp gỡ họ. Đôi khi còn sẽ tìm được bạn cũ một thời
mà khó có thể gặp ở nơi khác. Hoặc giúp chúng ta tạo lập mối quan hệ mới thông qua
một số tính năng như: gợi ý kết bạn theo nơi sống, khu vực, trường học, nơi làm việc,…
- Giải trí
MXH Facebook là một kênh giải trí con người có thể giải hòa được những căng
thẳng, áp lực sau những giờ làm việc, học tập, hoạt động khác. MXH Facebook chứa một
lượng thông tin khổng lồ về bạn bè, những hoạt động nghệ thuật, pháp luật, thời sự,…
Đặc biệt nhất Facebook chứa một lượng “game online” có sự liên kết giữa các thành viên
16
trong danh bạ. Bên cạnh đó MXH Facebook còn chứa những tin tức nóng của thời sự,
pháp luật chính trị, sinh viên có thể cấp nhật những tin tức mang tính thời sự, chính trị,
pháp luật, địa điểm du lịch, khu ăn uống, và hơn hết là xem tin tức từ phía bạn bè.
- Nơi chia sẻ thông tin
Một trong những tiện ích khác không thể phủ nhận của MXH Facebook là việc chia
sẻ: Thông tin, hình ảnh (cá nhân, tập thể hoặc của một nhóm người nào đó), tin tức thời
sự mọi người đang quan tâm, cả những “tin” vừa phát hiện (tai nạn giao thông, hỏa
hoạn,…) với tốc độ tính bằng giây. Bên cạnh đó, thông qua MXH Facebook giúp người
sử dụng nắm được những thông tin mình quan tâm. Có thể thấy, tất cả những thông tin
chúng ta cần sẽ có trong tích tắc, chỉ bằng một cú “click” chuột, một dòng “status”,…
Bên cạnh đó chúng ta còn chia sẻ ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó trong xã hội, cảm
xúc, tâm trạng cá nhân, hay những câu triết lí cuộc sống. MXH Facebook còn có thể giúp
chúng ta xây dựng được hình ảnh của bản thân, thể hiện mình bằng cách trang trí dòng
thời gian của mình trên Facebook, qua các hình ảnh cá nhân, đăng thông tin về học vấn,
nơi làm việc, thành tích cá nhân…Cảm xúc của mọi người chia sẻ, chúc mừng, hỏi han,
quan tâm sẽ làm cho người dùng có được những cảm xúc tích cực và hơn hết là được thể
hiện mình dù trong môi trường sống ảo.
- Facebook là một môi trường quảng cáo, kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp
Với những thông tin mà người dùng chia sẻ, Facebook sẽ dựa vào đó mà đặt quảng
Qua khảo sát cho thấy có rất nhiều bạn trẻ công nhận vai trò tích cực của Facebook trong
học tập, giao tiếp, giải trí và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp. MXH giúp mọi người trên thế
giới xích lại gần nhau hơn. Rất nhiều người trẻ đã biết cách sử dụng MXH một cách hiệu
quả. Họ sử dụng đây là nơi để cung cấp cho mình nguồn tri thức, nâng cao giá trị bản
thân., là nơi để gắn kết cộng đồng, là nơi để sẻ chia những người bất hạnh, niềm vui của
những người có cùng trái tim biết thông cảm và giúp đỡ những người có hoàn cảnh đáng
thương, cần sự trợ giúp của xã hội.
Bên cạnh việc đáp ứng được nhu cầu thể hiện bản thân của giới trẻ thì MXH cũng
làm thay đổi thói quen thu thập và chia sẻ thông tin của họ. Thay vì thu thập thông tin từ
báo chí truyền thống, giới trẻ đang bắt đầu có thói quen thu thập thông tin qua MXH và
truy cập các sản phẩm báo chí qua MXH. Nếu họ thấy thông tin hay, bổ ích sẽ chia sẻ
thông tin đó trên trang của họ. Do đó, đây lại là một cách tác động hết sức tích cực đến
báo chí truyền thống.
- Tác động tiêu cực
Công nghệ nói chung và MXH Facebook nói riêng đang là một phần của cuộc sống.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực kề bên thì MXH cugn4 mang lại không ít
những tác động tiêu cực. Những giá trị ảo từ Facebook đang tác động trực tiếp đến cuộc
sống hiện thực của giới trẻ.
Trong những hệ lụy mà Facebook mang lại, phổ biến nhất là sự phát triển này đã
làm nảy sinh biểu hiện “nghiện” Facebook của không ít những bạn trẻ, nhất là tuổi thanh
thiếu niên. Họ dành quá nhiều thời gian của mình để lên mạng và đắm chìm trong những
18
trang Facebook. Nhiều bạn nghiên đến mức quên cả giờ ăn, ngủ và kết quả là sức khỏe
giảm sút nghiệm trọng, kết quả học tập, làm việc giảm sút. Bên cạnh đó, một bộ phận
giới trẻ đang có xu hướng sống ảo, những bạn này thường tự vẽ ra cho mình một cuộc
sống khác hoàn toàn với thế giới ngoài. Một số bạn trẻ lại xem Facebook như một cứu
cánh, họ sống trong thế giới ảo đó, quên mất bản thân trong đời thực.
1.2.3 Khái niệm hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Hoạt động nhận thức của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng
thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt. Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những sự
kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở. Song các thao tác trí tuệ đã phát
triển ở trình độ cao và đặc biệt có ở sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế và uyển chuyển, linh
động tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề. Nét đặc trưng cho hoạt động học tập của sinh
19
viên là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy như phân
tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Bởi vậy đa số sinh viên lĩnh hội
nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà giáo viên trình bày. Họ thường ít thảo mãn với
những gì đã biết mà muốn đào sâu, suy nghĩ để nắm vấn đề sâu rộng hơn.
Đời sống tình cảm, xúc cảm ở sinh viên
Một số đặc điểm tâm lý nổi bật ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên,
trong đó phải đề cập đến tình cảm nghệ nghiệp – một động lực giúp họ học tập một cách
chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn. Sinh viên là
người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các
sự vật hiện tượng của thiên nhiên hoặc con người tạo ra. Cá biệt có những sinh viên đã
xây dụng được “triết lý” cho cái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định. Bên cạnh
tình bạn, tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặc trưng. Tình yêu ở tuổi
sinh viên đặt đến hình thái chuẩn mực cùng với nhữ biểu hiện phong phú, đặc sắc của nó.
Đây là một loại tình cảm đặc biệt và cao cấp của con người, nó chín vào độ tuổi mà sinh
viên trải qua. Bởi vậy, nhìn chugn tình yêu nam nữ ở độ tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn,
đầy thi vị… trong lĩnh vực này, sinh viên gặp phải những mâu thuẫn nội tại.
Một số đặc điểm trong nhân cách của sinh viên
Nổi bật trong sự phát triển nhân cách ở sinh viên chính là sự hoàn thiện tự ý thức và
sự phát triển của định hướng giá trị.
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên – sinh viên
là sự phát triển tự ý thức. Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển àm sinh viên có thể nhìn
nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý
thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do
đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội,
với truyển thống tốt đẹp của dân tốc và không có lợi cho bản thân họ. Hành vi sử dụng
MXH Facebook quá mức cũng là một trong những hành vi không phù hợp dễ lôi cuốn
sinh viên. Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự
bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếpnh ận cả những
nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội, truyển thống của dân tộc và không có
lợi cho bản thân họ.
Sinh viên, những người còn ất trẻ, dễ nảy sinh hứng thú với những hoạt động giải
trí, nhằm thỏa mãn nhu cầu thư giãn, phục hồi sức khỏe, giải tỏa tâm lý và ức chế sau
những giờ học căng thẳng. Hoạt động giải trí có những đặc điểm như sau: rất phong phú
về loại hình, có thể diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại có thể tranh thủ vào bất kỳ lúc
nào, trở thành một nhu cầu bức thiết, hiện tượng xã hội phổ biến đối với các thành phố
lớn, khu công nghiệp tập trung dân cư. Đặc điểm quan trọng của hoạt động vui chơi giải
trí hiện đại là tính chất giải trí đối lập nhau, tức là người ta tìm đến môi trường đối lập
với họ sống và làm việc.
Với tốc độ lan tuyền của MXH Facebook, với những tính năng, làm cho người sử
dụng nói chung, sinh viên nói riêng bị lôi cuốn nhanh chóng, được tự do thể hiện bản
thân, khẳng định mình, và hơn hết là MXH Facebook có thể đáp ứng được những nhu
cầu của sinh viên… Do đó, việc sinh viên nảy sinh tính tò mò, hiếu kì, lao vào hoạt động
21
này để thư giản sau giờ học, có thể chat với bạn bè mà không cần phải gặp m ặt, theo dõi
thông tin của một số người nổi tiếng, tìm kiếm công việc làm thêm.
Tóm lại, lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so
với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình
cảm trí tuệ phát triển, có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều ước mơ và thích trải
nghiệm, dám đối mặt với thử thách. Song do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên
cugn4 có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới, dễ nảy sinh hứng thứ với những
22
ảnh hưởng gì đến đời sống cá nhân, mỗi ngày dùng khoảng 4-5 tiếng để cập nhật những
tin tức hay trạng thái của bản thân và những người khách chứ không gây hại gì cả. Sinh
viên cũng có những phản ứng bênh vực hoặc biện hộ cho hành vi sử dụng MXH
Facebook như không thể nghiện vì với họ chỉ sử dụng mạng xã hội khi cần thiết phục vụ
mục đích của mình. Nghiện MXH Facebook xuát phát từ bản thân mỗi người. Khi con
người vui vẻ hạnh phúc, buồn chán, thất vọng thường có xu hướng sống với cảm xúc,
cuộc sống thực không đáp ứng được nhu cầu này nên dùng mạng xã hội để bày tỏ, bộc lộ
những cảm xúc ấy dần dần thành thói quen không thể từ bỏ, mỗi khi gặp một trắc trở
trong cuộc sống, áp lực về học tập thì truy cập Facebook để đăng tải các cảm xúc ấy lên
trang cá nhân của mình…Thực tế hiện nay có rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ sử
dụng mạng xã hội như một công cụ để xả stress, để soi mói cuộc sống của người khác và
thể hiện cái tôi có phần tầm thường và ít va chạm xã hội, hoặc có định kiến với xã hội của
mình. Sự lan truyền nhanh chóng của Facebook, với việc có thể đưa lên ngay lập tức theo
thời gian thực một quan điểm, càng khiến họ trở nên thiếu suy nghĩ, càng bộc lộ sự thiếu
chín chắn của mình. Do sức lan tỏa của mạng nhanh tới mức chóng mặt, nên rất nhiều
người bị cuốn hút vào một sự việc, rồi không ngần ngại đưa ra những bình luận (cả đúng,
cả sai). Thật đáng lo ngại, rất nhiều người mượn Facebook để đưa ra quan điểm cá nhân,
cái tối cụ bộ, nói xấu người khác, thậm chí còn lợi dụng diễn đàn này để bôi xấu chế độ,
thầy cô giáo cũng là một trong những đối tượng của họ. Facebook được các bạn sử dụng
để truyền tải những nội dung và quan điểm lệch lạc, dễ dãi, thiếu trách nhiệm với xã hội
và cộng đồng, nó trở thành một công cụ nguy hiểm khi nằm trong tay của một số đông
cùng “sở thích”. Tâm lý đám đông, hiếu kỳ cùng với suy nghĩ thiếu chín chắn đã tạo ra
những làn sóng ập lên những “nạn nhân” không cùng sở thích, suy nghĩ với họ. Thật
nguy hại khi số đông đã bám lấy những hình ảnh, những thông tin chưa qua kiểm chứng
để quy chụp, thậm chí bình luận bằng những lời lẽ vô cảm, thiếu văn hóa. Điều này có
thể được lý giải hành vi này được hình thành theo cơ chế bắt chước lẫn nhau: Đó là sự
mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành động, hành vi, tâm trạng, cách thức suy nghĩ, ứng xử
Cảm xúc tiêu cực: MXH Facebook ngày càng trở thành người bạn thân thiết của
giới trẻ nói chung và giới học sinh, sinh viên nói riêng. Nó trở thà nh nhu cầu bức thiết
như nhu cầu cơm ăn, nước uống hàng ngày của một số người. Khi không được sử dụng
MXH Facebook họ sẽ có những cảm xúc rất khác nhau như nôn nao, bồn chồn như thiếu
thốn điều gì đó, không thể kiềm chế sự mong muốn vòa MXH Facebook. Khi vì một lý
do nào đó không được sử dụng họ sẽ cảm thấy thiếu thốn, khó chịu, bứt rứt và luôn mong
muốn được vào mạng, sinh viên sẽ cảm thấy chán nản, trống rỗng, ở mức độ nào đó có
thể gây ra trầm cảm hay rơi vào trạng thái buồn vu vơ, cứ ra vào Facebook để mong chờ
một thông báo, tin nhắn, hụt hẫng khi đăng tải hình mà không ai thích và bình luận. Có
thể nói Facebook là một trang MXH chi phối cảm xúc của các em SV.
Biểu hiện hành vị sử dụng MXH Facebook của sinh viên thông qua cảm xúc theo cơ
chế lây lan. Về bản chất, lây lan là quá trình chuyển trạng thái cảm xúc từ người này sang
người khác, tạo nên trạng thái cảm xúc chung của nhóm đối với một sự vật, hiện tượng
nhất định. Chính trạng thái cảm xúc này đã điều khiển hành động của nhóm đối với đối
tượng. Lực lây lan được truyền theo nguyên tắc cộng hưởng, tỷ lệ thuận với số lượng
thành viên trong nhóm và cường độ cảm xúc được truyền đạt. Trong khi sử dụng MXH
Facebook khi một cá nhân đăng tải trạng thái (status) buồn về gia đình. Cá nhân đó sinh
hoạt trong một nhóm gồm 5 người thì 4 người còn lại sẽ thấy buồn theo. Hay một thành
24
viên nào đó đăng tải một tấm hình lên Facebook và nhận được nhiều bình luận vui nhộn,
thăm hỏi, khen ngợi từ bạn bè. Bản thân người đăng hình sẽ có cảm xúc vui vẻ, hạnh
phúc. Và cảm xúc này cũng lâylan cho người bình luận và người bình luận dễ dàng bắt
chước theo hành vi của người đăng hình.
1.3.2.3
Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên qua hoạt
động
25