ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỦY HOÀN
ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ
TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỔ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên nghành: Tâm lý học
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỦY HOÀN
ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ NGHỀ
TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH
LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỔ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60310401
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Minh Loan
và góp ý cảu các thầy cô và các bạn để đề tài cảu em được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT
Chữ viết tắt
Nôi dung viết tắt
1
THPT
Trung học phổ thông
2
ĐHGT
Định hướng giá trị
3
ĐTB
Điểm trung bình
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đánh giá của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của các nhóm
nghề. ................................................................................................... 50
Bảng 3.2: Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội” 52
Bảng 3.4 Nhận thức của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá nhân”. . 55
Bảng 3.5: Tổng hợp về ĐHGT nghề của học sinh lớp 12 ở mặt nhận thức . 57
Bảng 3.6: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “xã hội”. .. 59
Bảng 3.7: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “gia đình”.61
Bảng 3.8: Hứng thú của học sinh đối với các giá trị nghề mang tính “cá
nhân”. ............................................................................................................ 62
Bảng 3.9: Tổng hợp về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 ở mặt
hứng thú......................................................................................................... 64
Bảng 3.10: Hành vi tìm hiểu nghề của học sinh lớp 12. .............................. 66
Bảng 3.11: Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của học sinh lớp 12. .................... 68
Bảng 3.12: Tổng hợp về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 ở
mặt hành vi. ......................................................................................... 70
Bảng 3.13: Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12. ............................ 74
Bảng 3.14: Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường
THPT thành phố Hà Nội ............................................................................... 76
Bảng 3.15: Các nguồn cung cấp thông tin về nghề và giá trị nghề cho học
sinh của các hoạt động hướng nghiệp cơ bản và cần thiết. ........................... 77
Bảng 3.16: Động cơ chọn nghề. .................................................................... 81
Bảng 3.17: Tự đánh giá năng lực học tập của mình đối với các nhóm nghề82
Bảng 3.18: Tự đánh giá về sức khỏe của học sinh đối với nghề. ................. 84
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Hành vi lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 ........................... 71
1.4.2. Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12. ..............................34
1.4.3. Nội dung định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12. ...............37
1.5. Yếu tố tác động đến định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12. ....39
1.5.1. Yếu tố bên ngoài (yếu tố khách quan) ..........................................39
1.5.2. Yếu tố bên trong (yếu tổ chủ quan) ..............................................41
Tiểu kết chƣơng 1. .......................................................................................43
Chƣơng 2. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ...............44
2.1. Tổ chức nghiên cứu.............................................................................44
2.2. Phương pháp nghiên cứu. ...................................................................45
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận. .................................................45
2.2.2. Nghiên cứu thực trạng. .................................................................45
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................49
CHƢƠNG 3. KẾT QỦA NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ
NGHỀ TRONG SỰ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12 ....50
3.1 Thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 .....................50
3.1.1 Nhận thức của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của các
nhóm nghề cụ thể........................................................................... 50
3.1.2. Nhận thức của học sinh lớp 12 về giá trị nghề ............................51
3.1.3. Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 thể hiện qua mặt
hứng thú ........................................................................................ 59
3.1.4. Định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 thể hiện ở mặt hành vi. .66
3.1.5. Tổng hợp chung về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12. .......74
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ định hướng giá trị nghề của học
sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội. 75
3.2.1 Yếu tố giáo dục hướng nghiệp ở nhà trường THPT. .....................76
3.2.2. Động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12 .......................................81
Tiểu kết chƣơng 3. .......................................................................................86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................87
Sau khi tốt nghiệp THPT học sinh thường mong muốn được vào các
trường Cao đẳng, Đại học để có một nghề nghiệp nhất định. Song sự hiểu biết
của các em về nghề nghiệp cũng như những yêu cầu của nghề, những khả năng
của bản thân để đáp ứng với yêu cầu đối với nghề nghiệp mà mình lựa chọn còn
rất hạn chế. Nhiều em còn lúng túng chưa định hướng được tương lai cho cuộc
1
sống của bản thân, vì vậy khi chọn nghề thường theo cảm tính khôngcó sự cân
nhắc, suy xét. Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hoạt động nghề nghiệp
của các em. Nếu mỗi cá nhân có một nhận thức và thái độ đúng đắn về nghề và
giá trị của nghề sẽ chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, phù hợp với khả năng,
năng lực, hứng thú và nguyện vọng, sẽ tạo ra một động lực thúc đẩy cá nhân tích
cực say mê tham gia vào các hoạt động xã hội. từ đó cá nhân sẽ có điều kiện để
phát huy được khả năng sáng tạo của mình.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và
nghiêncứu đề tài: “Định hướng giá trị nghề trong sự chọn nghề của học sinh lớp
12 trên địa bàn thành phố Hà Nội.”
2. Mục đich nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị nghề trong sự chọn
nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra
một số kiến nghị cho các em học sinh, gia đình, nhà trường, nhằm hình thành
định hướng giá trị nghề đúng đắn cho học sinh lớp 12.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ định hướng giá trị nghề của học sinh lớp
12 trên địa bàn thành phố Hà Nội..
- Khách thể nghiên cứu: 300 học sinh khối lớp 12 trên địa bàn thành phố
Hà Nội. (Trong đó có 150 em học sinh Trường THPT Minh Khai – Quốc Oai và
150 em học sinh Trường THPT Nhân Chính – Thanh Xuân).
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích tổng hợp và hệ thống các tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề
định hướng giá trị nghề trong sự lựa chọn nghề của học sinh THPT để làm sáng
tỏ các vấn đề lý luận.
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Sử dụng bảng hỏi đã thiết bao gồm một hệ thống câu hỏi danh cho khách thể
nghiên cứu và đối tượng có liên quan nhằm thu thập thông tin, từ đó làm sáng tỏ
thực trạng định hướng giá trị nghề của học sinh THPT, các yếu tổ ảnh hưởng đến
định hướng giá trị nghề.
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn 6 học sinh đang học lớp 12 và 2 cán bộ giáo viên trường THPT
trên địa bàn nghiên cứu về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12.
7.4 Phương pháp thống kê toán học.
3
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 16 để xử lý số liệu bao gồm các thông
số: tỷ lệ phần trằm, điểm trung bình trung để phần tích số liệu thu được từ các
phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong đề tài.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương và kết luận, kiến nghị.
Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề của học sinh trung học phổ
thông.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về định hướng giá trị nghề của học sinh lớp 12 trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
4
I.Kreybig lại cho rằng giá trị được hiểu là hiện tượng hoàn toàn mang tính chủ
5
quan. Theo X.Ehrenfels, giá trị của đối tượng được xác định bởi mong muốn có
nó, mà mong muốn này lại được xác định bằng khả năng đạt được sự thỏa mãn.
Sự sắp xếp các giá tri, do đó được xây dựng trên cớ sở năng lực của đối tượng
mang lại sự hài lòng hay không hài lòng. A.Meinong chuyển khái niệm giá trị
thành khẳ năng trải nghiệm “cảm xúc giá trị” chủ quan nào đó. Theo ông giá trị
được gán cho một đối tượng bất kỳ nào đó, bởi lẽ là có “một người nào đó mà
giá trị là giá trị”. Cũng trong nghĩa này ông đã sử dụng khái niệm “giá trị nhân
cách”, nghĩa là giá trị “đối với ai đó”[ 21].
Trong quan niệm các nhà tâm lý học hành vi, giá trị nằm ngoài phạm vi
nghiên cứu khoa họa về bản chất con người. Đối với họ “đạo đức, luân lý và giá
trị- chẳng qua chỉ là kết quả học hỏi liên từ xã hội”. Hành vi của con người theo
chủ nghĩa hành vi cổ điển được coi là tập hợp các phản ứng, mà sự thể hiện của
nó được xác định bởi sức mạnh của củng cố kích thích từ môi trường bên ngoài.
Tuy nhiên, để đặc trưng cho sức mạnh và xu hướng phản ứng của con người,
E.Tolman đã đước sử dụng các khái niệm về giá trị. Khái niệm giá trị được ông
định nghĩa như sức hấp dẫn của khách thể mục tiêu cùng với nhu cầu xác đinh sự
cần thiêt của mục tiêu. J.Rotter trong lý thuyết học hỏi xã hội của mình sử dụng
khái niệm “giá trị củng cố” và được hiểu là mức độ mà một người ưa thích củng
cố này hay củng cố khác khi xác suất nhận được như nhau. Cùng với “giá trị
củng cố”, hành vi của con người còn được xác định bởi “giá trị nhu cầu”. Giá trị
này là giá trị trung bình của tập hợp các củng cố có liên quan đến các phạm trù
nhu cầu cơ bản. Giá trị mong đợi của củng cố phụ thuộc vào đánh giá chủ quan
tình hình xã hội bên ngoài [21].
Phân tâm học của Freud tập trung chú ý vào các yếu tố sinh học bên trong
của sự phát triển nhân cách. Phân tâm học đặt các ham muốn bản năng vô thức
(Id) là cơ sở hành vi của hành vi của con người. Theo Freud, “hiển nhiên “Cái
năng” lựa chọn cái thực sự, mà không phải cái giả dối, điều thiện mà không phải
là điều ác”. Khi nói về tính tự nhiên, tính hiển nhiên của các giá trị tâm lý bên
trong, Maslow nhấn mạnh, tuy nhiên “bất kỳ xu hướng bản năng nào của con
người cũng yếu hơn nhiều so với sức mạnh của nền văn minh”. Nhưng ông cũng
như Carl Rogers nhìn thấy vai trò “quan trong” sống còn của các nhà tâm lý học
hiện thực hóa, “thức tỉnh” các giá trị bên trong của con người.
Nhóm giá tri định danh là những mong muốn mà cá nhân muốn đạt được
trong cuộc sống. Đây là những mục tiêu mà một người muốn đạt được trong
cuộc đời mình. Những giá trị này khác nhau giữa các nhóm người khác nhau
7
trong nền văn hóa khác nhau. Nó gồm 18 giá trị: Tình hữu nghị, tình yêu, được
tôn trọng, hạnh phúc, cái đẹp, công bằng, độc lập, được thừa nhận xã hộ, tự do,
lạc quan, gia đình an toàn, quốc gia an toàn, nhạy cảm , thế giới tươi đẹp, thế
giới hòa bình, cuộc sống tiện nghi, cuộc sống lạc quan [ 21].
Tâm lý hoạt động có cách tiếp cận tương tự với các nhà tâm lý học nhân
văn phương tây. Theo B.F.Lomov có những giải thích khác nhau về khái niệm
“nhân cách”, song các nhà tâm lý học hoạt động đều đặt giá trị xu hướng lên
hàng đầu. Xu hướng như thuộc tính tổng hợp và xác định toàn bộ tài sản tâm lý
của nhân cách đã được phân tích theo các cách khác nhau trong các công trình
nghiên cứu của Rubinstein, Leontiev, B.G.Ananiev, Uznadeze, Bozhovich,
B.F.Lomov xác định xu hướng như “mối quan hệ giữa cái mà nhân cách nhận
được và tiếp nhận từ xã hội (với nghĩa là cả các giá trị vật chất và tinh thần) với
cái mà nhân cách mang lại cho xã hội, làm cho xã hội phát triển”. Như vậy trong
xu hướng thể hiện các giá trị chủ quan của nhân cách với các khía cạnh khác
nhau của thực tại. Nhấn mạnh đặc trưng tâm lý của các giá trị với tư cách là đối
tượng xu hướng. V.P.Tugarinov sủ dụng khái niệm “định hướng giá trị”. Định
hướng giá trị được định nghĩa như xu hướng của nhân cách đói với giá trị nghề
nào đó.
vậy giáo dục đạo đức ở trường mầm non đạt kết quả cao. Tuy nhiên tác giả cũng
chỉ ra những hạn chế như: giáo viên chưa thực sự mẫu mực trong hành vi ứng xử
với các cháu, đặc biệt ở các lớp đông trẻ, cô thường dung mệnh lệnh sai khiến
trẻ, những hiện tượng quậy phá trò chơi của bạn, tranh dành đồ chơi của bạn….
vẫn tồn tại [21].
Tác giả Phạm Minh Hạc đã phát biểu về triết lý giáo dục hiện nay tại buổi
tạo đàm “triết lý giáo dục Việt Nam” do Báo điện tử ĐCS Việt Nam tổ chức
31/8/2011 tại Hà Nội như sau: Nhà trường giúp học sinh hình thành và phát triển
hệ giá trị của từng người: tâm lực, trí lực, thể lực – giá trị học thức, giá trị sống,
giá trị tay nghề và lương tâm nghề, giá trị đóng góp, giá trị tự khẳng định
mình…”.
Năm 1991 – 1995 nhiều đề tài KX thuộc chương trình khoa học công
nghề cấp nhà nước đã tiếp cận vấn đề giá trị, đặc biệt các chương trình thuộc
chương trình KX – 07 “ Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội”. Có thể điểm qua một số đề tài sau:
Đề tài “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách của con người
Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội” mã số KX -07 – 04 do PGS.TS
9
Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm (1995) đã nghiên cứu những giá trị chung,
giá trị nhân cách, giá trị nghề nghiệp, giá trị truyền thống và hiện đại của các
nhóm học sinh, sinh viên, thanh niên nông thôn [42].
Tác giả Thái Duy Tuyên với đề tài “tìm hiểu định hướng giá trị của thanh
niên Việt Nam” mã số KX – 07 – 10 (1995) đã khảo sát trên các đối tượng thanh
niên công nhân, nông dân, học sinh – sinh viên, tri thức… tại một số thành phố
lớn về “nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên”, và “Định hướng giá trị của thanh
niên”. Các số liệu thu được của đề tài đã phần nào phác họa bức tranh chung về
nhân cách của con người Việt Nam qua các mặt như: nhận thức và giá trị, tâm
trạng và thái độ, hứng thú và thị hiếu, nhu cầu và động cơ, cảm nhận và sự đánh
hướng giá trị cuộc sống gia đình của nữ tri thức, từ đó xây dựng những chuẩn giá
trị gia đình Việt Nam hiện đại [18].
Gần đây nhất một số đề tài về định hướng giá trị đạo đức, lối sống được
quan tâm, như: “Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh” [1], “Định hướng giá trị lối sống sinh viên ở một số trường
đại học tại TPHCM” [4]. Cả hai trên cơ sở nghiên cứu lý luận và hệ thống câu hỏi mở
để lấy ý kiến các nhà giáo dục, các chuyên gia, sinh viên… nêu ra hệ thống giá trị đạo
đức, lối sống. Trên cơ sở nghiên cứu cả hai tác giả đều nhận định đa số sinh viên đều
có định hướng giá trị đạo đức tích cực, lối sống đúng đắn.
Trong đề tài: “Thực trạng lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn
trong lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, của tác giả
Huỳnh Văn Sơn cho biết, trong việc lựa chọn các giá trị cụ thể sinh viên chưa
quan tâm đúng mức đến các giá trị hướng đến cộng đồng và các giá trị hướng
đến một cuộc sống hữu nghị hợp tác với người khác. Ngoài ra, sự lựa chọn của
sinh viên còn chưa thống nhất và rất dao động.
Tác giả Lê Thị Minh Loan đã tìm hiểu hệ giá trị của doanh nhân thời kì
hội nhập quốc tế với ba nhóm giá trị cơ bản bao gồm giá trị cá nhân, giá trị nghề
nghiệp và giá trị xã hội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giá trị cá nhân và giá trị
nghề nghiệp được doanh nhân đề cao và thực hiện tốt nhất, những giá trị xã hội ít
được đề cao và thực hiện kém hơn [21].
Ngoài những đề tài nghiên cứu, còn có một số bài viết và báo cáo về giá
trị và định hướng giá trị được đăng trên các tạp chí khoa học. Nhìn chung các đề
tài tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề cả tích cực lẫn tiêu cực của
những thay đổi về định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và của sinh
viên, học sinh nói riêng, trên cơ sở đó đề ra những phương hướng và biện pháp
để giúp sinh viên, học sinh hoàn thiện về mặt nhân cách.
11
1.1.2. Nghiên cứu về định hƣớng giá trị nghề
cứu về tác động của xuất thân gia đình lên định hướng nghề”, thống kê các
12
nghiên cứu từ 1980 về tác động của xuất thân gia đình lên định hướng giá trị của
các thành viên trong gia đình. Các khái niệm về nghề của các thành viên trong
gia đình chụi ảnh hưởng tới cấu trúc gia đình (như nghề nghiệp của bố mẹ) và
các hoạt động của gia đình (như tương trợ lẫn nhau, sự gắn bó, tính độc lập). Tuy
nhiên ảnh hưởng của hoạt động gia đình mang tính phức tạp hơn và chụi sự chi
phối của các yếu tố như dân tộc, giới và tuổi [47].
Hou, Wu và Liu (2013), trong bài viết “Sự gần gũi cha mẹ và khó khăn
trong việc chọn nghề: Mô hình về định hướng trí tuệ - văn hóa và lương tâm”.
Đánh giá tác động của sự gần gũi cha mẹ, lương tâm và định hướng trí tuệ - văn hóa
trong gia đình tới sự khó khăn lựa chọn nghề của sinh viên Trung Quốc. Mẫu 1196
sinh viên. Kết quả cho thấy sự gần gũi cha mẹ tác động tới lương tâm lại có ảnh
hưởng lên khó khăn chọn nghề của thanh niên. Ngoài ra mối quan hệ giữa gần gũi
cha mẹ và khó khăn chọn nghề được điều tiết bởi trí tuệ - văn hóa [45].
Sự ra đời của các lý thuyết phát triển nghề (bắt đầu từ những năm 50)
với nội dung tập trung vào những quan điểm cá nhân là một bước ngoặt quan
trọng khẳng định hiệu quả, tính bền vững và sự phát triển của hoạt động
“Tham vấn hướng nghiệp”. Các lý thuyết được đề cập đến bao gồm: Thuyết quá
trình (Ginzberg, Ginsburg, Axelrod, Herma, Blau, Gustad, Parnes và
Wilcock); Lý thuyết phát triển (Super, Starishevshky,Matlin, Jordaan và
Havighurst); Thuyết nhân cách (Holland, Roe vàLunneborg); Lý thuyết logic xã
hội (Caplow, Bandura, Herr, Crarner, Hotchkiss và Borow); Lý thuyết kinh
tế (Zunker, Isacson…). Kết quả nghiên cứu các lý thuyết trên đây cho thấy: Phát
triển nghề là một quá trình liên tục, là một mặt lâu dài của sự tồn tại của con
người (career development across the life span). Định hướng giá trị nghề có vai
trò quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Dựa trên các
nhu cầu cơ bản, những mô hình tính cách khác nhau, những trải nghiệm
nghiên cứu như một khía cạnh của xu hướng lựa chọn nghề, thái độ lựa chọn
nghề, động cơ chọn nghề, dự định chọn nghề… hoặc trong những lĩnh vực lớn
về giá trị nhân cách con người Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tất
Dong, Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh, Phạm Mạnh Hùng, Phan Thị Tố Oanh…
đã xem xét một cách sâu sắc và có hệ thống về hứng thú nghề, xu hướng chọn
nghề, động cơ chọn nghề, nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh
THPT. Tuy nhiên có thể thấy trong tất cả những công trình nghiên cứu này, định
hướng giá trị nghề của học sinh THPT cũng mới chỉ xem xét như một khía
cạnh của hứng thú nghề, động cơ chọn nghề và xu hướng chọn nghề của học
sinh. “Ở thanh niên học sinh, động cơ bên trong nổi bật hơn động cơ bên
ngoài, nam thanh niên xếp khả năng của bản thân là động cơ thứ nhất, tính
chất quan trọng của nghề nghiệp là động cơ thứ hai…Nữ thanh niên xếp thứ
nhất là yêu cầu của nhà nước, thứ hai là vị trí xã hội của nghề, thứ ba là khả
năng của bản thân…” [27, tr.10]; “Lý do chọn nghề quan trọng nhất ở học
sinh là nghề phù hợp với khả năng học tập, hứng thú học tập sau đó là sự
phù hợp với yêu cầu xã hội” [27, tr.136].
14
Trên cơ sở phân tích các khía cạnh nhận thức lựa chọn nghề, thái độ lựa
chọn nghề, động cơ lựa chọn nghề, dự định lựa chọn nghề, các tác giả chỉ ra thực
trạng định hướng giá trị nghề của học sinh THPT [15].
Trong tác phẩm “Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới
và hội nhập” Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên (2010) đã chỉ ra những biến đổi
định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường
giai đoạn 1991 – 1995. Nghiên cứu đã chỉ ra một số giá trị nghề mà người lao
động Việt Nam hướng tới đó là: Vấn đề tìm nghề trong biên chế nhà nước không
còn giữ vị trí độc tôn; Quan niệm “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”
sinh… [34, tr.48] đã chỉ ra các mặt biểu hiện của định hướng giá trị nghề (Nhận
thức, hứng thú và hành động đối với các giá trị nghề) ở học sinh THPT. Nghiên
cứu đưa đến kết luận định hướng giá trị nghề của học sinh THPT tỉnh Sơn La ở
mức trung bình thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó giáo dục hướng
nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất [34, tr.163]. Nội dung các giá trị nghề (Giá
trị nghề xã hội, Giá trị nghề gia đình, Giá trị nghề cá nhân) được tác giả nghiên
cứu trong bối cảnh kinh tế xã hội của địa phương (Sơn La). Vì vậy, các giá trị
nghề này chưa phản ánh được những biến động mạnh mẽ của đời sống xã hội,
của thế giới nghề nghiệp trong xu thế hội nhập và quốc tế hóa. Ở một góc độ nào
đó, vấn đề định hướng giá trị nghề được tác giả nghiên cứu gần với nguyên nhân
chọn nghề và dự định chọn nghề của học sinh.
Tác giả Phạm Thị Đức, đã tìm hiểu sự tác động của một số giá trị đối với
hoạt động học tập và sự chọn nghề của học sinh THPT. Theo tác giả, việc học
tập của đa số học sinh là định hướng vào các giá trị tinh thần, trong khi đó tác
dụng thúc đẩy học tập của các giá trị vật chất ở mức độ thấp hơn và giá tiếp hơn.
Kết quả cũng cho thấy, ĐHGTNN trong học tập gắn bó chặt chẽ với định hướng
nghề tương lai và ý thức trách nhiệm công dân. Đây là sự biểu hiện rõ của sự
phát triển nhân cách học sinh ở lứa tuổi này [7].
Tác giả Phùng Thị Hằng (2012), thực hiện đề tài “Định hướng nghề
nghiệp của học sinh trung học phổ thông là người dân tốc tiểu số ở tỉnh Thái
Nguyên”. Tác giả đã tìm hiểu ĐHGTNN bao gồm các khía cạnh: dự định tương
lai, những lý do căn cứ chọn nghề, ĐHGTNN và xu hướng chọn nghề. Nhìn
chung ĐHGTNN của Trung học phổ thông là người dân tộc tiểu số ở tỉnh Thái
Nguyên thể hiện sự lựa chọn của các đối với nhưng GTNN cụ thể có 13 giá trị
nghề được các em đề cập. Tuy nhiên mức độ lựa chọn đối với các giá trị khác
nhau có sự khác nhau [9, tr.10 -11 ,tr.17].
16