HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA DÂN TỘC KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG - Pdf 45

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài tiểu luận là công trình nghiên cứu của tôi đã tìm
hiểu, tìm kiếm thông tin và dưới sự hướng dẫn của G.V Trần Phương Thúy. Nếu
không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, trong quá trình thu nhập, tổng hợp thông tin. Tôi
đã nhận sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, ban cán sự lớp và các sinh viên của
trường Đại học Nội Vụ Hà Nội.
Nhân đây, cho phép tôi bày tỏ lòng cảm ơn chân thành với các thầy cô.
Đặc biệt với TS. Trần Thị Phương Thúy, bởi cô đã hướng dẫn giúp đỡ suốt quá
trình đỡ tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình nghiên cứu tôi gặp khá nhiều khó khăn, mặt khác do trình
độ nghiên cứu còn hạn chế và những nguyên nhân khác nên dù cố gắng xong đề


tài của tôi nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì thế tôi rất
mong nhận được sự đóng góp của các thày cô và các bạn đọc.
Những đóng góp của mọi người sẽ giúp tôi nhận ra hạn chế và qua đó tôi
có thêm nguồn tư liệu trên con đường học tập cũng như nghiên cứu sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN


PHẦN MỞ ĐẦU
1: Lý do chọn đề tài

cửa Định An và Trần Đề, với dân số và diện tích điều đứng thứ 6 trong khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Sóc Trăng có nguồn đất đai màu mỡ, hệ thống kênh rạch chằng chịt cùng
với lợi thế nằm trên tuyến quốc lộ 1A thông suốt và nối liền các tỉnh, thành hai
phía Bắc - Nam và các tuyến quốc lộ như: Quốc lộ 60, tuyến Nam Sông Hậu và
Quản lộ Phụng Hiệp,...với hệ thống giao thông thủy bộ thông suốt và nối dài tạo
nên cho Sóc Trăng một đặc trưng riêng của vùng đồng bằng Nam bộ, tạo nên
những tiềm năng và cơ hội rất lớn nhằm thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, còn góp
phần tạo nên những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển du lịch trong tỉnh,
thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Ngoài ra, lợi thế 72km bờ biển nối liền giáp với biển Đông là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển nguồn kinh tế biển của tỉnh.
Sóc Trăng là một vùng đất được người Việt đến khai khẩn trong khoảng
hơn 200 năm nay. Vào thế kỷ XVII, Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc của Chân
Lạp. Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Thuận cắt đất Ba Thắc dâng cho chúa
Nguyễn. Chúa Nguyễn đặt Ba Thắc thuộc dinh Long Hồ và vận động người Việt
vào khai hoang. Năm 1900, Pháp lập tỉnh Sóc Trăng. Năm 1956, tỉnh Sóc Trăng
hợp nhất với tỉnh Bạc Liêu thành tỉnh Ba Xuyên. Sau ngày 30 tháng
04 năm 1975, tỉnh Ba Xuyên giải thể, địa bàn Sóc Trăng thuộc tỉnh Hậu Giang.
Ngày 26 tháng 11 năm 1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập.
Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức
là "xứ", "cõi", Kh'leang (ឃឃ
ឃឃឃ
ឃ) là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang
là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang"
rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt
5


Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng



Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung... là địa điểm lý tưởng để
phát triển loại hình du lịch sinh thái
Địa hình:
Địa hình trong tỉnh Sóc Trăng thấp và tương đối bằng phẳng, có dạng lòng
chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất
là phía Tây và Tây Bắc, với Độ cao cốt đất tuyệt đối từ 0,4 - 1,5 mét, độ dốc
thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài. Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều,
xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng
nhiễm mặn, phèn. Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ
thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1
m. Thủy triều vùng biển gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư
dân địa phương, đồng thời còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến
tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Sông ngòi:
Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độ thủy triều
ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy
triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của
cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến
tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông, vùng có
nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để cũng như phát
triển kinh tế biển tổng hợp.
Tài nguyên rừng và biển:
Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với các loại cây chính
như Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước. Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng
ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn. Sóc Trăng còn có
72 km bờ biển với 02 cửa sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, có nguồn
hải sản đáng kể bao gồm cá đáy, cá nổi và tôm. Sóc Trăng có nhiều thuận lợi

thông tin, thể dục, thể thao có nhiều tiến bộ. Các phương tiện thông tin đại
chúng phát triển rộng khắp với nhiều hình thức, nội dung khá phong phú. Toàn
tỉnh đã phủ sóng truyền thanh, truyền hình, 100% xã xây dựng trạm truyền
thanh. Hệ thống trường lớp, cơ sở y tế và các thiết chế văn hóa được đầu tư xây
dựng khang trang. Thực hiện tốt công tác quốc phòng - an ninh; gắn phát triển
kinh tế với bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị. Phong trào quần
chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp tục được xây dựng, củng cố và phát triển.
1.2: Khái quát dân tộc người khmer ở tỉnh Sóc Trăng
8


Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Số dân: 1.260.640 người (Tổng cục Thống kê năm 2009), là dân tộc có số
dân đông nhất trong các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khmer ở Việt Nam.
Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, ngữ
hệ Nam Á. Họ có chữ viết riêng để ghi chép các truyện dân gian.
Nguồn gốc lịch sử: Trước thế kỉ XVII người Khmer và văn hoá của họ giữ
vai trò chủ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Địa bàn cư trú: Sống tập trung tại đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu ở
các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Đặc điểm kinh tế: Nông nghiệp dùng cày và thâm canh lúa nước Bộ nông
cụ khá hoàn thiện và hiệu quả, thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ,
đặc biệt nhất là việc cày bằng hai trâu. Đồng bào thành thạo nghề đánh cá, dệt,
chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Chăn nuôi nuôi trâu bò,
lợn, gà, vịt khá phổ biến.
1.2.1:Phong tục tập quán
Ăn: Người Khmer thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Mắm là loại thức ăn
được ưa chuộng với nhiều loại. Gia vị ưa thích là vị chua (từ quả me hay mè) và
cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Ở: Nhà truyền thống của Người Khmer là nhà sàn. Gia đình nhỏ một vợ

Chùa và sinh hoạt Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và xã
hội.

10


CHƯƠNG 2 : HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA DÂN TỘC KHMER Ở
TỈNH SÓC TRĂNG
2.1: Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt
của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà.
Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của
mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với
nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ.
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và
hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn
nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã
hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật
pháp, đó là việc đăng ký kết hôn.
Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng
và một người đàn bà được gọi là vợ. Hôn nhân theo chế độ đa thê là một kiểu
hôn nhân trong đó một người đàn ông có nhiều vợ. Ở một số nước, hôn nhân
đồng giới được công nhận. Ở một số nước khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa
hôn nhân đồng giới đang diễn ra. Hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia
đình không cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính song cũng không
thừa nhận thể loại hôn nhân này.
Hôn nhân, trong chừng mực nào đó, có thể được định nghĩa như là sự
kết hợp giữa hai người, một nam và một nữ, để chung sống, cũng như để dành
cho nhau sự giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết. Ta nói trong chừng mực nào đó, vì khái
niệm này không có được nội dung như trên một cách trọn vẹn trong luật của

3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình.
4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con
có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính
trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ
quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con,
giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá
thú.
6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em,
giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
12


2.1.4: Hôn nhân truyền thống
Lễ cưới hỏi của người Khmer được tổ chức theo cổ truyền từ xưa đến nay.
Trước khi diễn ra lễ nói, lễ hỏi, lễ cưới vấn đề quan trọng nhất là hai gia đình
xem ngày, tháng, năm sinh của chú rể và cô dâu có hạp nhau hay không.
Nếu hợp, cha mẹ hai họ tìm đến ông Pelea xem ngày đến nói-hỏi-cưới. Riêng
ngày hỏi cưới không cử hành vào tháng thiếu ví dụ như: tháng giêng, tháng ba,
tháng năm, tháng bảy, tháng chín, tháng mười một và ba tháng nhập hạ của các
vị sư trong chùa. Lễ cưới hỏi thường được tổ chức bên nhà đàn gái điều kiện
hành lễ chìu theo nhiệm vụ quan trọng nhất là bên đàn trai nhờ ông mai bà mối
là ông Maha cùng cha mẹ chú rể đem theo lễ vật như: hai nải chuối cơm, hai
mâm cơm dẹp, một cặp nước ngọt, hai đĩa bánh tây yến, một mâm trầu cau, một
mâm cơm, bánh trái đến nhà cô dâu đặt những lễ vật và hai mâm cơm gọn gàng
xong mời cha mẹ dòng họ thân thuộc bên đàng gái ngồi có thứ tự một bên và
bên chú rể một bên thắp đèn cầy và nhang. Trước tiên Maha mời những vông
linh ông bà đã quá cố vào dùng những lễ vật của con cháu trai và con cháu gái
của ông bà,…

Vịt luộc
Rượu nếp
Bánh mứt
Trái cây
Trầu cau
Mâm đựng buồng hoa cau non Phka-sla (bắt buộc phải có).
Cùng đàng trai đến còn có dàn nhạc dây "Vong-phlêng-ka" tăng thêm
phần không khí vui tươi trong ngày cưới.
Nghi thức mở rào
Hôm đó, nhà đàng gái phải rào kín cổng, (nếu nhà không có cổng rào, thì
sử dụng cổng rạp cưới dựng phía trước) tượng trưng cho sự trong trắng của
người con gái trưởng thành. Đến cổng nhà, chú rể muốn bước vào thì ông Maha
phải bày mâm lễ vật dâng đàng gái và múa đủ ba điệu để nói lời cầu xin "Pithibơk-rôbong". Khi cổng rào mở, mẹ cô dâu ra đón và một cháu bên đàng gái
bưng nước trà mời chú rể uống thì bên đàng trai mới được vào nhà làm lễ tiếp.
Nghi lễ cúng ông bà tổ tiên.
Tiến hành dưới sự hướng dẫn của ông Maha là "Pithi-sene-chas-tum".
Chú rể ngồi bên tay trái ông Maha, cô dâu ngồi đối diện với các vị sư làm lễ.
Sau khi tụng kinh chúc phúc, bên đàng trai dâng bánh trái cho ông bà và cha mẹ
cô dâu. Lễ nghi này có ý nghĩa tượng trưng sự đền ơn công sinh thành nuôi
dưỡng cô dâu.
Nghi thức dâng lễ vật
14


Pithi-chun-com-nóth là nghi thức bắt buộc trong lễ cưới của người
Khmer. Sau khi làm lễ nhập gia, đúng vào giờ tốt, ông Maha cùng gia đình chú
rể bày các lễ vật mang đến trình gia đình cô dâu xem có đầy đủ không? Khi họ
hàng nhà đàng gái thuận thảo thì tiến hành các bước lễ chính tiếp theo để kết
thúc.
Lễ cắt hoa cau

Ngày thứ nhất: Chú rể mượn bạn bè sang nhà cô dâu phụ cất rạp, dọn dẹp
nhà cửa. Còn cha mẹ chú rể thì mượn hai thanh niên chưa có vợ đi cắt bông cau
( người Khmer gọi là bông vàng bông bạc ) trước khi cắt bông cau thì người ta
chuẩn bị một cái mâm đựng bông cau và họ xin người khuất mặt khuất mài giữ
gốc cau, sau đó họ mới lên cắt, cắt xong họ để trên “Pean” đem về đặt ở một nơi và
một chiếc đèn dầu nhỏ thắp nhang khẩn cầu cho đôi vợ chồng mới cưới trăm năm
hạnh phúc. Tuy nhiên hiện nay có những nơi thường tổ chức ngày của đám cưới thì
bên đàng trai có nghi thức đi hái hoa cau trong đó có ông Acha và những người lớn
trong thân tộc, sau đó đưa về họ nhà gái làm lễ, nhưng có những nơi còn mua hoa
cau hoặc tự hái xong rồi mới đem qua đàng gái làm lễ sau.
Ngày thứ hai: Gia đình và thân tộc bên đàn trai làm lễ đưa chú rể đến nhà
gái theo sự hướng dẫn của Pelea và hai ông Maha ( Mahatep, Maha montray).
Chuẩn bị các lễ vật đem qua bên đàn gái gồm có những lễ vật như: vịt luộc, đầu
heo, rượu, trầu cau, bánh trái, quan trọng nhất là bông cau phải do người chị
hoặc người cô của chú rể bưng. Ngày xưa khi đưa chú rể sang nhà cô dâu người
ta thường hát một bài hát đại ý như sau:
“Con voi một ngà,
đến gần càng to,
nàng ơi đừng sợ,
đó là voi anh”.
Khi đến nhà cô dâu thì bên đàn trai phải dừng lại trước cổng, đặt lễ vật lên
bàn mà bên đàng gái đã bày sẵn được trang trí đẹp đặt ngang, trên có hai có bình
hoa vì theo truyền thống thì khi bên đến thì nhà gái lấy một nhánh cây, gai, rào
cổng lại tượng trưng cho sự tinh khiết của cô dâu chưa hề giao tiếp với ai bên
ngoài. Muốn vào nhà thì ông Maha phải múa mở rào “rom bot robong”. Múa đủ
ba điệu múa thì bên nhà gái xách cồng ra đánh một hồi và ông mới vạch nhánh
gai ra, chú rể ôm mâm bông, hai chú rể phụ bưng mâm trầu và mâm rượu đứng
hai bên, đi vào khi đến của em gái hoặc em trai bưng nước rửa chân cho anh rể
hoặc mời anh rể uống trà và mời chú rể lên ngồi trên giường mà nhà trai chuẩn
bị sẵn. Lúc này có dàn nhạc đàng trai rước phục vụ, đàn những bản nhạc truyền

định.
Ngồi lạy ông bà.Lấy giờ lành xong, ông Maha cho phép chú rể lên vào
nhà ngồi lại ông bà, vào đến nhà chú rể đứng trên một hòn đá đã chuẩn bị sẵn
lúc này cô đâu bưng nước dừa và khăn đến rửa chân cho chú rể. Theo quan niệm
của người Khmer, bất kể họ sinh vào tuổi nào con gái được xem là nước, con
trai được xem là đá, đá với nước sống chung rất hòa thuận đầm ấm. Rửa chân
17


cho chú rể xong, cô dâu đi vào buồng, còn chú rể thì lên giường ngồi lạy bông
cau và ông bà, cha mẹ.
Trong ngày này ông Pele và ông Maha cùng với trưởng tộc hai bên hành
lễ các bước sau: Nhóm họ cắt tóc, cúng cơm ông bà đã khuất, múa rắt hoa cau
lên người đôi vợ chồng trên đường từ chỗ ngồi đén buồng tân hôn, múa “mở nắp
trầu” tượng trưng cho hai người đẫ thành vợ chồng gọi là “sombotbaysay”.
Kế đến là cha mẹ thân tộc hai bên buộc tay cho cô dâu, chú rể gọi là chịu lạy
“chonday” với tiền hoặc vàng và nhận lại ly rượu và miếng trầu của cô dâu chú
rể, và chúc họ trăm năm hạnh phúc, lúc này ông Maha làm lễ “rút gươm ra khỏi
bao” gọi là “dompope” múa này gắn liền với truyền thuyết xa xưa, tượng trưng
cho sức mạnh chính nghĩa thắng gian tà, quyết tâm giành lại hạnh phúc. Sau khi
lễ rút gươm là lễ “cholday” xong là đến nghi lễ vào phòng.
Lễ vào phòng ( Phsom domnek )
Sau lễ cột tay, người ta cho đôi vợ chồng trẻ vào buồng tân hôn theo con
đường đã rắt hoa cau theo thông lệ thì vợ đi trước, chồng nắm vạt áo ( khăn
choàng ) của vợ theo sau. Tục này bắt nguồn từ sự tích Preas Thông cưới công
chúa Neak, để đi xuống thủy cung ra mắt vua cha thì hoàng tử phải nắm vạt áo
của công chúa, mới đi được xuống dưới thủy cung.
Xong thủ tục ấy, đôi vợ chồng thay y phục ra ngoài chào đón bạn bè,
khách đến dự tiệc.
Sau đó là lễ quét chiếu “Bos Kantel”.

Vào khoảng tám đến chín giờ tối, bên nhà gái tổ chức lễ động phòng cho
cô dâu, chú rể. Trước hết, người ta mượn hai phụ nữ lớn tuổi, có cưới hỏi theo
phong tục, có hiểu biết về cách thức động phòng và cũng là người thân của nhà
gái để làm lễ. Đầu tiên, người ta bày các lễ vật như: hai cái bai-say, một mâm
cơm, trái cây và một trái dừa tươi để cúng ông bà. Cúng xong, người ta đưa
nước dừa cho chú rể uống và cô dâu đem chuối mà ông Acha cho, đúc cho chú
rể ăn. Chú rể cũng đúc chuối cho cô dâu ăn. Hành động này thể hiện sự quan
tâm, chăm sóc, yêu thương lẫn nhau của đôi vợ chồng.
Hai bà dặn dò cô dâu, chú rể những việc cần thiết theo phong tục, truyền
thống và cho cô dâu nằm bên trái chú rể nằm bên phải. Xong hai người họ đi ra.
(Xong lễ cưới)
2.1.6: Các bước trong cưới hỏi
Mở đầu cho lễ hỏi, hai ông Achar ( chủ lễ, đại diện cho hai gia đình) thay
nhau đối đáp. Achar là những người có uy tín trong họ tộc, là những người có
gia đình hạnh phúc và phải am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mới được
19


mời tham dự các nghi lễ. Ông Châu Chân Đa, cho biết: "Phải biết người ta là
người đàng hoàng, hiểu biết thì mình mới dám mời đến chủ trì nghi lễ. Nếu
không được như thế thì không dám mời. Vì trong cưới hỏi có nhiều nghi lễ rất
khó".
Cuộc đối đáp diễn ra trong không khí trang nghiêm với sự chứng kiến của
đại diện người thân họ hàng của hai bên gia đình. Đây cũng là nghi lễ đầu tiên
của đám cưới. Trong lễ này, ngày tháng tổ chức lễ cưới được hai họ thống nhất
với nhau.
Lễ thành hôn ( Apia pị pia ) của người Khmer trước đây thường được tiến
hành trong 3 ngày, 2 đêm, nhưng hiện nay tại nhiều địa phương đã rút gọn lại chỉ
còn 2 ngày, 2 đêm. Những chi tiết rườm rà đã được bỏ đi, chỉ giữ lại những nghi
lễ chính như: lễ đưa chú rể sang nhà gái, lễ cúng ông Tà, lễ cắt tóc, rắc bông

biến của người Khơme trong hôn nhân là cư trú phía vợ, đặc điểm đó nổi bật lên
đậm nét trong từng phum. Tức là chàng rể của mỗi gia đình khi ra ở riêng thì cất
nhà ở sát ngay bên cạnh bố mẹ vợ trong cùng một phum. Quá trình đó lặp lại từ
thế hệ này sang thế hệ kia đưa đến tình hình thành viên trong một phum thường
là bà con của nhau theo dòng nữ”. Tác giả Đỗ Khắc Tụng thì cho rằng: "Mặc dù
không có một quy định bắt buộc nào trong phong tục hay quy tắc văn hóa, trong
thực tế cách cư trú bên vợ thường phổ biến hơn và được ưa thích hơn. Trong
trường hợp này, hoặc đôi vợ chồng ở chung với gia đình cha mẹ vợ trong một
căn nhà, hoặc họ cất nhà ở gần quanh nhà cha mẹ vợ nghĩa là trong chu vi của
phum bên vợ. Đây là một tập tục cư trú còn đậm nét của người Khơme ĐBSCL,
và phải chăng đó là tàn dư của một chế độ cư trú theo mẫu hệ xưa kia".
2.1.8.Các trường hợp đặc biệt
Chấm dứt quan hệ hôn nhân:
Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân, trên thực tế, có thể được
xếp thành ba nhóm.
- Vợ hoặc chồng chết hoặc bị tuyên bố là đã chết (gọi chung là chết);
- Vợ và chồng ly hôn;
- Vợ và chồng không sống chung nhưng không tiến hành thủ tục ly hôn.
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân ngay trong lúc cả vợ và
chồng đều còn sống. Ðây là biện pháp cuối cùng mà luật cho phép thực hiện
trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà không
thể được khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác. Nguyên nhân của sự khủng
21


hoảng khá đa dạng: bất đồng ý kiến kéo dài, đối nghịch về quan niệm sống, thần
tượng sụp đổ, ngoại tình,... Nhưng tất cả các trường hợp ly hôn đều có chung
một đặc điểm: vợ hoặc chồng hoặc cả hai không muốn tiếp tục duy trì quan hệ
hôn nhân và muốn được tự do.
Ly thân: không phải là ly hôn dựa trên giấy tờ và pháp luật mà nghĩ theo

con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em. Những mối quan hệ này có những
nét đặc thù, phản ánh đặc điểm trong quan hệ thân tộc của người Khơme, khác
với quan hệ của các tộc người khác ở nước ta.
Trong gia đình Khơme, người chồng hay người cha là lực lượng chủ yếu
sản xuất nông nghiệp và giao dịch với bên ngoài, tiếp đón khách. Tất cả các
công việc còn lại như nội trợ, chăm sóc, dạy dỗ con cái và quản lý chi tiêu trong
gia đình thuộc về người vợ. Những công việc hệ trọng trong gia đình như mua
bán, sắm sửa vật dụng quý giá, đắt tiền và cưới vợ gả chồng cho con cái, làm
phước vào chùa… đều có sự thống nhất giữa vợ và chồng. Nhìn chung, quan hệ
giữa vợ và chồng người Khơme khá bình đẳng, không khí gia đình hòa thuận, ít
khi có xung đột…
Sự bình đẳng này còn thể hiện ở chế độ sở hữu tài sản. Trong gia đình,
ngoài tài sản chung do công sức hai vợ chồng làm ra trong thời gian chung sống
23


thì vợ và chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng. Khi quan hệ vợ chồng lỡ bị
tan rã, ly dị, thì tài sản riêng của người nào người đó giữ lại, còn tài sản chung
thì chia đều.
Trong xã hội, người đàn bà cũng được quý trọng. Ngay cả khi Phật giáo
Khơme, về quy chế, không chấp nhận sự tu hành của nữ giới, thì trong thực tế
người phụ nữ Khơme vẫn có thể thực hiện việc tu hành bằng cách tu tại gia và
hằng tháng vẫn được đến chùa trong một số ngày lễ Phật. Người đàn ông lấy vợ
lẽ phải được phép của người vợ cả. Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ rất
chịu khó, chăm sóc chồng con chu đáo… đây là một đức tính tốt đẹp của người
phụ nữ Khơme. Thế nhưng nếu trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, họ
cũng có thể tiến hành ly dị dễ dàng mà không gặp phải những khó khăn ràng
buộc quá lớn.
Quan hệ trong gia đình người Khơme có sự kỷ cương nề nếp, tôn ti trật tự
rõ ràng, cha mẹ thật sự có quyền đối với con cái. Tuy nhiên, trong sinh hoạt

ra còn nhằm mục đích bảo vệ tài sản của gia đình không thất thoát ra ngoài.
Người Khơme thường cư trú trên các giồng, khai thác những vùng đất
thấp phía trước và sau giồng, từng bước biến chúng thành đồng ruộng. Những
cụm dân cư rời nhỏ gọn là phum, nhiều phum hợp thành sóc hoặc lớn hơn là xã
xen kẽ với các ấp, xã của người Việt và người Hoa. Hình thái cư trú sau hôn
nhân của người Khơme do tính chất xã hội, quan hệ trong việc tính huyết thống
và tính chất của gia đình quy định. Đa số nhà nghiên cứu cho rằng hôn nhân cư
trú bên vợ là hiện tượng phổ biến ở người Khơme. Tác giả Lâm Thanh Tòng
nhận xét: “Đặc điểm phổ biến của người Khơme trong hôn nhân là cư trú phía
vợ, đặc điểm đó nổi bật lên đậm nét trong từng phum. Tức là chàng rể của mỗi
gia đình khi ra ở riêng thì cất nhà ở sát ngay bên cạnh bố mẹ vợ trong cùng một
phum. Quá trình đó lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ kia đưa đến tình hình thành
viên trong một phum thường là bà con của nhau theo dòng nữ”. Tác giả Đỗ
Khắc Tụng thì cho rằng: "Mặc dù không có một quy định bắt buộc nào trong
phong tục hay quy tắc văn hóa, trong thực tế cách cư trú bên vợ thường phổ biến
hơn và được ưa thích hơn. Trong trường hợp này, hoặc đôi vợ chồng ở chung với
gia đình cha mẹ vợ trong một căn nhà, hoặc họ cất nhà ở gần quanh nhà cha mẹ
vợ nghĩa là trong chu vi của phum bên vợ. Đây là một tập tục cư trú còn đậm nét
của người Khơme ĐBSCL, và phải chăng đó là tàn dư của một chế độ cư trú
theo mẫu hệ xưa kia".
Theo truyền thống văn hóa nông nghiệp, gia đình người Khơme Sóc
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status