PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÍCH LƯƠNG II
SÁNG KIẾN
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 3
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÍCH LƯƠNG II GIẢI CÁC
BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN
Họ và tên
: DƯƠNG THỊ HUYỀN
Chức vụ
: GIÁO VIÊN
Sáng kiến thuộc lĩnh vực: CHUYÊN MÔN
TP. Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
MỤC LỤC
i
Tất cả...............................................................................................................................................15
ii
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1
các em cần phải xác định hướng đi chung trong hoạt động giải toán và việc dẫn
dắt các em vào đúng lối đi đó là vai trò không thể thiếu của người giáo viên.
Qua thực tế giảng dạy khối 3, tôi nhận thấy trong các kiến thức toán ở
chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức
khó khăn nhất đối với học sinh bởi vì đối với một số học sinh vốn từ, vốn
hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn
chế. Các em chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Học sinh
khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác. Nhiều khi
với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài
nhưng không trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy?
Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn.
Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lối
giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng, thiếu lô gic.
Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải vất vả hơn so với dạy các
em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số của bài toán. Việc đặt lời giải là một
khó khăn với các em học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu
được đề, chưa trả lời các câu hỏi của giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì?... Đến
khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải...
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số
đúng của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở. Đây là lí do mà tôi chọn sáng
kiến “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 TrườngTiểu học Tích Lương II
giải các bài toán có lời văn”, mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng
cao kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp
3 nói riêng. Để các em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn
khó ở các lớp trên.
II. MỤC ĐÍCH SÁNG KIẾN
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của học sinh
(Đây là phương pháp nghiên cứu chính)
2. Thời gian nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi thực hiện năm học 2015 - 2016. Trong thời
gian trên tôi đã thong qua Ban giám hiệu nhà trường, các giáo viên trong trường
đặc biệt là phụ huynh học sinh của lớp 3A để thu thập số liệu và thống kê số liệu
điều tra để hoàn thiện sang kiến.
V. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Nếu thực hiện tốt các biện pháp sư phạm thì có thể hình thành, phát triển và
bồi dưỡng năng lực, kỹ năng giải các bài toán có lời văn cho học sinh học tốt
3
môn Toán trong giai đoạn đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa hiện
hành. Phát triển được khả năng tư duy để học sinh lớp 3 thực hiện làm các bài
toán có lời văn.
VI. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
1. Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc gần gũi với học sinh và hiểu thực trạng giải quyết
làm các bài tập Toán có lời văn của học sinh lớp 3.
2. Đề ra phương hướng để nâng cao chất lượng làm các bài tập có hiệu quả hơn
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Để giúp giáo viên tiểu học hiểu rõ hơn về cơ sở của việc lựa chọn và sắp
xếp các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên, đồng thời giúp giáo
viên biết được định hướng của việc lựa chọn và tận dụng các phương pháp dạy
học đối với nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên. Tôi xin trình bày tóm
- Nên chú ý đến từng đối tượng học sinh mà có biện pháp dạy học phù hợp,
tránh áp đặt mà phải để cho các em làm quen từ từ với kiến thức đó.
- Nên chia học sinh theo từng đối tượng để truyền thụ.
- Trong khi giúp học sinh thực hành giáo viên cần cho học sinh:
+ Tự phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan trong bài học.
+ Tự chiếm lĩnh tri thức mới một cách chủ động.
+ Hướng dẫn học sinh cách phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới.
+ Thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức cũ đã học.
+ Thực hành, rèn luyện cách diễn đạt thông tin bằng lời, bằng kí hiệu.
- Trong khi thực hành luyện tập, giáo viên cần cần tổ chức và động viên
học sinh ở mọi mức độ đều phải tham gia tích cực vào hoạt động thực
hành, nhằm giúp mọi học sinh nhận ra được kiến thức mới và quy trình vận
dụng kiến thức đó vào thực tiễn trong các dạng bài tập khác nhau.
- Tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau trong mọi đối tượng học sinh.
- Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả học tập thực hành nhằm giúp
các em khắc sâu hơn kiến thức đó.
- Tập cho học sinh có thói quen không thoả mãn với bài làm của mình và tự
tìm ra cách giải quyết mới thuyết phục hơn những cách giải đã có.
2. Cơ sở thực tiễn
Sau khi đã nhận thức rõ được vai trò trách nhiệm của người giáo viên, cùng
5
với sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường. Năm học 2015 - 2016 tôi đã
được phân công trực tiếp giảng dạy lớp 3A. Ngay từ đầu năm học, lớp tôi cũng
như các lớp khác trong nhà trường đã được Ban giám hiệu kiểm tra khảo sát chất
lượng đầu năm hai môn Toán và Tiếng Việt. Kết quả cho thấy chất lượng môn
Toán của các em ở lớp tôi chưa cao. Cụ thể:
TSHS
24
và rất quan tâm đến học sinh.
Tập thể giáo viên trong trường luôn đoàn kết giúp đỡ nhau trong mọi lĩnh
vực. Các đồng chí luôn có ý thức tu dưỡng đạo đức tự học, tự rèn luyện để hoàn
thiện mình. Các em học sinh ngoan, lễ phép và sống rất tình cảm.
Nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời của phòng Giáo dục và Đào
tạo thành phố Thái Nguyên, sự quan tâm động viên của Đảng ủy, UBND phường
Tích Lương và các bậc cha mẹ học sinh.
b. Khó khăn:
6
Cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, thiếu thốn. Phần đa các em
học sinh đều là con nông thôn nên điều kiện kinh tế còn hạn hẹp.Việc học tập
của các em chưa được gia đình quan tâm đúng mức.
2. Đặc điểm chung của lớp 3A
Tổng số học sinh lớp 3A: 24 em. Nữ: 14 em. Dân tộc: 3 em
Năm học 2015 - 2016 tôi được phân công dạy lớp 3A. Phần lớn học sinh
lớp tôi là con nông thôn. Điều kiện kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên
các em chưa thực sự được bố mẹ quan tâm đúng mức. Một số phụ huynh không
quan tâm đến con cái, tất cả mọi việc học của con đều phó mặc cho nhà trường.
Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em. Nhất là với môn Toán một số
học sinh còn nhận thức chậm, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không
hiểu được đề bài toán nên làm cho có, dẫn đế kết quả của bài toán sai khá nhiều.
Để khắc phục và thực hiện được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình
hình học sinh lớp tôi ngay khi được phân công. Trước tiên tôi xem sổ chủ nhiệm năm
học trước đồng thời tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm học trước để nắm rõ
hơn. Sau đó tôi cho học sinh kiểm tra lại để phân loại từng đối tượng học sinh.
3. Thực trạng về giải toán có lời văn hiện nay đối với học sinh lớp 3
- Qua quá trình dạy học nhiều năm ở Tiểu học, được trực tiếp thâm nhập
vào quá trình học toán của học sinh nhất là học sinh lớp 3, tôi nhận thấy đa phần
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI CÁC BÀI TOÁN CÓ
LỜI VĂN
1. Các biện pháp giúp học sinh nắm vững phương pháp giải toán
a. Giáo viên và học sinh:
Đối với học sinh lớp 3, đặc biệt là một số em học sinh còn thụ động, rụt rè
trong giao tiếp. Chính vì vậy tôi đã đề ra một số biện pháp sau:
- Để các em mạnh dạn hơn tự tin khi phát biểu, trả lời câu hỏi người giáo
viên cần phải luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp.
- Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập. Đặc điểm chung của học sinh
tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế chê các em trong học tập, rèn
luyện. Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý từng học sinh mà cứ quá
khen sẽ không có tác dụng kích thích. Đối với những em chậm tiến bộ, thường
rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời hoặc lên bảng
làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dương ngay, để từ đó
8
các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Đối với những em học khá,
giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới khen. Chính sự
khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh sẽ có tác dụng khích lệ
các em trong học tập.
- Để giờ học có hiệu quả thì đòi hỏi tôi phải đổi mới phương pháp dạy học
tức là kiểu dạy học: “Lấy học sinh làm trung tâm”, hướng tập trung vào học
sinh, học sinh là người hoạt động tích cực tự tìm tòi khám phá để phát hiện ra
kiến thức mới. Thông qua các hoạt động các em sẽ lĩnh hội kiến thức và nhớ rất
lâu (nhớ kiến thức một cách khoa học chứ không học vẹt).
- Trong mỗi tiết học, tôi thường dành khoảng 3 - 4 phút để cho các em nghỉ
giải lao tại chỗ bằng cách tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi học tập vừa giúp
các em thoải mái sau giờ học căng thẳng và qua các trò chơi học tập tạo cơ hội cho
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Bước 2: Tóm tắt đề toán
Bước 3: Phân tích bài toán
Bước 4: Viết bài giải
Bước 5: Kiểm tra lời giải và kết quả bài giải
* Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề toán
- Học sinh đọc ít nhất ba lần, mục đích để giúp các em nắm được ba yếu tố
cơ bản. Những “dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn
số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các
dữ kiện với ẩn số.
Cần cho học sinh đọc kỹ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ
ngữ quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ
1
3
thông thường như: “gấp đôi”, “ ,
1
”, “tất cả”, “cả hai”, “nhiều hơn”, “ít hơn”.
4
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng
dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó. Phải tập cho học sinh
có thói quen tự tìm hiểu đề toán qua việc phân tích những điều đã cho và xác
định được những điều phải tìm.
Để làm được điều đó, cần hướng sự tập trung suy nghĩ của học sinh vào
những từ quan trọng của đề toán, từ nào chưa hiểu hết ý nghĩa thì phải tìm hiểu
10
Mẹ hái: … quả cam?
11
Ví dụ 2: Bài 3, 4 SGK Toán 3 trang 68
Bài 3: Có 45kg gạo, chia đều vào 9 túi. Hỏi mỗi túi có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?
Tóm tắt:
9 túi: 45kg gạo
1 túi: ... gạo?
Bài 4: Có 45kg gạo chia đều vào các túi, mỗi túi có 9kg gạo. Hỏi có bao nhiêu
túi gạo?
Tóm tắt:
9kg gạo: 1 túi
45kg gạo: … túi?
Ví dụ 3: Bài tập 2 SGK Toán trang 51
Một thùng đựng 24 lít mật ong, lấy ra
1
số lít mật ong đó. Hỏi trong thùng
3
còn lại bao nhiêu lít mật ong?
Tóm tắt:
Có: 24 lít
Lấy ra:
1
số lít mật ong.
3
b
+ Biểu thị a = một phần mấy của b, a =
3
của b
4
a
b
Ví dụ: Bài tập 3 trang 50 SGk Toán 3
Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg. Hỏi cả hai bao gạo
và ngô nặng tất cả bao nhiêu kg?
Baogạo
27kg
Bao ngô
5kg
c) Cách 3: Tóm tắt bài toán bằng lưu đồ:
?kg
Đây là cách tóm tắt ít được sử dụng hơn, tuy nhiên nó khá tiện lợi và hiệu
quả với một số bài toán suy ngược từ cuối như: Nếu gấp một số lên 8 lần rồi bớt
đi 5 thì được 43. Tìm số đó?
X
LỚP 3A
d) Cách 4: Tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn:
Thực chất đây là cách viết tắt các ý chính, chủ yếu của đề toán, phối hợp
với việc dùng một số dấu, kí hiệu mũi tên, dấu gạch ngang để biểu thị cái đã cho
và cái phải tìm.VD:
Bài toán: Một tổ thợ xây có 3 người, trong 5 ngày xây được 45 bờ kè. Nếu tổ có
1 người xây trong 5 ngày thì xây dược bao nhiêu bờ kè?
Có thể tóm tắt bài toán như sau:
3 người_______5 ngày_______45 bờ
1 người_______5 ngày_______ ? bờ
đ/ Cách 5: Tóm tắt đề toán bằng bảng kẻ ô:
Nếu bài toán có các nhóm đối tượng chung với nhau những đặc tính nào
đấy, hoặc các đại lượng có giá trị tương ứng với nhau một cách chặt chẽ. Lúc đó
ta có thể dùng bảng kẻ ô để xếp các đối tượng ấy vào cùng một hàng, rồi dựa
vào sự tính toán suy luận tính toán theo từng hàng hoặc từng cột để phối hợp lại
14
mà đi đến kết quả. Như vậy ta dễ dàng nhận thấy được những quan hệ chính
trong bài toán, nhờ đó mà giải toán được dễ dàng hơn.Ví dụ:
Bài toán: Lớp em có 35 học sinh, trong đó có 20 bạn trai. Chủ nhật vừa rồi có 8
bạn gái đi xem phim và có 11 bạn trai không đi xem phim. Hỏi đã có bao nhiêu
bạn không đi xem phim?
trai
Có đi xem phim
Không đi xem phim
11
Tất cả
20
15
+ Chọn “phép chia” nếu bài toán yêu cầu “tìm
1 1
, ...”. Giảm đi 2, 3, 4 lần…
3 4
+ Chọn “phép trừ” nếu bài toán cho “bớt đi” hoặc “tìm phần còn lại” hay là
“lấy ra”
+ Chọn “phép nhân” nếu bài toán cho có từ “gấp đôi, gấp 3...”.
+ Chọn “phép cộng” nếu bài toán cho có từ “nhiều hơn, cả hai”...
* Nhưng tôi cũng lưu ý cho học sinh có một số bài toán nhiều hơn nhưng
không thể làm phép cộng mà phải làm phép trừ như bài toán sau:
Ví dụ: Bài toán 3b SGK trang 12:
Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam. Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam
là bao nhiêu?
Ví dụ: Bài toán 4 SGK trang 18:
Thùng thứ nhất có 125l dầu, thùng thứ hai có 160l dầu. Hỏi thùng thứ hai
nhiều hơn thùng thứ nhất bao nhiều lít dầu?
* Tìm cách giải bài toán
- Chọn phép tính giải thích hợp
Ví dụ 1: Bài tập 2 SGK toán 3 trang 33
Đây là dạng toán gấp một số lên nhiều lần
Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi mẹ hái
được bao nhiêu quả cam?
Tóm tắt:
Con hái: 7 quả cam
Mẹ hái: gấp 5 lần số cam của con
Bài toán hỏi gì?
Muốn biết mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam gạo ta làm thế
nào? (lấy số gạo trong 9 túi chia cho 9 thì sẽ tìm được số
gạo trong mỗi túi) 45 : 9 = 5 (kg)
- Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài
toán để tìm ra phép tính, đó là từ (chia đều). Khắc sâu kiến thức cho học sinh khi
bài toán cho có từ “chia” thì chắc chắn có phép tính chia khi giải bài toán đó.
Ví dụ 3: Bài tập 4 SGK toán 3 trang 68
Có 45kg gạo chia đều vào các túi, mỗi túi có 9kg gạo. Hỏi có bao nhiêu túi gạo?
Tóm tắt:
9kg gạo: 1 túi
Sau khi tóm tắt bài toán xong tôi hướng dẫn học sinh như
sau: Trước tiên các em cho cô biết: Bài toán cho biết gì?
45kg gạo: … túi? Bài toán hỏi gì? Mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam gạo?
Muốn biết 45kg gạo đựng bao nhiêu túi ta làm thế nào ?
(lấy số gạo có tất cả chia cho số gạo trong mỗi túi)
45 : 9 = 5 (túi)
- Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán
để tìm ra phép tính, đó là từ (chia đều). Khắc sâu kiến thức cho học sinh khi bài
toán cho có từ “chia” thì chắc chắn có phép tính chia khi giải bài toán đó.
17
- Sau khi hướng dẫn học sinh giải xong hai bài toán này tôi cho học sinh so
sánh và nêu đặc điểm của hai bài toán trên.
Ví dụ 4: Bài tập 2 trang 51 Toán 3
tự các em giải được bài toán bằng hai
phép tính.
Còn lại: ... lít mật ong.
* Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán
để tìm ra phép tính, đó là từ (Lấy ra:
1
và từ còn lại). Khắc sâu kiến thức cho học
3
sinh khi bài toán cho có t ừ “Lấy ra:
1
” và từ “còn lại” thì chắc chắn có phép tính
3
chia khi “Lấy ra:
1
6bài toán
” và phép tính trừ tìm “còn lại ” khi giải
?lít đó.
3
Ví dụ 5: Bài 2 SGK Toán 3 trang 50
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ
nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
Tóm tắt:
Thùng thứ nhất:
Ví dụ: Bài toán hỏi: Hỏi nhà An còn lại bao nhiêu con gà?
Thì câu lời giải là: Nhà An còn lại số con gà là:
(Đây là đối với bài toán có một phép tính)
Cách 2: (Đối với bài toán có hai phép tính). Bài 2 SGK toán 3 trang 50
Thùng thứ nhất đựng 18l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ
nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?
Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải bằng cách nêu câu hỏi: “muốn biết cả
hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu? trước hết ta phải tìm gì?” để học sinh trả lời
miệng: “Tìm số lít dầu thùng thứ hai”. Rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải
(câu lời giải và phép tính).
Số lít dầu thùng thứ hai đựng là:
18 + 6 = 24 ( l )
19
Tóm lại: Tùy từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em
cách lựa chọn đặt câu lời giải cho phù hợp.
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt lời giải khác nhau.
Nên trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi để cho các em suy nghĩ,
thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp
với câu hỏi của bài toán đó.
Tuy nhiên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất (ngắn gọn, dễ
hiểu, phù hợp với các em) còn các cách kia giáo viên đều công nhận là đúng và
phù hợp nhưng cần lựa chọn để có câu lời giải hay nhất ghi vào bài giải.
* Trình bày bài giải
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết câu
lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa.
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,
đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện yêu cầu
này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn,
diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
- Thử lại kết quả vừa tính từ bước đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
- Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài
giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều
kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh.
- Bên cạnh việc hướng dẫn cách trình bày như trên, tôi cũng luôn luôn nhắc
nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ - viết đúng mẫu - đẹp. Việc kết hợp
giữa chữ viết đẹp, và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên
sự thành công trong quá trình học giải toán có lời văn của các em.
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một
yếu tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học
tập, mong muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, chắc hơn.
Vì chúng ta đều biết học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 3 nói riêng
có trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú. Đó là
tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy toán học nhưng các em cũng rất rễ bị phân
tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay quá tải. Hơn nữa cơ thể của các em còn
đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể hơn là các hệ cơ còn chưa hoàn thiện
vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể ngồi lâu trong giờ học
cũng như làm một việc gì đó trong một thời gian dài.
21
HỌC NHÓM
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau khi đã áp dụng các phương pháp dạy học như trên, tôi đã thật sự nhận
thấy sự tiến bộ ở học sinh của tôi trong việc giải toán. Với bất kì đối tượng học
sinh nào, khi đã được xác định đúng những bước đi như vậy, các em cũng sẽ
không còn lúng túng, ngỡ ngàng trước một bài toán giải mới.
vào 5 rổ. Hỏi mỗi rổ có bao nhiêu quả cam ?
Các em đã có sự tiến bộ rõ rệt. Kết quả thu được, cụ thể:
TSHS
24
Hoàn thành
SL
23
Chưa hoàn thành
SL
TL
1
4%
TL
96%
Trong đó có: 12 em giải và trình bày đúng bài giải, 7 em viết nhầm câu lời
giải và 4 em viết phép tính đúng nhưng tính kết quả chưa chính xác, 1 em do
tiếp thu bài chậm, không tìm hiểu kĩ bài, giải theo quán tính.
* Đến cuối năm học tôi ra một bài toán như sau: Một sợi dây dài 120m, lần đầu
cắt đi 35m, lần sau cắt đi gấp đôi lần đầu. Hỏi đoạn dây đã cắt đi bao nhiêu mét?
* Kết quả thu được là:
TSHS
24
Hoàn thành
SL
24