TÍCH H Ợ
P CÁC N Ộ
I DUNG D Ạ
YHỌ
C QUA M Ộ
T VÍ D ỤTH Ự
C TI Ễ
N
TS. Phạm Thị Kim Anh
Viện nghiên cứu sư phạm-ĐHSPHN
(Bài đã đăng Tạp chí Dạy&học ngày nay, tháng 6.2016, tr15)
1.Đặt vấn đề
Tích hợp là một trong những quan điểm đã trở thành xu
thế phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều
nước trên thế giới. Đây cũng là một trong những quan điểm chỉ
đạo trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông Việt
Nam sau năm 2015. Thời gian qua đã có nhiều đề tài các cấp
cũng như các hội thảo ở cấp quốc gia nghiên cứu và bàn luận về
những vấn đề lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp; về kinh
nghiệm dạy học tích hợp của các nước trên thế giới; về các cách,
hình thức, mức độ tích hợp; về công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo
viên (GV) để dạy tích hợp...Tuy nhiên, việc biên soạn các môn
học, các chủ đề theo hướng tích hợp như thế nào? Quy trình, kỹ
thuật, cách thể hiện một bài tích hợp ra sao vẫn còn là một bài
toán vô cùng nan giải và đầy thách thức với cả những người biên
soạn và người dạy. Lý luận đã chỉ ra rất nhiều mức độ, cách thức,
hình thức tích hợp, nhưng mới chỉ trên phương diện lý thuyết. Vì
thế vẫn có những nhầm tưởng tích hợp là phép “cộng” giản đơn
nhiều môn học và còn khá mơ hồ về cách thiết kế các chủ đề/nội
dung tích hợp.
ạ”. Nhà vua ngạc nhiên: “Thế thì ít quá, ta cho ngươi xin thêm
đó.” Rai thưa: “Cảm ơn bệ hạ. Vậy thì cho con xin số thóc ngày
hôm sau gấp đôi số thóc ngày hôm trước trong 30 ngày nhé.” Nhà
vua đồng ý ngay.
Ngày đầu tiên Rai nhận được một gam thóc.
Ngày thứ 2, rai nhận 2 gam thóc.
Ngày thứ 3, Rai nhận 4 gam thóc.
Ngày thứ 4,
Ngày thứ 5…
Ngày thứ 30, thóc trong kho cạn sạch.
Lúc này, nhà vua mới hiểu ra cô bé nghèo kia đã dạy cho ông một
bài học. Kể từ đó, nhà vua mới biết yêu thương dân chúng.
Và dưới đây là số thóc mà nhà vua phải thưởng cho Rai:
Ngày
thứ Ngày
thứ Ngày
1
2
3
1g
2g
Ngày
thứ Ngày
thứ Ngày
thứ Ngày
11
12
13
14
1024 g
2048 g
4096 g
8192 g
Ngày
thứ Ngày
thứ Ngày
22
23
24
1048576
2097152
4164304
8388608 g
g
g
g
thứ Ngày
thứ Ngày
Ngày
26
27
của Demi. Câu chuyện đã được giới thiệu trong tập tài liệu tham
khảo dành cho GV “Hoạt động và trò chơi môn Toán lớp 4. Vụ GD
Tiểu học-Bộ GD&ĐT xuất bản 2006).
Dạy về một bài toán, nhưng lại thông qua một câu chuyện rất hấp
dẫn và đầy tính nhân văn. Hình thức trình bày trong câu chuyện
cũng rất sinh động, đan xen nhiều hình ảnh bằng tranh vẽ: Nhà
vua, dân chúng nộp thóc, đàn voi chở thóc, cô bé Rai đi nhặt
thóc…
Ví dụ trên đây cho chúng ta thấy sự tích hợp hài hòa của nhiều
kiến thức từ các môn học: Truyện kể; lịch sử; ngôn ngữ văn học;
mỹ thuật, giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục giá trị sống và toán
học… Chỉ qua một câu chuyện nhẹ nhàng, hấp dẫn mà ở đó HS
học được rất nhiều kiến thức cùng nhiều giá trị sống. GV có thể
khai thác ở trong đó nhiều giá trị nội dung để giảng dạy, giáo dục
HS. Đặc biệt, việc dạy toán đã làm tăng sự hứng thú, trở nên có ý
nghĩa và không còn là những con số khô cứng, xa rời cuộc sống
của các em.
Chúng ta còn có thể tìm ra nhiều VD khác trong các tài liệu của
nước ngoài cũng như của Việt Nam ở bậc học mầm non, tiểu học
về cách biên soạn các chủ đề tích hợp, nhưng qua ví dụ này đã gợi
mở ra những cách để chúng ta có thể xây dựng, thiết kế các chủ
đề /chương/ bài trong các môn học ở bậc THCS và THPT.
b. Khó khăn, thách thức và những yêu cầu trong việc xây
dựng các nội dung tích hợp trong chương trình giáo dục
phổ thông hiện nay
Do độ khó và độ sâu rộng của kiến thức ở các bậc học THCS, THPT
nên việc tích hợp các nội dung kiến thức rất khó khăn và đòi hỏi
những người biên soạn phải có một trình độ khoa học sư phạm rất
thức mà giáo viên đưa ra, coi nó là chân lý tuyệt đối mà học sinh
dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên sẽ phải tìm kiếm các tri
thức từ nhiều nguồn khác nhau và biến nó thành tư duy của mình.
Có thể nói giáo dục môn Nghiên cứu Xã hội trong giai đoạn này đã
chuyển từ “truyền đạt tri thức” sang hình thành và phát triển năng
lực nhận thức khoa học cho học sinh.
3. Kết luận
Để tiến tới việc biên soạn được các môn học/chủ đề tích hợp trong
chương trình-SGK mới sau năm 2015, ngoài việc tiếp thu những
kinh nghiệm của nước ngoài, chúng ta cần xây dựng được một đội
ngũ chuyên gia và các tác giả SGK rất am tường về dạy học tích
hợp và cần được thử nghiệm, lấy ý kiến rộng rãi trước khi đưa vào
thực
hiện.
Tài liệu tham khảo chính
1-Dạy học tích hợp và khả năng áp dụng vào thực tiễn giáo dục
Việt Nam-Kỷ yếu Hội thảo khoa học-Viện nghiên cứu sư phạm
tháng 12/2008.
2-Dạy học tích hợp, phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạywww.hvct.edu.vn
3.Xavier Roegiers. Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để
phát triển các năng lực tích hợp ở nhà trường? Nguyên bản tiếng
Pháp - người dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn Ngọc Nhị. NXB giáo
dục 1996.
4.Vụ GD Tiểu học-Bộ GD&ĐT - One Grain of Rice” của Demi. tài
liệu tham khảo dành cho GV “Hoạt động và trò chơi môn Toán lớp
4. Vụ GD Tiểu học-Bộ GD&ĐT xuất bản 2006.
đạo này.
Ở một số nước Trung Á, hệ tư tưởng chủ đạo là đạo Hồi. Điều này
đã ảnh hưởng quyết định đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục,
mà rõ nét nhất là việc ai được quyền tham gia giáo dục, tham gia
ở mức độ nào, và nhà trường sẽ dạy những gì, dạy như thế nào để
phù hợp với giáo lý của Hồi giáo, v.v.
Còn tầng nền nổi trên nhất thì có thể nhìn nắm, sờ mó được. Đó
chính là hệ thống cơ sở vật chất của giáo dục, như trường sở, thư
viện, thiết bị dạy và học, tài liệu tham khảo, thiết bị nghiên cứu
v.v. Nếu hệ thống cơ sở vật chất này càng đầy đủ, hiện đại, thì các
hoạt động giáo dục sẽ càng phong phú, hiệu quả. Đây là tầng có
thể đo đạc định lượng và so sánh được.
Phía trên nền móng là bốn trụ cột của giáo dục. Đó là bốn thành tố
liên quan mật thiết với nhau trong mọi hoạt động của giáo
dục: Dạy – Chương trình - Học - Nghiên cứu. Trong đó, Dạy là hoạt
động chính của đội ngũ giáo viên/giảng viên; Học là hoạt động
chính của học viên (học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập
sinh...); Chương trình là nội dung giảng dạy và đào tạo được người
dạy sử dụng để truyền đạt tri thức, huấn luyện kỹ năng cho người
học; Nghiên cứu là hoạt động tìm kiếm, khai phá tri thức, thường
gắn liền với các hoạt động giáo dục ở đại học, nhằm không chỉ làm
giàu thêm kho tàng tri thức, mà còn thông qua đó, giúp hoạt động
đào tạo được hiệu quả và thực chất hơn.
Trên cùng, tức nóc của tòa nhà là tầm nhìn về giáo dục được xác
lập cho cả hệ thống, hoặc cho từng cơ sở giáo dục, hay cá nhân cụ
thể, tùy vào từng trường hợp cụ thể. Nhưng nếu xét tổng quát thì
tầm nhìn này trước hết là của nhà nước – chủ thể của các quyết
sách lớn về giáo dục, sau đó mới đến tầm nhìn của các cơ sở giáo
nhất, thương mại hóa giáo dục có thể hiểu là hoạt động kinh
doanh giáo dục để thu lợi.
Với sự thống nhất sơ bộ đó, chúng ta sẽ đi vào từng cấu phần cụ
thể của ngôi nhà giáo dục, xem phần nào có thể mang ra để kinh
doanh thu lợi được.
Phần nền móng của giáo dục, bao gồm: Văn hóa đại chúng, Hệ tư
tưởng chủ đạo, Cơ sở vật chất. Trong số ba yếu tố này thì rõ ràng
là về lý thuyết: Văn hóa đại chúng chỉ là phần chìm có tác động
điều phối ngầm các hoạt động giáo dục, chứ không phải là dịch vụ
có thể trao đổi để thương mại hóa. Việc thương mại hóa văn hóa
và các hoạt động văn hóa đại chúng là việc của các công ty văn
hóa, chứ không phải việc của các cơ sở giáo dục. Hệ tư tưởng chủ
đạo không thể thương mại hóa, vì đó là nhận thức chung, có được
do tự nguyện hay áp đặt, và không thể định lượng và không đáp
ứng nhu cầu giáo dục trực tiếp nào để có thể thương mại hóa
được. Cơ sở vật chất thì chỉ có thể đầu tư để phục vụ việc giảng
dạy và nghiên cứu chứ không thể mua bán trao đổi để sinh lợi
được. Nếu có, thì đó chỉ có thể là cho thuê mướn mặt bằng, thuê
mướn máy móc thiết bị để thu lợi riêng, một biến thái phạm pháp
chứ không phải là một hoạt động thuộc về giáo dục.
Phần bốn trụ cột của ngôi nhà giáo dục, đó là: Dạy – Chương trình
– Học – Nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, chỉ có một thành phần có
thể thương mại hóa một phần, đó là nghiên cứu. Còn ba thành
phần còn lại, đó là Dạy, Học và Chương trình thì không thể, hoặc
nếu cố tình thì cũng rất khiên cưỡng và hạn chế. Lý do: Dạy là
hoạt động được trả lương của giáo viên và giảng viên. Việc này
nên được coi là lao động theo hợp đồng như các loại hình lao động
khác, chứ không thể là sự mua bán trao đổi như trong các hoạt
động thương mại, vì với người giáo viên, anh ta không có quyền
bán các sản phẩm mình làm ra, như bài giảng, hay điểm số, một
mò vô vụ lợi của trí tuệ. Khi tiến hành các nghiên cứu cơ bản,
không ai đặt ra câu hỏi “để làm gì?; sẽ bán được bao nhiêu tiền?”,
vì nếu có đặt ra thì cũng không ai có thể trả lời được câu hỏi này.
Trên thực tế, có những nghiên cứu cơ bản chỉ tìm thấy ứng dụng
của mình sau đó hàng trăm năm. Do đó, nghiên cứu cơ bản không
thể thương mại hóa ngay được. Nói cách khác, việc thương mại
hóa không đặt ra với các nghiên cứu cơ bản. Sản phẩm của nghiên
cứu cơ bản thường được coi như một dạng hàng hóa công, nên
đầu tư cho cơ bản được coi là đầu tư công, cần thiết cho sự phát
triển và phồn vinh lâu dài của xã hội.
Ngược lại, nghiên cứu ứng dụng có mục đích nhắm đến một vấn
đề công nghệ cụ thể, thường là một giải pháp công nghệ hay một
sản phẩm ứng dụng thực tế. Hình dung về tiềm năng ứng dụng
của các nghiên cứu này đã được chỉ rõ trong đề cương nghiên cứu.
Kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể được thương mại hóa và
mang lại lợi nhuận cho nhà nghiên cứu hoặc chủ đầu tư. Do đó,
kết quả của nghiên cứu ứng dụng, trong nhiều trường hợp chỉ
được báo cáo nội bộ, hoặc đăng ký bản quyền để được bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu đến lợi
nhuận là một chuỗi nhiều hoạt động tổ chức và kinh doanh phức
tạp. Do đó, khi một giải pháp công nghệ hay sản phẩm ứng dụng
nào đó có thể thương mại hóa, thì chủ sở hữu sẽ lập một công ty
riêng để thương mại hóa nó và tách nó ra khỏi môi trường gốc để
đi vào thị trường. Đó là mô hình các công ty spin-off rất phổ biến
trong các đại học Anh, Mỹ.
Điều đáng lưu ý là sau khi các nghiên cứu ứng dụng, một phần của
hoạt động giáo dục đại học, được chuyển sang thương mại hóa bởi
các công ty spin-off, thì các công ty này cũng gần như tách rời
thương mại hóa, nhưng xét trong tổng thể thì giáo dục vẫn là một
loại hàng hóa hay dịch vụ đặc biệt, nên vẫn có người sẵn sàng trả
giá. Vì thế vẫn có thể thương mại hóa giáo dục được. Đây là một
lập luận có tính thực tế, vậy xin trả lời trong các bài sau.
Tóm tắt: Thông qua một ví dụ cụ thể về cách xây dựng và giảng
dạy tích hợp trong “Hoạt động và trò chơi môn Toán lớp 4”, bài
báo đưa ra một cách nhìn cụ thể, rõ ràng về việc dạy học tích hợp
trong nhà trường phổ thông. Từ đó nêu lên một số khó khăn,
thách thức và những yêu cầu trong việc xây dựng các nội dung
tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay
Từ khóa: Tích hợp; xây dựng nội dung tích hợp, dạy học tích hợp.
INTEGRATED TEACHING CONTENTS IN A PRACTICAL EXAMPLE
Abstract: By building the content and practicing the integrated
teaching for “activities and games in the 4th grade math”, this
paper gives a specific view on the integrated teaching in the high
school.
Thereby
it
points
out
difficulties,