NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PGS.TS. Đào Thị Oanh
TS. Lê Mỹ Dung
Viện Nghiên cứu Sư phạm-Trường ĐHSP Hà Nội
Tóm tắt: Nội dung bài báo đề cập đến thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học
của giảng viên đại học sư phạm được thể hiện ở 3 mặt gồm: “Kỹ năng nghiên cứu
khoa học giáo dục”, “Kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, về nghiên cứu khoa
học” và “Kĩ năng phổ biến/ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục vào
giảng dạy/thực tiễn”. Trên cơ sở thực trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất một số
kiến nghị về giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho giảng
viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học sư
phạm. Đây là một trong những nội dung nghiên cứu thuộc Chương trình Khoa học
Giáo dục cấp Bộ “Đổi mớiđào tạo giáo viên trong trường Đại học Sư phạm đáp
ứng yêu cầu giáo dục phổ thông thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế”.
1. Mở đầu
- Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia đã ngày càng được khẳng
định khiến cho nhiều nước trên thế giới đang nỗ lực thực hiện các cuộc cải cách sâu
rộng trong lĩnh vực giáo dục dựa trên kết quả những nghiên cứu nghiêm túc, quy mô về
khoa học giáo dục (KHGD). Nghiên cứu khoa học giáo dục (NCKHGD) là một nhu
cầu khẩn thiết để xây dựng cơ sở lý luận dẫn đường cho cải cách giáo dục, cho
những quyết sách về giáo dục. Thiếu NCKHGD sẽ không tránh khỏi cách làm “thử
và sai” mà nhiều khi cái giá phải trả không thể tính bằng tiền. Tri thức về khoa học
giáo dục không chỉ cần cho các nhà lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách, mà
còn cần cho tất cả những người làm công tác quản lý giáo dục, cần cho từng giảng
viên (GV) trong trường đại học sư phạm (ĐHSP), vì chính họ là những người trong
thực tế sẽ xây dựng nên hệ thống giáo dục nước nhà.
Kết quả phân tích thống kê mô tả và thống kê suy luận dựa trên phần mềm SPSS 16.0
gồm giá trị trung bình cộng đạt được ở mỗi biểu hiện trên toàn bộ mẫu khách thể, độ
lệch chuẩn, hệ số khác biệt và hệ số tương quan giữa các các kết quả thu được bằng
các phương pháp nêu trên sẽ cung cấp bức tranh sơ bộ về một số khía cạnh trong năng
lực NCKHGD của GV ĐHSP hiện nay.
- Mẫu khách thể nghiên cứu gồm: 416 GV ở độ tuổi chủ yếu từ 3050; 600 sinh viên của các khoa: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí (Sử - Địa), Toán, Vật lí,
Hóa học, Sinh học (Sinh - Hóa), Tâm lí giáo dục thuộc các trường: ĐHSP Hà Nội,
ĐHSP Thái Nguyên, ĐHSP Tây Bắc, ĐHSP - ĐH Đà Nẵng, ĐHSP t/p Hồ Chí
Minh, Khoa sư phạm – ĐH Cần Thơ. Tham gia vào mẫu nghiên cứu còn có cán bộ
quản lí cấp Trường, cấp Khoa và Bộ môn.
2.2. Kết quả nghiên cứu
2.2.1. Cơ sở lí luận về năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại
học sư phạm
“Khoa học giáo dục” là một thuật ngữ được nhắc đến khá nhiều trong thời gian
gần đây trong các tài liệu chuyên môn, các văn bản của Ngành, trên các phương
tiện thông tin đại chúng, song việc định nghĩa nó dường như lại quá ít ỏi. Phần lớn
các bài viết chỉ nêu ra những khía cạnh/nội dung nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa
học này. Vì vậy, đề tài sẽ xây dựng cho mình một “khái niệm để làm việc” để từ đó
có thể thao tác hóa, triển khai đánh giá thực tiễn.
Là một lĩnh vực khoa học, giống như các lĩnh vực khoa học khác, KHGD cũng
có đối tượng nghiên cứu; hệ thống phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
cụ thể; các kĩ thuật, phương tiện, thủ thuật…nghiên cứu mang tính đặc thù của
mình. Do đó, để nghiên cứu KHGD, nhất định người nghiên cứu phải có được
những kiến thức, kĩ năng nền tảng của KHGD, bên cạnh những kiến thức, kĩ năng
thuộc lĩnh vực chuyên ngành sâu với tư cách là một cấu phần của KHGD. Có thể
đưa ra một cách hiểu như sau về nghiên cứu KHGD:
“Nghiên cứu KHGD” là một hoạt động nghiên cứu khoa học đặc thù trong lĩnh
vực giáo dục. Đó là một hoạt động có tính hệ thống, xuất phát từ những bất cập
- Giúp cập nhật kết quả nghiên cứu của bản thân và của đồng nghiệp vào làm mới
bài giảng, từ đó làm tăng chất lượng bài giảng;
- Rèn luyện ở bản thân GV về phương pháp đánh giá những vấn đề từ thực tiễn
giáo dục được toàn diện hơn;
- Đảm bảo để GV tự tin hơn khi hướng dẫn SV trong nghiên cứu các vấn đề về giáo
dục;
- Biết cách thúc đẩy SV tìm tòi khám phá cái mới, khơi dậy tiềm năng sáng tạo
trong SV;
- Biết cách hướng dẫn SV tự học, tập sự làm NCKHGD;
- Rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho SV, đưa dần SV vào môi trường khoa học,
nắm bắt kịp thời những tiến bộ của nghề nghiệp;
- Giúp GV có cơ hội thăng tiến nhanh hơn trong nghề nghiệp như tham gia vào các
vị trí lãnh đạo, hoặc nâng cao trình độ học vấn;
- Góp phần nâng cao uy tín của nhà trường, của khoa/bộ môn;
- Góp phần đưa ra những kiến nghị đối với Bộ GD&ĐT nhằm đổi mới những vấn đề
liên quan đến giảng dạy trong trường ĐHSP;
- Góp phần đề xuất với Nhà Nước những chính sách phù hợp đối với giáo dục của
đất nước…
Có thể thấy, nhận thức về lợi ích của năng lực NCKHGD không chỉ gắn với cá
nhân GV mà rộng hơn, còn gắn với sự phát triển của nhà trường, của ngành và của
xã hội.Đây là biểu hiện của nhận thức khá đầy đủ, toàn diện, sâu sắc, là nền tảng
tốt để bồi dưỡng nâng cao năng lực này cho GV. Tuy nhiên, con số gần 1/3 GV
trong mẫu nghiên cứu chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng
của NCKHGD đối với công tác đào tạo giáo viên trong trường ĐHSP đáng để nhà
quản lí phải suy nghĩ.
b/ Biểu hiện hành động của GV trong năng lực NCKHGD
Kết quả đánh giá chung về năng lực NCKHGD của GV được thể hiện trong biểu
đồ sau:
giảng dạy
1,113
2
Xây dựng đề cương nghiên cứu có sức thuyết phục
3,56
1,155
3
Tập hợp lực lượng nghiên cứu phù hợp
3,37
1,198
4
Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu phục vụ nghiên cứu đề
3,80
tài
1,128
5
Sử dụng được các kỹ thuật phân tích định lượng và
3,30
định tính
1,209
10
Viết dự án xin tài trợ có sức thuyết phục
2,46
1,283
11
Viết được báo cáo khoa học tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
3,38
1,251
12
Hướng dẫn phương pháp NCKH cho SV
2,92
1,575
Tổ chức triển khai NCKHGD phù hợp điều kiện, hoàn
3,27
cảnh
1,167
18
Vận dụng được các tri thức về phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu cụ thể của KHGD vào triển 3,57
khai đề tài
1,250
19
Xác định đúng phạm vi, giới của đề tài nghiên cứu
3,16
1,296
20
Vận dụng được các tri thức về Tâm lí học Sư phạm vào
3,04
giải thích kết quả NCKHGD
1,276
1
Có đề tài nghiên cứu về khoa học cơ bản thuộc
chuyên ngành đang giảng dạy
2
Hướng dẫn SV làm đề tài NCKH
3
Hướng dẫn giáo viên phổ thông viết sáng kiến
kinh nghiệm
Điểm
Độ
TB cộng lệch chuẩn
3,65
1,240
3,67
1,306
2,30
1,469
1
Kĩ năng phổ biến, ứng dụng kết quả NCKHGD
Điểm
Độ
vào giảng dạy và thực tiễn
TB cộng
lệch chuẩn
Có bài đăng ở tạp chí chuyên ngành KHGD nước
2,13
1,561
2,82
1,642
3
Có báo cáo hội thảo khoa học ở nước ngoài về KHGD 1,77
1,346
8
Cải tiến phương pháp dạy học dựa trên kết quả
2,84
1,490
2,87
1,394
3,12
1,337
tài liệu bồi dưỡng/tập huấn nâng cao năng lực dạy học 2,82
1,368
ngoài
2
Có bài đăng ở tạp chí chuyên ngành KHGD trong
nước
NCKHGD
9
nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau”; “Khai thác được tư liệu từ các trang web có
liên quan đến đề tài nghiên cứu”, “Lựa chọn phương pháp NCKH phù hợp nội
dung đề tài”, “Hướng dẫn SV làm đề tài NCKH”. Tuy nhiên, điểm đạt được chỉ
nằm ở mức trên Trung bình và có độ phân tán khá cao. Không có nội dung nào đạt
điểm 4 (tương đương mức “Khá”).
- GV tự đánh giá thấp nhất ở các nội dung liên quan đến phổ biến kết quả nghiên
cứu ra nước ngoài và trên phương tiện thông tin đại chúng ở trong nước. Điểm số
đạt được ở mức dưới Trung bình và độ phân tán cao (xấp xỉ 2 đ).
- Đối với các nội dung còn lại, GV tự đánh giá thực hiện chưa tốt và chưa hiệu
quả, với mức điểm đạt được nằm ở mức từ trên 2đ đến trên 3đ.
Nhìn chung, GV ĐHSP tự đánh giá còn có ít “kinh nghiệm thực tiễn về giáo
dục, về NCKHGD”. Số GV “tham gia các đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ/ Bộ
trọng điểm, hướng dẫn giáo viên phổ thông viết sáng kiến kinh nghiệm” còn khiêm
tốn. Trong số các GV được nghiên cứu, chỉ có 11,7% GV tham gia nghiên cứu đề
tài cấp Nhà nước, 22,4% GV có nghiên cứu đề tài cấp Bộ và cấp Trường. Thực tế
này có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về phía chủ quan có thể nhận thấy là
năng lực NCKHGD của GV còn nhiều hạn chế; còn về khách quan là cơ chế đối
với NCKH nói chung và NCKHGD nói riêng ở các trường ĐHSP còn nhiều bất
cập, làm hạn chế sự tiếp cận của các GV đối với các đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước.
Ngay cả những đề tài nghiên cứu cấp Trường nay cũng bị hạn chế về số lượng nên
hằng năm không có nhiều GV được tham gia NCKH. Điều này cũng phần nào đúng
với vấn đề xuất bản các kết quả NCKHGD. Số liệu thu được cho thấy, số lượng GV
có kết quả NCKHGD công bố ở các hình thức khác nhau còn rất ít, đặc biệt là số
lượng GV có các ấn phẩm xuất bản ở nước ngoài. Trong khi 19,5% GV có bài báo
khoa học cơ bản thì chỉ có 5,7% GV có bài báo KHGD đăng ở tạp chí nước ngoài.
Số lượng GV là tác giả và đồng tác giả của ấn phẩm sách và giáo trình ở Việt Nam
chiếm khoảng 2,3%-8,0% đối với khoa học cơ bản và khoảng 2,3%-8,0% đối với
KHGD. Hãy xem kết quả ở bảng dưới đây:
3
Bài báo đăng tạp chí chuyên ngành nước ngoài
19,5
5,7
4
Bài báo đăng tạp chí chuyên ngành trong nước
33,3
16,1
5
Báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị quốc tế
20,7
10,3
6
Là tác giả sách chuyên khảo xuất bản tại Việt
4,6
Nam
11
32,2
28,7
Sách đã được chấp nhận in nhưng chưa xuất bản
5,7
6,9
Nhìn chung, số lượng GV kết hợp nghiên cứu đề tài khoa học của mình với họat
động hướng dẫn SV, học viên cao học, NCS làm khóa luận tốt nghiệp, luận văn,
luận án ở lĩnh vực khoa học cơ bản cao hơn so với ở lĩnh vực KHGD. Tuy nhiên, số
lượng GV kết hợp nghiên cứu đề tài khoa học còn khá khiêm tốn, đặc biệt với
“hướng dẫn NCS làm luận án tiến sĩ” (chỉ chiếm 5,7%), “Hướng dẫn học viên cao
học làm luận văn thạc sĩ” (12,6% và 8,0%) và với các hình thức khác có số lượng
GV ở mức cao hơn nhưng đều chiếm dưới 50% như dưới đây:
Bảng 5: Kết quả GV kết hợp NCKH với hướng dẫn, cố vấn cho SV, học viên cao
học, NCS
TT
Loại hình hoạt động
KH cơ bản
KH giáo dục
Cố vấn đề tài NCKH độc lập của SV/học viên cao
học
5
Hướng dẫn SV làm tiểu luận môn học
35,6
43,7
33,3
46,0
Một vài kết quả hồi cứu tư liệu và khảo sát thực tiễn gần đây ở một số trường
ĐHSP khác trong nước cũng cho thấy bức tranh tương tự. Tuy nhiên, có sự khác
nhau đáng kể trong kết quả thu được giữa các trường, trong đó, kết quả ở những
trường ĐHSP có lịch sử lâu dài trong đào tạo giáo viên là khả quan hơn. Trong đó
có những trường có tỉ lệ các đề tài nghiên cứu về KHGD chiếm tới 50% trong tổng
số các đề tài trong vòng 3 năm trở lại đây. Nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, việc
quan tâm triển khai các nghiên cứu về KHGD giúp GV tự tin, bản lĩnh hơn trong
việc xác định giá trị của bản thân trước yêu cầu ngày càng cao đối với nghề dạy
học. Những NCKHGD trong trường ĐHSP sẽ trực tiếp góp phần quan trọng vào
việc đào tạo giáo viên chất lượng cao.
Số liệu thu được về năng lực NCKHGD của GV đã được xem xét, so sánh với
kết quả thu được của chính họ ở năng lực NVSP và quản lí đào tạo nhằm đánh giá
đầy đủ hơn về hoạt động nghề nghiệp của GV ĐHSP. Nhìn chung, về NCKHGD,
nhận thức của GV là khá toàn diện và đầy đủ, nhưng thực tế triển khai hoạt động
- Hoàn thiện cơ chế chính sách đối với vấn đề NCKHGD của GV ĐHSP theo hướng
khích lệ, tạo động lực để GV nâng cao năng lực NCKHGD.
* Về phía Trường ĐHSP/Khoa sư phạm:
- Có cơ chế, chính sách cụ thể để động viên, khuyến khích hỗ trợ GV đi học cao
học, tiến sĩ theo lĩnh vực KHGD, tạo môi trường thuận lợi để GV phát huy tiềm
năng nghiên cứu về KHGD. Tổ chức xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh về
KHGD, làm nòng cốt để phát triển năng lực NCKHGD trong GV của trường mình.
- Thường xuyên tổ chức đánh giá chất lượng GV để sàng lọc những người không đủ
tiêu chuẩn, đồng thời khen thưởng xứng đáng và kịp thời đối với những GV có
nhiều công trình nghiên cứu về KHGD. Ràng buộc chế độ trách nhiệm trong giảng
dạy và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học đối với giảng viên.
- Mở rộng giao lưu khoa học giữa GV các trường ĐHSP dưới nhiều hình thức khác
nhau: hội thảo khoa học, phối hợp tham gia các đề tài nghiên cứu,... để GV có thể
trao đổi ý tưởng khoa học, học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu, cùng nhau đề xuất kiến
nghị khoa học, tăng cường công bố kết quả NCKHGD ở trong nước và nước
ngoài. Các hội nghị khoa học, các đề tài nghiên cứu phải được tiến hành nghiêm
túc, có chất lượng cao, bảo đảm tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
- Cải tiến việc tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp khá giỏi, có công trình nghiên cứu
khoa học giữ lại trường.
- Tăng cường trao đổi chuyên gia có trình độ NCKHGD giữa các trường ĐHSP với
tư cách là GV thỉnh giảng.
* Về phía giảng viên:
- Quan tâm cập nhật kết quả những công trình NCKHGD có liên quan vào nội dung
nghiên cứu, giảng dạy của bản thân hòng làm cho bài giảng trở nên phong phú, sinh
động, mới mẻ hơn.
- Tích cực tham gia vào các đề tài nghiên cứu về KHGD thuộc các cấp
(Trường/Khoa/Bộ/Nhà nước) để được rèn luyện nâng cao kiến thức, kĩ năng
NCKHGD của bản thân, đồng thời thu hút SV vào các đề tài nghiên cứu của GV.