Phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên nghành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS. ĐINH DŨNG SỸ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT

DT:


Ngân sách địa phương

QT:

Quyết toán

TNCN:

Thu nhập cá nhân

TNDN:

Thu nhập doanh nghiệp

UBND:

Ủy ban nhân dân

VAT:

Value Added Tax
Thuế giá trị gia tăng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... .1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN CẤP
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG ..................................................... .6
1.1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách địa phương ................................... .6

ương và địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân
sách nhà nước; giúp cho việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp
quản lý ngân sách, đảm bảo giải quyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý của nhà nước.
Tuy nhiên, hiện nay, một tồn tại được quan tâm nhiều trong phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước là sự bất hợp lý của việc phân chia thẩm quyền thu và nhiệm vụ chi
giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, cũng như phân chia thẩm
quyền thu, chi giữa các cấp của ngân sách địa phương: chẳng hạn các khoản thu
ngân sách địa phương được hưởng 100% đa số là các khoản thu có tiềm năng thấp,
còn các khoản thu có tiềm năng cao lại do trung ương thu; hoặc tính thiếu ổn định
của nhiều khoản thu ngân sách địa phương; tính thứ bậc, lồng ghép trong hệ thống
ngân sách; quy định về chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ còn chống chéo,
chưa rõ ràng. Điều đó chưa tạo ra sự thúc đẩy cho việc phát triển hài hòa cả kinh tế
và xã hội của các địa phương để thực hiện mục tiêu bảo đảm tính ổn định, công
bằng và bền vững.
Để khắc phục các tồn tại, bất cập của Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm
2002, ngày 25/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật
Ngân sách nhà nước (sửa đổi). Đây là đạo luật quan trọng tạo bước ngoặt mới trong
quản lý NSNN theo hành lang pháp lý mới đầy đủ và đồng bộ hơn, phù hợp với tình
hình thực tế hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến
trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại. Nội dung về phân cấp quản lý

1


NSNN phù hợp với phân cấp kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền cũng được
rà soát để phù hợp với quy định hiện hành, đồng bộ với Luật Tổ chức chính phủ và
Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp
thứ 9.
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, quản lý NSNN đã
có những đổi mới và mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng. Thực tiễn đời

phương theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Tỉnh Thái Nguyên”. Từ
đó, thông qua thực tiễn để làm sáng tỏ những mặt được và chưa được của việc quy
định phân cấp quản lý ngân sách địa phương, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới,
phát huy tối đa hiệu quả của ngân sách nhà nước đồng thời phát huy tính chủ động
sáng tạo, tự chủ của chính quyền địa phương trong việc điều chỉnh nền kinh tế theo
những mục tiêu đã đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói chung và phân cấp quản lý
ngân sách địa phương nói riêng là một vấn đề quan trọng, luôn được quan tâm
nghiên cứu:
- Các văn bản quy phạm pháp luật về ngân sách nhà nước và quản lý ngân
sách nhà nước:
Để chuẩn bị các điều kiện thi hành Luật Ngân sách năm 2015, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật ngân sách nhà nước năm 2015; Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã
ban hành một số Thông tư số: 342/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP;
- Những công trình nghiên cứu liên quan đến phân cấp quản lý ngân sách địa
phương:
+ Thẩm quyền thu, chi của ngân sách địa phương qua thực tiễn thực hiện ở
Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn Thạc sỹ Luật Kinh tế của tác giả Vũ Anh Sao
năm 2012)
+ Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay (Luận án Tiến sỹ
Quản lý hành chính công của tác giả Lê Toàn Thắng năm 2013)

3


+Phân định thẩm quyền giữa cơ quan trung ương và chính quyền địa phương


- Phạm vi nghiên cứu: Trong các nội dung của phân cấp quản lý ngân sách,
luận văn chủ yếu tập trung vào phân cấp quản lý thu, chi ngân sách địa phương từ
thực tiễn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2014 đến năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịc sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm,
đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp như: tổng
hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu trong thu, chi ngân sách giữa các năm, từ
đó thấy được những thành tựu và hạn chếtrong quy định pháp luật về ngân sách nói
chung và hoạt động phân cấp quản lý ngân sách ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản về
phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong giai đoạn hiện nay; Đánh giá tổng
quát thực trạng phân cấp quản lý ngân sách địa phương (qua thực tiễn tỉnh Thái
Nguyên); Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và
hạn chế những tồn tại, bất cập trong phân cấp quản lý ngân sách địa phương.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày gồm 03 chương:
+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phân cấp quản lý ngân sách địa
phương
+ Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện phân cấp quản lý
ngân sách địa phương tại tỉnh Thái Nguyên
+ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện phân cấp
quản lý ngân sách tại tỉnh Thái Nguyên

5



6


địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương
hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản
chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương [9, tr 9].
Ngân sách địa phương là tên chung chỉ ngân sách của các cấp chính quyền phù
hợp với địa giới hành chính, phù hợp với hiến pháp và pháp luật; là dự toán thu, chi
ngân sách của chính quyền địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong
một thời gian nhát định, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng,
nhiệm cụ của bộ máy nhà nước ở địa phương.
NSĐP thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chi của nhà nước tại địa
phương, cùng ngân sách trung ương thực hiên vai trò của ngân sách nhà nước, điều
tiết vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Thông qua việc huy động các khoản
thuế và bố trí chi tiêu ngân sách, NSĐP góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế của địa
phương, định hướng đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn, vùng và lãnh thổ.
NSĐP thường bao gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã. Theo
mô hình chung, ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là một bộ phận của
NSĐP; dự toán thu, chi ngân sách tỉnh được lập theo phân cấp của cơ quan có thẩm
quyền, đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ
máy nhà nước cấp tỉnh. Tương tự như vậy, ngân sách huyện, thị xã hoặc ngân sách
xã là một bộ phận của NSĐP có dự toán thu, chi ngân sách được lập theo phân cấp,
đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà
nước ở cấp huyện hoặc cấp xã.
Quản lý ngân sách địa phương là việc sử dụng những công cụ, biện pháp tổng
hợp để tập trung một phần nguồn tài chính, hình thành quỹ Ngân sách của địa
phương (theo các chức năng thẩm quyền của địa phương được phân định theo các
quy định của pháp luật) và thực hiện phân phối, sử dụng quỹ đó một cách hợp lý, có
hiệu quả nhằm thực hiện các yêu cầu của Nhà nước giao cho địa phương; đạt được

tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế sử
dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Tiền sử dụng đất, trừ thu
tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Các
khoản thu hồi vốn của ngân sách địa phương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ
tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở
hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp
nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu; Thu từ quỹ dự trữ tài
chính địa phương; Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu tiền sử dụng đất gắn với
tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý; Viện trợ
không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài
trực tiếp cho địa phương; Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước
địa phương thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ;
các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh
8


nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu thì được phép
trích lại một phần hoặc toàn bộ, phần còn lại thực hiện nộp ngân sách theo quy định
của pháp luật về phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan; Lệ phí do
các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu; Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành
chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa
phương thực hiện; Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các
cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương xử lý; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa
lợi công sản khác; Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy
định của pháp luật; Thu kết dư ngân sách địa phương; Các khoản thu khác theo quy
định của pháp luật.
Ngoài ra, nguồn thu NSĐP còn gồm: Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần
trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; Thu bổ sung cân đối

các cấp ở địa phương.
Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước gồm hai hoạt động cơ bản là phân cấp thu và phân cấp chi ngân sách:
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm phân cấp thu ngân sách địa phương
Thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm
thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước. Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho
hoạt động của mình, Nhà nước đặt ra chế độ thuế khóa huy động sự đóng góp của
người dân để hình thành quỹ tiền tệ, lúc đầu để trang trải các chi tiêu phát sinh trong
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngày nay, Nhà nước còn dùng quỹ
tiền tệ ngân sách nhà nước để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển
kinh tế.
Phân cấp thu ngân sách thực chất là phân định thẩm quyền khai thác, quản lý,
sử dụng và định đoạt đối với các đối tượng là khách thể của thu nhập công. Ở nhiều
quốc gia, phân cấp thu ngân sách là một trong những phương diện phản ánh sự phân
chia quyền lực tài chính giữa các chủ thể công (phân quyền tài chính giữa các đơn
vị hành chính lãnh thổ). Ở Việt Nam, phân cấp thu ngân sách gắn với sự phân cấp
trong thực hiện quyền lực nhà nước và sự phân cấp trong quản lý tài chính công
giữa các cấp chính quyền. Theo nghĩa này, phân cấp thu ngân sách xuất phát và gắn
với nội dung mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương.
Nói cách khác, phân cấp thu ngân sách phản ánh các mối quan hệ về quyền hạn và
trách nhiệm giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, cũng như
giữa các cấp chính quyền địa phương trên bốn phương diện cơ bản là: thẩm quyền
ban hành pháp luật, chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn thu; thẩm quyền thu
và quản lý các nguồn thu, khoản thu; thẩm quyền thụ thưởng, sử dụng các khoản tài

10


chính thu được và cuối cùng là sự phân định nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền



vào ngân sách nhà nước căn cứ vào chỉ tiêu này. Nếu không tính đến chỉ tiêu này
khi xác định mức động viên vào ngân sách nhà nước sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các
vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng, đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư.
Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển
kinh tế. Tỷ suất doanh lợi càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn.Đó là nhân tố quyết
định đến việc nâng cao tỷ suất thu ngân sách nhà nước. Dựa vào tỷ suất lợi nhuận
trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu ngân sách nhà nước sẽ tránh được việc
động viên vào ngân sách nhà nước gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế.
Hiện nay tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta thấp trong khi chi phí tiền
lương ngày càng tăng nên tỷ suất thu ngân sách không cao.
Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ, khoáng sản). Đây
là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm của
các nước cho thấy nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20%
kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu ngân sách nhà nước sẽ cao và có khả năng tăng
nhanh. Ở nước ta trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ
trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố ảnh hưởng to lớn đến việc nâng
cao tỷ suất ngân sách nhà nước.
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố:
quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó; những
nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử; chính
sách sử dụng kinh phí của nhà nước (trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi
phí nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước
sẽ dẫn đến tỷ suất thu ngân sách nhà nước tăng lên). Ở hầu hết các nước đang phát
triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu
tư vào các công trình lớn mà để có nguồn vồn phải tăng thu. Nhưng trong thực tế
tăng thu quá mức lại làm tốc độ tăng trưởng chậm lại. Để giải quyết vấn đề đó, Nhà
nước phải có một chương trình phát triển kinh tế - xã hội một cách thận trọng trên
cơ sở khoa học thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi tiêu

thực hiện ngân sách hàng ngày được thuận lợi cũng như định hướng chi ngân sách
trong tương lai.
Hoạt động chi ngân sách nhà nước có các đặc điểm sau:

13


- Chi ngân sách nhà nước chỉ được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế
hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước
quyết định.
- Chi ngân sách nhà nước nhằm vào mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tài chính cho sự
vận hành của bộ máy nhà nước. Sự tồn tại của bộ máy nhà nước tất yếu phát sinh chi
phí để duy trì bộ máy, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ vốn có của Nhà nước.
Không có các khoản chi của ngân sách nhà nước, Nhà nước không thể tồn tại và phát
triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hiệu quả kinh tế, chính trị của xã hội. Nhà
nước thông qua hoạt động chi ngân sách nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi
cho các doanh nghiệp bằng cách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát
triển kinh tế thị trường có định hướng Nhà nước; đảm bảo những cân đối lớn trong
nền kinh tế, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm và hiệu quả.
Trong một chừng mực nhất định, chi ngân sách được coi là “cái van” tài chính
của Nhà nước để góp phần điều chỉnh sự tăng trưởng, việc làm, lạm phát. Để cho việc
chi tiêu ngân sách Nhà nước có hiệu quả, thực sự trở thành “cái van” điều chỉnh góp
phần ổn định nền kinh tế, điều cần thiết Nhà nước phải có: các chương trình chi tiêu
công cộng thực tế phù hợp với diễn biến các giai đoạn chu trình kinh doanh; đưa ra
những dự án công cộng về giải quyết công ăn, việc làm thích ứng với từng giai đoạn
của chu trình kinh doanh; lập ra các chương trình chuyển khoản chi tiêu.
- Chi ngân sách nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi hai nhóm chủ thể:
nhóm chủ thể đại diện cho nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp phát, thanh toán các
khoản chi ngân sách nhà nước; nhóm chủ thể sử dụng ngân sách.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý ngân sách địa phương

nói đó là các hàng hoá mà tất cả mọi người đều có thể sử dụng và lợi ích từ việc sử
dụng đó đối với bất kỳ chủ thể nào cũng hoàn toàn độc lập với các chủ thể khác
cùng sử dụng.
Trong quản lý hành chính nhà nước, chính quyền nhà nước các cấp vừa phải
đảm bảo chức năng quản lý vừa phải đảm bảo chức năng cung cấp các dịch vụ công
cộng cho xã hội. Phần lớn các hàng hoá công cộng đều được cung cấp bởi khu vực
công (chính quyền nhà nước ở trung ương và địa phương).
Đây là yếu tố căn bản khi phân giao quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp
trong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương trong việc cung cấp hàng hoá

15


công cộng. Điều kiện vật chất để thực thi nhiệm vụ đòi hỏi phải được phân chia
nguồn lực từ ngân sách nhà nước. Đây chính là tiền đề để phân cấp nguồn thu,
nhiệm vụ chi cho từng cấp chính quyền địa phương.
Thứ ba: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các cấp chính quyền ở địa phương
Đây là một nhân tố có tính đặc thù mà cần được quan tâm. Tính đặc thù đó
thường được biểu hiện ở những đặc điểm tự nhiên về địa hình (như miền núi, vùng
đồng bằng, đô thị), vùng có tài nguyên, có địa thế đặc biệt hay có điệu kiện xã hội
đặc biệt (như lợi thế trong phát triển du lịch dịch vụ, phát triển khu cụm công
nghiệp, dầu mỏ, khoảng sản…) hoặc có điều kiện xã hội đặc biệt (như dân tộc, tôn
giáo, trình độ dân trí, điểm nóng về chính trị…). Ở những vùng, địa phương này có
thể coi là một đối tượng đặc biệt của cơ chế phân cấp dẫn tới những nội dung phân
cấp đặc thù cho phù hợp.
Sự đa dạng về mặt xã hội tạo ra sự khác biệt về nhu cầu, sở thích đối với hàng
hoá dịch vụ công do mức thu nhập tạo ra, sự đa dạng về về văn hoá, xã hội, chủng
tộc cũng là những nguyên nhân đứng sau sự khác biệt này. Khi sự khác biệt nảy
sinh thì đòi hỏi cơ chế phân cấp phù hợp sẽ mang lại hiệu quả hơn.
Thứ tư: Mức độ phân cấp về quản lý hành chính – kinh tế – xã hội giữa các

quyền địa phương trong việc ban hành chính sách, chế độ về thu, chi tài chính công
áp dụng ở địa phương. Ở nước ta, thẩm quyền lập pháp trong phân cấp thu, chi ngân
sách thuộc về chính quyền trung ương. Theo đó, Quốc hội có thẩm quyền ban hành
các đạo luật về ngân sách, tài chính công, quản lý thuế, nợ công, các quỹ tài chính
công… Chính phủ và các bộ, trước hết là Bộ Tài chính ban hành các văn bản dưới
luật cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành các đạo luật do Quốc hội ban hành. Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền ban hành một số văn bản quy định việc thu
một số loại phí, lệ phí trong phạm vi chính quyền trung ương phân cấp. Như vậy,
trong phân cấp thu, chi ngân sách theo nghĩa rộng nhất, chính quyền địa phương
không có thẩm quyền lập pháp và lập quy.
Thứ hai, phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cho từng cấp
ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước là nội dung quan trọng của các quy
định về phân cấp quản lý nhà nước. Cụ thể đó là việc xác định ngân sách trung
ương và ngân sách địa phương được thu những khoản nào và thực hiện những

17


nhiệm vụ chi cụ thể nào trong trong quá trình quản lý. Phân cấp quản lý nguồn thu
và nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước là vấn đề phức tạp và khó khăn nhất khi tiến
hành phân cấp quản lý ngân sách nhà nước. Sự khó khăn này bắt nguồn từ sự phát
triển không đồng đều giữa các địa phương, sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội giữa các vùng miền.
Về phân cấp quản lý nguồn thu: Thông thường trung ương được phân cấp
quản lý các nguồn thu ngân sách lớn, những khoản thu có tính chất tập trung quan
trọng không gắn trực tiếp với công tác quản lý nhà nước tại địa phương như: thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô, thuế thu nhập doanh nghiệp do trung
ương quản lý…; Địa phương được phân cấp nguồn thu ngân sách gắn trực tiếp với
công tác quản lý của địa phương như: thuế nhà, thuế đất, thuế môn bài, thuế thu

khoản thu nhập công khác của chính quyền địa phương ở chỗ, các khoản tài chính
được chuyển giao theo cách thức này là thu nhập công của chính quyền trung ương.
Thứ tư, phân cấp quản lý trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách nhà nước
Phân cấp ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các cấp ngân sách
trong một chu trình ngân sách nhà nước bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị ngân sách,
lập ngân sách, duyệt và thông qua ngân sách, chấp hành ngân sách, quyết toán ngân
sách, thanh tra, kiểm tra ngân sách. Trong mối quan hệ này, thẩm quyền cụ thể của
các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các cơ quan chuyên môn
là thể hiện tính chất phân cấp quản lý ngân sách trong toàn bộ hệ thống ngân sách
nhà nước.
Phân cấp quản lý trong thực hiện chu trình ngân sách nhà nước được thể hiện
trong ba giai đoạn của chu trình ngân sách nhà nước, đó là
- Giai đoạn lập dự toán ngân sách nhà nước: bao gồm giai đoạn chuẩn bị lập
dự toán ngân sách nhà nước (công việc này liên quan đến thẩm quyền của Chính
phủ và UBND ở địa phương) và giai đoạn thẩm tra, xem xét, thảo luận, quyết định
phê chuẩn dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước (liên quan đến thẩm quyền của
Quốc hội và HĐND ở địa phương).
- Giai đoạn chấp hành ngân sách: bao gồm từ việc tổ chức thu ngân sách, tổ
chức chi ngân sách, cấp phát kinh phí đến các công việc kiểm tra, giám sát, việc
chấp hành ngân sách (liên quan đến thẩm quyền của Chính phủ và UBND địa
phương).

19


- Giai đoạn quyết toán ngân sách nhà nước: bao gồm các công việc ghi chép sổ
sách, công tác kế toán, kiểm toán thu chi ngân sách sau khi dự toán ngân sách đã
được thực hiện trong thực tế (liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan ở trung
ương là Quốc hội, Chính phủ, kiểm toán nhà nước và các cơ quan ở địa phương là
HĐND và UBND tỉnh).

Chi trả nợ gốc và lãi các khoản
tiền huy động cho đầu tư
Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 1.000
1.000
1.000
1.000
của cấp tỉnh
Chi bổ sung cho ngân sách cấp 3.657.943 4.193.590 4.723.027
dưới
Nguồn tài liệu: Quyết toán và dự toán chi ngân sách của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2014 - 2017
2.3.1. Chi đầu tư phát triển
Bảng 2.6: Thống kê các khoản chi đầu tƣ phát triển của tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2014 – 2017 (Đơn vị tính: Triệu đồng)
Nội dung chi

QT 2014

QT 2015

QT 2016

DT 2017

460.616

1.371.446

1.593.579


Đầu tư xây dựng cơ bản tập trung
Đầu tư từ nguồn thu tiền đất

của pháp luật
Nguồn tài liệu: Quyết toán và dự toán chi ngân sách của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2014 - 2017

58



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status