Phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo pháp luật việt nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh thái nguyên (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU

PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ
THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH DŨNG SỸ
Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thư

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút ngày 08 tháng
08 năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học

với tình hình thực tế hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào
tiến trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại. Nội dung về phân cấp quản
lý NSNN phù hợp với phân cấp kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền cũng
được rà soát để phù hợp với quy định hiện hành, đồng bộ với Luật Tổ chức chính
phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng được Quốc hội thông qua tại
Kỳ họp thứ 9.
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, quản lý NSNN đã
có những đổi mới và mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng. Thực tiễn

1


đời sống xã hội cũng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi công tác quản lý ngân
sách phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hơn nữa. Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên
đã có nhiều đột pháp về thu ngân sách với các dự án lớn như Samsung, dự án đa
kim Núi pháo, Nhiệt điện An Khánh tiếp tục đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế
của tỉnh, đặc biệt là tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất
khẩu của tỉnh. Năm 2016 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 2016-2020 của tỉnh. Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự
báo, giá cả hàng hóa ở mức thấp đã ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta nói
chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết
liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự nỗ lực của các cấp, ngành, doanh nghiệp
và nhân dân, kế hoạch thu chi ngân sách nhà nước năm 2016 của tỉnh đã đạt được
những kết quả vượt bậc. Về kết quả thực hiện thu ngân sách nhà nước, đến hết ngày
30/12/2016 đạt 9.472 tỷ đồng, dự ước thực hiện thu cả năm đạt 9.550 tỷ đồng, tăng
3.050 tỷ đồng so với dự toán được giao (vượt 46,9%). Trong đó: Thu nội địa thực
hiện được trên 7.800 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu thực hiện được gần 1.700 tỷ
đồng. Nhiều khoản thu có mức vượt cao từ 67% đến 253% so với dự toán đầu năm
như: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thuế thu nhập cá nhân; thu
tiền cho thuê đất; thu tiền sử dụng đất; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn khối

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP;
343/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 hướng dẫn thực hiện công khai ngân sách nhà
nước đối với các cấp ngân sách; 344/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 quy định về
quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.
- Những công trình nghiên cứu liên quan đến phân cấp quản lý ngân sách
địa phương:
+ Thẩm quyền thu, chi của ngân sách địa phương qua thực tiễn thực hiện ở
Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn Thạc sỹ Luật Kinh tế của tác giả Vũ Anh Sao
năm 2012)
+ Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay (Luận án Tiến
sỹ Quản lý hành chính công của tác giả Lê Toàn Thắng năm 2013)
+ Phân định thẩm quyền giữa cơ quan trung ương và chính quyền địa
phương tại Việt Nam hiện nay – Tác giả Nguyễn Văn Cương
+ Phân cấp quản lý và địa vị pháp lý của chính quyền địa phườn trong quá
trình cải cách bộ máy nhà nước ở Việt Nam – Luận án Tiến sỹ Luật học của tác giả
Trần Thị Diệu Oanh năm 2012
+ Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa
phương ở Việt Nam – Tác giả Phạm Hồng Đức
+ Phân cấp ngân sách cho chính quyền địa phương - Thực trạng và giải pháp
– Tác giả Lê Chi Mai
- Quyết toán và dự toán ngân sách nhà nước của Tỉnh Thái Nguyên từ năm
2014 - 2017. Đây là những tài liệu thực tế rất cụ thể, là nguồn tư liệu quan trọng
của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Từ phân tích thực trạng phân cấp quản lý ngân sách
của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2014 đến năm 2017, luận văn đề xuất một số giải

3



hạn chế những tồn tại, bất cập trong phân cấp quản lý ngân sách địa phương.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn được trình bày gồm 03 chương:
+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phân cấp quản lý ngân sách
địa phương

4


+ Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện phân cấp quản lý
ngân sách địa phương tại tỉnh Thái Nguyên
+ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện phân cấp
quản lý ngân sách tại tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG
1.1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách địa phƣơng
Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền
hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân
sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội [9, tr 10].
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm
và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp trong quá trình quản lý, điều
hành ngân sách nhà nước. Với khái niệm này, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
được hiểu như sau: một là, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước bao gồm thẩm
quyền quyết định về ngân sách và thẩm quyền quản lý ngân sách nhà nước; hai là,
phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tập trung vào phân cấp quyền hạn, trách
nhiệm giữa các cơ quan có liên quan đến thẩm quyền quyết định và thẩm quyền
quản lý ngân sách nhà nước.
Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, phân cấp quản lý ngân sách nhà

giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước.
Phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương là việc xác định nhiệm vụ
chi cụ thể cho từng cấp ngân sách. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc
phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước giữa chính quyền trung ương và chính
quyền địa phương do Quốc hội quyết định, giữa các cấp chính quyền trong nội bộ
địa phương thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh. Chi ngân sách nhà
nước đa dạng, điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc
phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động chi ngân sách nhà nước có các đặc điểm sau:
- Chi ngân sách nhà nước chỉ được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế
hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước
quyết định.
- Chi ngân sách nhà nước nhằm vào mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tài chính
cho sự vận hành của bộ máy nhà nước. Sự tồn tại của bộ máy nhà nước tất yếu phát
sinh chi phí để duy trì bộ máy, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ vốn có của Nhà
nước. Không có các khoản chi của ngân sách nhà nước, Nhà nước không thể tồn tại
và phát triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hiệu quả kinh tế, chính trị của xã
hội. Nhà nước thông qua hoạt động chi ngân sách nhằm tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các doanh nghiệp bằng cách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều
kiện phát triển kinh tế thị trường có định hướng Nhà nước; đảm bảo những cân đối
lớn trong nền kinh tế, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm và
hiệu quả.

6


- Chi ngân sách nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi hai nhóm chủ thể:
nhóm chủ thể đại diện cho nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp phát, thanh toán
các khoản chi ngân sách nhà nước; nhóm chủ thể sử dụng ngân sách.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý ngân sách địa phương

thể coi là một đối tượng đặc biệt của cơ chế phân cấp dẫn tới những nội dung phân
cấp đặc thù cho phù hợp.

7


Sự đa dạng về mặt xã hội tạo ra sự khác biệt về nhu cầu, sở thích đối với
hàng hoá dịch vụ công do mức thu nhập tạo ra, sự đa dạng về về văn hoá, xã hội,
chủng tộc cũng là những nguyên nhân đứng sau sự khác biệt này. Khi sự khác biệt
nảy sinh thì đòi hỏi cơ chế phân cấp phù hợp sẽ mang lại hiệu quả hơn.
Thứ tư: Mức độ phân cấp về quản lý hành chính – kinh tế – xã hội giữa
các cấp chính quyền
Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh thổ nảy sinh
yêu cầu hình thành những cấp ngân sách nhà nước tương ứng với từng cấp hành
chính đó. Tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần, bởi vì có nhiều cách khác nhau
trong việc chuyển giao một bộ phận trong tổng thể các nguồn tài chính cho việc
thực hiện các nhiệm vụ của mỗi đơn vị hành chính. Chẳng hạn, có thể giao một số
quyền lực huy động nguồn thu trên địa bàn, hoặc cho phép toàn quyền quyết định
mọi vấn đề thu, chi hay thực hiện việc chuyển giao kinh phí đảm bảo theo nhu cầu
thực tế phát sinh.
1.2. Nội dung cơ bản của phân cấp quản lý ngân sách nhà nƣớc
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được xem xét trên bốn nội dung chủ
yếu:
Thứ nhất, phân cấp về thẩm quyền lập pháp và lập quy trong phân cấp thu,
chi ngân sách.
Giải quyết mối quan hệ này tức là làm rõ thẩm quyền lập pháp của chính
quyền trung ương trong việc ban hành pháp luật áp dụng chung cho lĩnh vực tài
chính công trong phạm vi cả nước và thẩm quyền lập quy của chính quyền địa
phương trong việc ban hành chính sách, chế độ về thu, chi tài chính công áp dụng ở
địa phương.

nguồn thu, chi ngân sách giữa các cấp chính quyền. Phân cấp về ngân sách thể hiện
dưới nhiều dạng như: cho phép chính quyền địa phương tự chủ về tài chính (tự
hạch toán kinh phí thu, chi); chính quyền trung ương và địa phương cùng thực hiện
các hoạt động tài chính; cho phép chính quyền địa phương được đặt ra một số
khoản thuế, lệ phí hoặc hưởng toàn bộ hay một phần các khoản thu từ phí, lệ phí…
ở địa phương; chuyển một phần khoản thu từ thuế mà chính quyền trung ương thu
được cho chính quyền địa phương sử dụng; bảo lãnh hoặc cho chính quyền địa
phương vay.
1.3.2. Đặc điểm phân cấp quản lý ngân sách giữa chính quyền trung
ương và chính quyền địa phương
Việc hình thành hệ thống chính quyền nhà nước có phân chia thành các cấp
chính quyền là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước trên một vùng lãnh thổ. Sự tồn tại của hệ thống chính quyền nhà nước
nhiều cấp là tiền đề cần thiết để tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước nhiều cấp.
Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền nhà nước. Tuy nhiên,
chỉ nên hình thành cấp ngân sách khi cấp chính quyền tương ứng có chức năng,
nhiệm vụ toàn diện, có thẩm quyền chi tiêu ngân sách để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ đó và đồng thời có khả năng nhất định về nguồn thu trên vùng lãnh thổ
mà cấp đó quản lý. Phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền nhà nước
Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm bốn cấp ngân sách
tương ứng với bốn cấp chính quyền. Nói cách khác, hệ thống ngân sách nhà nước
bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương.

9


Ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách tỉnh và thành phố trực thuộc trung
ương; ngân sách quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ngân sách xã, phường,
thị trấn.
Trong hệ thống ngân sách nhà nước của Việt Nam thì ngân sách trung ương

nguồn ngân sách giữa các khu vực trên địa bàn để chủ động thực hiện nhiệm vụ

10


được giao, đồng thời đảm bảo tập trung điều hành ngân sách các cấp trong phạm vi
địa phương.
1.3.4. Các tiêu chí phân cấp quản lý ngân sách giữa chính quyền trung
ương và chính quyền địa phương
Các Tiêu chí phân bổ vốn đầu tư phát triển trong cân đối (không bao gồm
đầu tư từ nguồn thu sử dụng đất, nguồn thu xổ số kiến thiết) theo quyết định số
40/QĐ-TTg ngày 14/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ cho các địa phương gồm 5
nhóm sau đây:
- Tiêu chí dân số, gồm: số dân trung bình và số người dân tộc thiểu số của
các địa phương.
- Tiêu chí về trình độ phát triển, gồm: tỷ lệ hộ nghèo, số thu nội địa (không
bao gồm số thu sử dụng đất) và tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương.
- Tiêu chí diện tích, gồm: diện tích đất tự nhiên của các địa phương và tỷ lệ
diện tích đất trồng lúa trên tổng diện tích đất tự nhiên.
- Tiêu chí về đơn vị hành chính cấp huyện: bao gồm tiêu chí số đơn vị hành
chính cấp huyện; số huyện miền núi; vùng cao, hải đảo; biên giới đất liền của từng
địa phương.
- Các tiêu chí bổ sung, bao gồm:
+ Tiêu chí xã ATK thuộc vùng căn cứ kháng chiến (ATK lịch sử).
+ Tiêu chí các xã biên giới đất liền, gồm: các xã biên giới Việt Nam - Trung
Quốc, các xã biên giới Việt Nam - Lào và Việt Nam - Campuchia.
1.4. Sự cần thiết phải phân cấp quản lý Ngân sách địa phƣơng
Phân cấp quản lý ngân sách giữa trung ương và địa phương là một yêu cầu
tất yếu của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của kế hoạch hóa và quản lý bản
thân ngân sách. Phân cấp hợp lý, Trung ương có thể tập trung quản lý các nguồn

sách địa phƣơng
2.2.1. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương đối với các khoản thu ngân
sách địa phương hưởng 100%
Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% tại tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2014 – 2017: Năm 2014 là 4.114.048 triệu đồng; Năm 2015 là 5.799.392 triệu
đồng; Năm 2016 là 7.772.088 triệu đồng. Về cơ bản, các khoản thu ngân sách mà
tỉnh Thái Nguyên được hưởng 100% tăng đều qua các năm.
Cụ thể các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% bao gồm:
2.2.2. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương đối với các khoản thu ngân
sách địa phương hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương
Theo Khoản 2 Điều 35 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, các khoản thu
ngân sách địa phương hưởng theo tỷ lệ % bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, trừ thuế

12


giá trị gia tăng quy định; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân;
Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế bảo vệ môi trường. Cụ thể:
Qua kết quả về tình hình quyết toán ngân sách tỉnh Thái Nguyên từ 2014 –
2016 và dự toán năm 2017 về các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách
nhà nước và ngân sách trung ương cho thấy các nguồn thu đều tăng và tăng liên tục
qua các năm, điều này đã góp phần làm tăng ngân sách cho địa phương từ đó tạo
điều kiện cho việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, đồng thời tạo ra sự ổn định và cân bằng trong thu chi ngân sách.
2.2.3. Thẩm quyền thu ngân sách địa phương đối với các khoản thu bổ
sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương
Thái Nguyên là một trong những tỉnh vẫn còn phải cần đến nguồn bổ sung
của ngân sách trung ương, thậm chí từ năm 2014 đến 2016 khoản bổ sung này có
xu hướng tăng và tăng đột biến vào năm 2016. Cụ thể, thu bổ sung từ ngân sách

nhiệm vụ của trung ương còn các dự án ở địa phương nào thì địa phương đó phải
huy động ngân sách địa phương và nhân dân đóng góp để triển khai. Như vậy đối
với dự án có nhiều nguồn vốn tham gia và dự án lại có nhiều hạng mục công trình,
việc phê duyệt từng hạng mục theo nguồn vốn là rất khó khăn. Thủ tục quy định về
thẩm định dự toán, thẩm tra quyết toán theo nguồn ngân sách địa phương hay trung
ương sẽ rất phức tạp. Trong khi đó, Bộ quản lý các ngành, có nhiều nhiệm vụ
không thể tách bạch rõ ràng nhiệm vụ trung ương hay địa phương. Trong khi Bộ,
ngành xác định rõ sự cần thiết, cấp bách và hiệu quả triển khai những nhiệm vụ đó
nhưng chỉ được chi ngân sách cho những nhiệm vụ cấp trung ương, còn địa phương
khó khăn không bố trí được vốn do đó đã hạn chế rất nhiều hiệu quả sử dụng ngân
sách, hạn chế hiệu quả dự án gây lãng phí rất lớn.
* Thực trạng phân cấp các khoản thu chung
Quy định về tỷ lệ % phân chia giữa các cấp ngân sách còn mang tính chủ
quan. Một số quy định chưa phù hợp thực tế, vì một số khoản thu không phát sinh
tại địa phương. Quy định về phân cấp nguồn thu chưa chú ý đến bản chất của
nguồn thu ngân sách nhà nước. Các khoản thu phân chia tỷ lệ % giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương gồm: Thuế giá trị gia tăng (Thuế giá trị gia
tăng thu từ hàng hóa nhập khẩu); Thuế thu nhập doanh nghiệp trừ thuế tài nguyên,
thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác
từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; Thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ Thuế tiêu thụ
đặc biệt thu từ hàng hóa nhập khẩu. Về bản chất, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu
thụ đặc biệt đối với hàng sản xuất trong nước là khoản thuế gián thu, người tiêu
dùng là người nộp thuế, do vậy quy định phân chia khoản thu này cho địa phương
có tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn là bất hợp lý, ngoài ra còn tạo ra sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương cùng chung cơ sở kinh doanh.
* Thực trạng bổ sung ngân sách
Trong giai đoạn hiện nay, ta thấy việc bổ sung để cân đối ngân sách từ ngân
sách cấp trên xuống ngân sách cấp dưới vẫn còn lớn. Thu ngân sách địa phương từ
thuế ngày càng ít và bổ sung tài chính ngày càng nhiều dẫn đến địa phương càng
phụ thuộc vào trung ương. Còn đối với ngân sách địa phương: ngân sách tỉnh bổ

chính hàng năm của tỉnh ổn định ở mức 1.000 triệu đồng trong giai đoạn 2014 –
2016 và dự toán năm 2017.
2.3.5. Nhận xét về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ
chi ngân sách tại tỉnh Thái Nguyên
Từ thực trạng chi ngân sách của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016,
dự toán 2017 nói trên, quy định về chi ngân sách địa phương còn tồn tại một số vấn
đề sau:
Quy định về chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ còn chồng chéo, chưa rõ
ràng. Có những khoản chi gắn liền với nhiệm vụ của địa phương nhưng chưa phân
cấp cho địa phương như chi phòng cháy chữa cháy, hướng dẫn trật tự giao thông.
Trong cơ cấu các khoản chi ngân sách, chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ
cao mà hiệu quả sử dụng lại thấp và không tương xứng với nguồn vốn bỏ ra từ

15


ngân sách. Nguy hiểm hơn nữa khi mà nguồn vốn cho đầu tư phát triển có được từ
đi vay thì còn phải gánh thêm khoản trả lãi khi mà những công trình đó chậm tiến
độ, từ đó dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách. Bên cạnh đó, quyền chủ động trong
chi đầu tư phát triển của địa phương bị hạn chế do Luật NSNN quy định mức dư nợ
từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư phát triển trong nước hàng
năm của ngân sách địa phương (đối với thành phố Hà Nội và thành phồ Hồ Chí
Minh là 100%) vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) trong nước hàng năm của
ngân sách cấp tỉnh. Thực tế triển khai thời gian qua cho thấy dù đã được trao quyền
nhưng không phải tất cả các địa phương đều thực hiện việc vay nợ. Dư nợ vay nợ
của chính quyền địa phương còn ở mức thấp. Tuy nhiên, phân tích về việc vay nợ
của chính quyền địa phương cho thấy một số vấn đề, đó là: phạm vi vay nợ chưa
bao quát hết các nghĩa vụ trả nợ của địa phương; quan hệ về nợ giữa chính quyền
trung ương và địa phương cũng có điểm còn chưa rõ, nhất là đối với trường hợp địa
phương không có khả năng trả nợ. Việc xác định giới hạn vay nợ dựa vào tổng vốn

có nguồn thu tăng đột biến nhưng không thể bố trí đầu tư xây dựng cơ bản vì chưa
được phân cấp nhiệm vụ chi… có tình trạng trên là do việc phân chia tỷ lệ % thu
chi ở cấp xã chưa hợp lý.
Về tình hình cân đối thu, chi ngân sách của tỉnh Thái Nguyên:
Dựa vào bảng số liệu thống kê thu, chi của ngân sách tỉnh Thái Nguyên thì
tỷ lệ cân đối ngân sách hàng năm của tỉnh Thái Nguyên về cơ bản thu đủ chi, cụ thể
từ năm 2014 đến năm 2016 tỷ lệ cân đối ngân sách tỉnh Thái Nguyên lần lượt là
100,4%, 100,4% và 100,3%. Tuy nhiên, trong tổng thu ngân sách tỉnh, thu bổ sung
từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương chiếm tỷ lệ khá lớn, cụ thể:
Năm 2014, ngân sách trung ương bổ sung sung cho ngân sách địa phương là:
4.164.347 triệu đồng; năm 2015 là: 4.546.394 triệu đồng; năm 2016 là: 7.843.166
triệu đồng. Như vậy, có thể nói, giống như hầu hết các địa phương trong cả nước,
tỉnh Thái Nguyên vẫn phải cần đến nguồn ngân sách bổ sung từ trung ương mới có
thể cân đối được ngân sách của tỉnh và nguồn bổ sung này lại có xu hướng tăng, do
đó càng làm tăng sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương.
Chƣơng 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƢƠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật
về phân cấp quản lý ngân sách địa phƣơng
3.1.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý ngân
sách địa phương
Đổi mới nhận thức về phân chia thu nhập công, cần chú ý cả lợi ích (chính
quyền địa phương được bao nhiêu) và cơ hội tham gia (chính quyền địa phương
được tham gia như thế náo vào quá trình phân chia đó).
Đảm bảo quyền tự chủ tài chính cho địa phương. Hiện nay quyền tự chủ của
địa phương gắn với việc phân định lợi ích các khoản thu 100% ngân sách địa
phương được hưởng và khoản thu điều tiết cũng như khoản cân đối bổ sung của
ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trên thực tế, việc quy định khoản
chi bổ sung cho ngân sách địa phương dễ làn phát sinh tình trạng bội chi của ngân

dụng nguồn thu riêng, gồm cả thuế. Ngoài ra có thể cho phép địa phương có quyền
nhiều hơn trong việc quyết định và thu các loại phí và lệ phí trong phạm vi của địa
phương.
Mở rộng quyền tự chủ của địa phương quyets định chi tiêu. Đồng thời cần
cho phép địa phương được hưởng quyền quyết định các chế độ, định mức chi tiêu
trong khung do trung ương quyết định. Việc mở rộng quyền tự chủ của địa phương
sẽ dựa trên nguyên tắc chi tiêu được thực hiện ở cấp chính quyền nào cung ứng
dịch vụ có hiệu quả nhất.
Trao quyền nhiều hơn cho các cấp chính quyền cấp dưới, đặc biệt là chính
quyền cơ sở, nơi trực tiếp cung cấp cho dân nhiều loại dịch vụ thiết yếu. Vì thế
trung ương cần thống nhất phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho đến caaos huyện

18


và cấp xã. Đồng thời phát triển năng lực tài chính của mỗi cấp tương xứng với vai
trò của mỗi cấp trong quản lý hành chính nhà nước địa phương,
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện phân cấp quản
lý ngân sách địa phƣơng
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách địa
phương
Thứ nhất, cần quy định linh hoạt hơn về thẩm quyền phân cấp địa phương
của HĐND tỉnh.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về quy định phương thức bổ sung từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới
Thứ ba, cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể có liên quan;
đảm bảo các cơ quan dân cử có thể phát huy hiệu quả vai trò của mình trong toàn
bộ các khâu của quy trình ngân sách. Ngoài ra, cần có sự phân định rõ ràng về trách
nhiệm; cơ chế ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể có liên quan và các cấp ngân
sách trong hệ thống ngân sách, đặc biệt là trách nhiệm của UBND các cấp, các đơn

một tỉnh.
Về phân cấp nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách:
Hoàn thiện các quy định về phân định nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền theo phân cấp quản lý
kinh tế - xã hội (phân loại về các cấp chính quyền địa phương; cơ cấu tổ chức,
trong đó quy định rõ vai trò và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan; mức độ độc
lập trong quản lý điều hành của chính quyền địa phương…).
Nghiên cứu để hình thành các cơ chế để chính quyền địa phương có thêm tự
chủ trong các quyết định phân bổ nguồn lực, sử dụng nguồn lực theo các ưu tiên
của địa phương; trung ương chỉ can thiệp khi cần thực hiện các mục tiêu có tính
quốc gia.
Đảm bảo sự đồng bộ trong thực hiện phân cấp chi ngân sách với các vấn đề
phân cấp khác (về nguồn lực như tài chính, nhân sự, tổ chức và chịu trách nhiệm
trước các hoạt động và kết quả hoạt động…).
Về cơ chế bổ sung ngân sách giữa các cấp ngân sách:
Hình thành các phương thức phù hợp để xác định quy mô tổng nguồn ngân
sách dùng để bổ sung cho các địa phương cũng như các nguyên tắc sử dụng cho
việc xác định mức bổ sung, song có thêm sự kết gắn với kế hoạch chi tiêu trung
hạn.
Hoàn thiện hệ thống tiêu chí, các nguyên tắc về bổ sung có mục tiêu gắn với
các định hướng và chiến lược phát triển ưu tiên của từng vùng, miền và kế hoạch
trung hạn của địa phương.
Nghiên cứu để có cơ chế chuyển giao ngược (từ địa phương cho trung ương
đối với những địa phương có thặng dư ngân sách ở mức cao) cùng với cơ chế
chuyển giao xuôi từ TW cho địa phương (trong trường hợp địa phương bị thâm hụt)
hiện đang áp dụng.
Về vay nợ của chính quyền địa phương:
Xem xét đánh giá lại việc thực hiện nguyên tắc: “NSĐP không được bội
chi” vì quy định này đang mâu thuẫn với thực tế ở nhiều địa phương. Việc duy trì
đồng thời 2 khái niệm là NSĐP không được bội chi và cho phép địa phương bố trí

tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Tập
trung quản lý tốt khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, tổ chức thu đúng,
thu đủ vào ngân sách số thu từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản; kiên
quyết xử lý các trường hợp khai thác trái phép, chây ì về nghĩa vụ nộp ngân sách
nhà nước.
Bốn là, tập trung chỉ đạo công tác quản lý thu, chống thất thu ngân sách,
kiên quyết thu hồi nợ đọng về thuế và các khoản nợ đọng khác. Tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra nhằm chống thất thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, đủ, kịp
thời số thu vào ngân sách nhà nước theo quy định. UBND các huyện, thị xã, thành

21


phố tăng cường công tác phối hợp với cơ quan thuế, phấn đấu thu vượt dự toán
HĐND tỉnh giao
Năm là, quản lý chi ngân sách chặt chẽ, hiệu quả; thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát chi,
kiên quyết không giải ngân, không quyết toán những khoản chi không đúng chế độ,
chính sách, không có trong dự toán. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phải chủ động cân
đối khoản kinh phí trong dự toán ngân sách được giao để thực hiện các nhiệm vụ
chi. Đối với nhiệm vụ chi phát sinh, các cấp, các ngành phải chủ động sắp xếp kinh
phí trong dự toán được giao, từ tăng thu và dự phòng ngân sách cấp mình để thực
hiện, ngân sách tỉnh chỉ xem xét giải quyết những khoản chi thật sự bức xúc do
thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, vượt quá khả năng cân đối trong dự toán
ngân sách đã giao cho từng cấp, từng ngành.
Sáu là, tập trung thực hiện giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, thanh
toán tạm ứng vốn đầu tư theo tiến độ, đúng quy định hiện hành, theo dõi tình hình
giải ngân của từng dự án, để có kế hoạch điều chỉnh phù hợp, đảm bảo giải ngân
100% kế hoạch vốn đầu tư trong năm 2017. Kiểm soát và bố trí vốn ưu tiên thanh
toán nợ đọng trong đầu tư. Đối với các dự án có số dư tạm ứng ngân sách các cấp,

nhà nước về tài chính; gắn trách nhiệm của các Bộ, ngành và chính quyền địa
phương các cấp trong công tác quản lý và thực thi chính sách tài chính. Tuy nhiên,
phân cấp nói chung và phân cấp ngân sách nói riêng là vấn đề phức tạp, nhạy cảm.
Phân cấp ngân sách nếu thực hiện trong bối cảnh các điều kiện cần (thể chế, năng
lực, nguồn lực) hiện diện không đầy đủ có thể đem đến các kết quả không mong
muốn.
Thực hiện Luật NSNN (2002) thời gian qua đã đem lại những thay đổi căn
bản trong phương thức quản lý ngân sách ở nước ta, góp phần thực hiện quản lý tập
trung thống nhất NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng
thời tăng cường phân cấp, tạo sự chủ động cho chính quyền địa phương. Tuy nhiên,
sau một thời gian thực hiện, một số quy định Luật NSNN (2002) cũng đã bộc lộ

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status