Thực trạng quá trình thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam - Pdf 45

MỤC LỤC
Phần1 :Lời mở đầu
Phần 2 : Cơ sở lí luận chung
I - Tổng quan về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1-Khái niệm về FDI
2- Phân loại nguồn vốn FDI
3- Vai trò của nguồn vốn FDI
4- khái quát về nguồn vốn FDI tại Việt Nam
II - Thực trạng quá trình thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
1- Một số nét cơ bản trong quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
2- Quá trình thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
2.1- Khái quat chung về FDI của Nhật Bản tại Việt Nam
2.2-Cơ cấu thu hút FDI của Nhật Bản tại Việt Nam
2.3-Những nhân tố thúc đẩy thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
2.4-Những rào cản trong vấn đề thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
III – Các giải pháp nhằm thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
Phần 3 : Kết luận

LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang những năm đầu của thế kỉ XXI , kinh tế Việt Nam đã và đang
có những bước phát triển đáng kể;tham gia vào vòng quay của nền kinh tế toàn
cầu, đứng trước vận hội mới đòi hỏi Việt Nam phải có những biện pháp hữu
hiệu để nắm bắt những cơ hội và đương đầu với những thách thức ,đưa con tàu
kinh tế Việt Nam vững vàng tiến ra biển lớn.
Là một quốc gia có nền kinh tế phát triển tương đối ổn định lại có nhiều
lợi thế so với các quốc gia khác trong khu vực, Việt Nam đang trở thành điểm
đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau đặc
biệt là hình thức đầu tư trực tiếp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mang lại
nhiều lợi ích cho cả phía nhà đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư ; trên cơ sở đó hình
thành nên mối quan hệ quốc tế về kinh tế – văn hóa – chính trị.
Xuất phát từ những ý nghĩa to lớn đó, để tìm hiểu vấn đề này một cách

lập một pháp nhân kinh tế.
- Doanh nghiệp liên doanh : Là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các
bên nước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh
doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ vốn góp . Doanh nghiệp
liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư
cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài , do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận
đầu tư, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh – chuyển giao ( gọi tắt là hợp đồng
BOT) là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong
một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao cho nước tiếp
nhận đầu tư (thường trong các công trình đường xá , cầu cống …)
3 ) Vai trò của nguồn vốn FDI
a - Đối với nước chủ đầu tư
- Thông qua đầu tư FDI, các nước đi đầu tư tận dụng được những lợi thế về
chi phí thấp của các nước nhận đầu tư (giá nhân công rẻ, chi phí khai thác
nguyên vật liệu tại chỗ thấp …) để giảm giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận
chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu ở các nước tiếp nhận đầu
tư nhờ đó nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư .
- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty có thể kéo dài chu kỳ
sống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước.Thông
qua FDI các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần các sản
phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống sang các nước nhận đầu tư
để tiếp tục sử dụng chúng như những sản phẩm mới ở các nước này, tạo thêm lợi
nhuận cho các nhà đầu tư.
- Giúp các công ty chính quốc tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên
vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ.
- Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, tăng cường khả

tại không quy hoạch cho đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dẫn đến đầu tư tràn
lan , kém hiệu quả , tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và dẫn đến ô
nhiễm môi trường .
4 ) Khái quát về FDI tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên nhu cầu về vốn rất lớn . Chính phủ
và Nhà nước đã và đang tìm rất nhiều biện pháp để thu hút đầu tư đặc biệt là đầu
tư trực tiếp nước ngoài .Tính đến hết tháng 9/ 2007 FDI của nước ta đạt 9,6 tỉ
USD tăng 38% so với cung kỳ năm 2006
Quá trình thu hút FDI vào Việt Nam từ 1988 đến nay trải qua 4 giai đoạn :
- Giai đoạn 1988 -1990: Là giai đoạn khởi đầu, FDI chưa có tác động mạnh
mẽ đến tình hình kinh tế xã hội .Vào giai đoạn này, ngoài việc có 1 bộ luật đầu
tư nước ngoài khá hấp dẫn, các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thu hút FDI. Mặt khác các nhà đầu tư
nước ngoài coi Việt Nam như một vùng đất mới hứa hẹn hấp dẫn nhưng lại rất
thận trọng trong việc quyết định tiến hành đầu tư ; vì vậy trong suốt giai đoạn
này chỉ có 214 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký là 1,58 tỉ USD, vốn
thực hiện không đáng kể vì các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép còn
phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới có thể đưa các dự án vào hoạt động .
- Giai đoạn 1991- 1997 : Là giai đoạn FDI tăng trưởng mạnh, góp phần
quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước; chỉ tính
riêng thời kỳ 1991-1995 đã thu hút được 16,2 tỉ USD vốn đăng ký .Đây là mức
tăng trưởng hết sức ngoạn mục; vốn thực hiện trong cả 5 năm của FDI là 6,086 tỉ
USD; chỉ 2 năm 1996 và 1997 vốn thực hiện đã đạt 5,382 tỉ USD.Có thể khẳng
định đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi nổi, hàng nghìn đoàn khách tìm kiếm
cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án chờ thẩm định , hàng chục nhà máy được khởi
công cùng nột lúc.Trên thực tế cuối thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiện những trở
lực trước hết là quan điểm nhận thức đối với FDI và thủ tục hành chính trở nên
phiền hà .
- Giai đoạn 1997-2000 : Là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký bắt đầu
giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong các năm 1999, 2000. Vốn thực hiện cao

có quan hệ Việt Nam - Nhật Bản . Trước đây, quan hệ 2 nước đã có thời kỳ bị
gián đoạn; do các yếu tố quốc tế nên Việt Nam và Nhật Bản ít có điều kiện giao
lưu và mở rộng quan hệ kể cả quan hệ kinh tế.Trong điều kiện mới khi yếu tố
kiềm chế quốc tế giảm đi thì đây là cơ hội để 2 nước có điều kiện tăng cường
quan hệ với nhau nhất là quan hệ kinh tế. Giai đoạn này, Nhật Bản có sự điều
chỉnh rõ rệt trong chính sách đối ngoại của mình trong đó có quan hệ với Đông
Nam á và Việt Nam. Sự điều chỉnh này của Nhật Bản xuất phát từ nhu cầu mở
rộng thị trường và tăng cường vai trò của mình trong khu vực và thế giới .Mặt
khác đây cũng là thời kỳ Việt Nam bước đầu thực hiện có hiệu quả chính sách
đổi mới về kinh tế và chủ trương hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
đối ngoại trong đó mở rộng quan hệ với Nhật Bản là một hướng ưu tiên quan
trọng. Giai đoạn 1990 trở lại đây là giai đoạn mà quan hệ Việt Nam và Nhật Bản
phát triển khá toàn diện trên tất cả các mặt đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.
Mặc dù Nhật Bản là nước khởi đầu chậm song xét về tốc độ lại là nước có
số vốn cũng như số dự án đầu tư phát triển khá nhanh.Trong các năm gần đây cả
2 phía đều tích cực xúc tiến các hoạt động nhằm tạo ra những cơ hội hợp tác đầu
tư mới :
- Ngày 14/11/2003 , hiệp định về tự do xúc tiến và bảo hộ đầu tư đã được kí
kết tại Tokyo.
- Năm 2004 hai nước kí kết hiệp định khuyến khich và bảo hộ đầu tư .
- Ngày 14/4/2004 tại Osaka diễn ra cuộc hội thảo kêu gọi đầu tư vào Việt
Nam .
- Tháng 12/2005 thủ tướng 2 nước đã kí thoả thuận xây dựng “Sáng kiến
chung Việt -Nhật “ hai giai đoạn : giai đoạn 2003-2005 và giai đoạn 2006-2007
nhằm tiếp tục tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư Nhật Bản
- 10/2006 hai bên đã kí tuyên bố chung “ Hướng tới quan hệ đối tác chiến
lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu á “ và một loạt thoả thuận quan trọng trên
nhiều lĩnh vực đặc biệt là mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư .
- Đầu năm 2007 , Việt Nam và Nhật Bản đã tiến hành các phiên đàm phán
đầu tiên về hiệp định đối tác kinh tế song phương (EPA).

Tuy số vốn FDI của Nhật chỉ đứng thứ 3 trong các nước và vùng l•nh thổ
đầu tư vào nước ta nhưng lại đứng đầu về số vốn thực hiện. 9 tháng đầu năm
2007 ,Nhật Bản ản đứng thứ 4 về tổng vốn đầu tư (trên 7,8 tỉ USD) nhưng vẫn là
quốc gia có tỉ lệ vốn thực hiện cao nhất 73%.
2.2 - Cơ cấu thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
a - Cơ cấu theo ngành:
Hai lĩnh vực mà Nhật Bản quan tâm hàng đầu là khai thác nguyên liệu và
chế tạo máy. Do vậy các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều vào sản xuất các
mặt hàng nhằm xuất khẩu về Nhật hoặc sang nước thứ 3 trong đó sử dụng nhiều
nhân công như : may mặc,tạp hoá, trang sức…Đồng thời việc sản xuất các mặt
hàng đáp ứng nhu cầu tại chỗ của thị trường Việt Nam cũng được chú trọng
như:sản xuất ô tô , xe máy, đồ điện tử, cơ sở hạ tầng, khách sạn…
Nhật bản là 1 trong các đối tác đầu tư rất chú trọng vào khu vực sản xuất vật
chất, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp.Tính đến 2000, công nghiệp nặng chiếm
1/3 số dự án và chiếm 50% tổng vốn đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam; tiếp
sau là các dự án trong công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải, bưu điện…Tỉ lệ này
ngày càng tăng thể hiện sư quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản vào lĩnh vực
công nghiệp. Kết quả thống kê cho thấy khu vực nông nghiệp là khu vực
chưa thực sự hấp dẫn đối với việc thu hút FDI của Nhật Bản. Theo Vụ hợp tác
quốc tế, những năm gần đây, tuy nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ nhưng đầu
tư FDI của Nhật Bản chỉ đạt 18% đứng thứ 2 sau Đài Loan ( 21%). Nguyên nhân
chính dẫn đến việc thu hút FDI đạt hiệu quả thấp là do hệ thống quản lí của
ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mặt khác tính rủi ro của các dự án
FDI nông nghiệp rất lớn do phụ thuộc vào thiên nhiên . Do đó trong những năm
tới cần đẩy mạnh các biện pháp thu hút FDI nhằm tạo dựng nền nông nghiệp
hàng hoá hiệu quả cao, hướng mạnh ra xuất khẩu , trên cơ sở phát huy các lợi thế
so sánh và áp dụng các công nghệ mới.
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam theo ngành (1988-
2005)
(tính tới ngày 31/12/2005 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status