BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÕNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
--------------------
ĐOÀN THỊ HẢI LÝ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG
PHÒNG CHỐNG NGỘ ĐỘC CÁ NÓC CHO NGƢ DÂN
HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN
CHUYÊN NGÀNH Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ: 3.01.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn: PGS.TS Trần Đáng
Hà Nội - 2005
MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đề
1
Chƣơng 1: Tổng quan
1.1. Kiến thức của con ngƣời về an toàn vệ sinh thực phẩm và ngộ
độc cá nóc
3
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
22
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
24
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu
33
3.1. Kết quả thay đổi kiến thức, thực hành của ngƣ dân về cá nóc
sau 1 năm thực hiện mô hình can thiệp
3.1.1. Một số đặc điểm của chủ hộ ngƣ dân 3 xã nghiên cứu của
huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận
33
33
3.1.2. Thay đổi về kiến thức của chủ hộ ngƣ dân 3 xã/thị trấn
Lagi, Tân Bình và Tân Hải trƣớc và sau can thiệp mô hình
36
truyền thông.
3.1.3. Thay đổi về tình hình sử dụng cá nóc của các hộ ngƣ dân 3
xã/thị trấn Lagi, Tân Bình và Tân Hải
62
4.2. Về hiệu quả của mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc
cá nóc ở 3 xã huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận sau 1 năm can
64
thiệp.
Kết luận
68
Kiến nghị
70
Tài liệu tham khảo
71
Phụ lục
77
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới đặc
huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, chúng tôi tiến hành “Đánh giá hiệu quả mô hình
truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc cho ngƣ dân huyện HàmTân tỉnh Bình
Thuận” nhằm mục tiêu:
1. Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành của ngư dân về cá nóc sau một năm
thực hiện mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân
tỉnh Bình Thuận.
2. Đánh giá hiệu quả của mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại
huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận.
Trên cơ sở những kết quả thu đƣợc, đề xuất những khuyến nghị về công tác
truyền thông - giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm cho ngƣời dân khi sử dụng thực
phẩm có nguồn gốc từ cá và cá nóc để giảm thiểu tỉ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc.
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. KIẾN THỨC CỦA CON NGƢỜI VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
VÀ NGỘ ĐỘC CÁ NÓC
1.1.1 Tầm quan trọng của an toàn vệ sinh thực phẩm.
1.1.1.1. Thực phẩm với sức khỏe con người.
Thực phẩm là tất cả mọi đồ ăn, thức uống mà con ngƣời sử dụng hàng ngày
[23].
Thực phẩm cung cấp năng lƣợng cho cơ thể dƣới dạng gluxit, lipit và protein.
Thực phẩm còn cung cấp các axit amin, axit béo, vitamin và các chất cần thiết cho cơ
thể phát triển và duy trì các hoạt động của tế bào và tổ chức. Vì vậy, ăn uống là nhu
cầu cấp thiết hàng ngày của mỗi con ngƣời. Hải Thƣợng Lãn Ông - một danh y Việt
Nam thế kỷ XVIII- cũng rất chú ý đến việc ăn uống của ngƣời bệnh. Ông viết: “Có
Thật vậy, đảm bảo chất lƣợng ATVSTP trƣớc hết là để bảo vệ sức khoẻ con
ngƣời, giảm tỷ lệ mắc bệnh do đó làm giảm chi phí xã hội và chi phí y tế. Theo thống
kê ở Mỹ hàng năm đã xảy ra hàng triệu trƣờng hợp NĐTP, tiêu tốn hàng tỷ đô la. Ở
Anh, chi phí cho vụ ngộ độc Salmonella năm 1992 ƣớc tính từ 560-800 triệu đô la,
trong đó hơn 70% kinh phí đã phải chi cho việc cứu chữa và phục hồi sức khoẻ. Ở Việt
Nam, chi phí mỗi năm cho NĐTP lên tới 500 tỷ đồng [7], [9]. Hơn nữa, đảm bảo
nguồn nhân lực lao động khoẻ mạnh là nhu cầu cầu thiết yếu của một nền kinh tế phát
triển, trong đó đảm bảo chất lƣợng ATVSTP đóng một vai trò quan trọng.
Chất lƣợng an toàn vệ sinh thực phẩm còn là chìa khoá tiếp thị sản phẩm. Nâng
cao chất lƣợng ATVSTP đã mang lại lợi nhuận và uy tín cho nhiều ngành sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp chế biến cũng nhƣ dịch vụ du lịch và thƣơng mại. Thực
phẩm không đảm bảo chất lƣợng, không an toàn sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế. Vụ
dịch xảy ra ở Peru năm 1991 đã làm thất thoát 700 triệu USD trong việc xuất khẩu cá
và các sản phẩm từ cá của nƣớc này. Vấn đề thịt bò điên ở Anh nhập vào các nƣớc
khối Bắc Âu, thực phẩm bị nhiễm dioxin ở Bỉ đã làm cho ngành công nghiệp xuất
khẩu thực phẩm lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Riêng vấn đề kiểm tra độc
chất dioxin trong thực phẩm để khẳng định độ an toàn của thực phẩm đó cũng đã gây
nên những chi phí tốn kém đáng kể, ƣớc tính trên 20 triệu đồng Việt Nam/mẫu xét
nghiệm. Một chuyên gia hãng bánh kẹo Corona-Lotus ở Bỉ cho biết lợi nhuận của họ
bị giảm 47% sau vụ dioxin này [7].
5
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của ATVSTP, nhiều nƣớc trên thế giới cũng
nhƣ Việt Nam đã và đang có những nỗ lực trong công tác đảm bảo chất lƣợng
ATVSTP nhƣng ngộ độc thực phẩm vẫn liên tiếp xảy ra.
1.1.2. Ngộ độc thực phẩm
1.1.2.1. Khái niệm về ngộ độc thực phẩm.
Ngộ độc thực phẩm (NĐTP) là tình trạng bệnh lý xảy ra do ăn, uống phải thực
gây ô nhiễm nhƣ: chì, đồng, asen, thuỷ ngân.
- Do ô nhiễm hoá chất BVTV: các thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc trừ động
vật ăn hại, thuốc diệt mối. Nguyên nhân thƣờng do ăn phải rau quả có tồn dƣ thuốc
BVTV quá cao.
- Do các loại thuốc thú y: thuốc kích thích tăng trƣởng, tăng trọng.
- Do các loại phụ gia thực phẩm: thuốc bảo quản thực phẩm, các loại phẩm màu
độc dùng trong chế biến thực phẩm
1.1.2.3. Tình hình ngộ độc thực phẩm trên thế giới
Ngộ độc thực phẩm là vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia hay Châu lục
nào mà nó là vấn đề của tất cả các nƣớc trên thế giới.
Tại Mỹ và các nƣớc có trình độ kinh tế phát triển và đời sống cao, hàng năm có
khoảng 1/3 số dân bị NĐTP ở thể vừa và nặng, đã gây thiệt hại tới nền kinh tế và cho
toàn thể cộng đồng từ 1 đến 10 tỷ đô la Mỹ/năm. Riêng nƣớc Mỹ, hàng năm xảy ra
khoảng 76 triệu trƣờng hợp cấp cứu tại 325.000 bệnh viện và 5000 ngƣời tử vong do
NĐTP. Ở Australia, trung bình mỗi ngày có khoảng 11.500 ngƣời bị bệnh cấp tính do
ăn uống gây ra. Ở Canada có trên 2 triệu ngƣời NĐTP trong năm, tức là trong 11
ngƣời dân có 1 ngƣời mắc [7], [14], [38].
Vấn đề ngộ độc thực phẩm còn trầm trọng hơn ở các nƣớc đang phát triển: hàng
năm có khoảng 2,2 triệu ngƣời chết do tiêu chảy. Theo thống kê ở Manila- thủ đô
Philippin thì tiêu chảy là một trong mƣời nguyên nhân gây bệnh tật chính, với tổng số
19.498 ca năm 1977 và 19.598 ca năm 1988. Ngộ độc thực phẩm gây ra do phẩy
khuẩn tả (Vibrio cholerae) đƣợc biết từ thiên niên kỷ trƣớc, thƣờng xảy ra ở các cộng
đồng nghèo nhƣ Ấn Độ, Đông Nam châu Á và châu Phi. Đầu năm 1991, bệnh xuất
hiện ở Peru, đã lan tới Mỹ La Tinh và Trung Mỹ, tổng số lên tới 506.798 ngƣời mắc
do sự lan truyền qua nƣớc và thực phẩm [7], [14].
1.1.2.4. Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam
Ở Việt Nam những năm gần đây kinh tế xã hội ngày càng phát triển mạnh,
nhƣng hệ thống kiểm soát ATVSTP lại chƣa đƣợc quan tâm phát triển một cách đồng
bộ nên NĐTP xảy ra ngày càng nhiều hơn với quy mô lớn hơn. Năm 1994, ở thành
ngƣời dân không ăn cá nóc, không chế biến để lƣu thông các sản phẩm cá nóc trên thị
trƣờng, không buôn bán vận chuyển các sản phẩm chế biến từ cá nóc trên thị trƣờng.
Kiểm tra ngộ độc cá nóc, nghiên cứu về ngộ độc cá nóc [4], [7], [17].
1.1.3. Kiến thức, thực hành về cá nóc và ngộ độc thực phẩm do cá nóc
8
1.1.3.1. Đặc điểm của cá nóc
a) Phân bố cá nóc [15], [17], [35], [36].
Tổ tiên của các loài cá nóc ở vùng biển nhiệt đới từ hàng triệu năm trƣớc đây.
Ngày nay, ngƣời ta đã xác định đƣợc có tất cả 131 loài cá nóc, phân bố rộng khắp trên
thế giới nhƣng tập trung nhiều ở biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong đó, có 55 loài
sinh sống ở vùng biển Nhật Bản, 66 loài sinh sống ở vùng biển Việt Nam.
Ở biển Việt Nam, cá nóc đƣợc thấy suốt dọc từ Quảng Ninh đến Kiên Giang
nhƣng tập trung chủ yếu ở biển miền Trung.
b) Phân loại cá nóc [16], [17].
Ở biển Việt Nam có 66 loài cá nóc, thuộc 12 giống và 4 họ.
- Họ cá nóc hòm (Ostracointidae) có 2 giống 13 loài
Giống cá nóc sừng (Lactoria)
Giống cá nóc hòm (Ostracion)
Họ cá nóc 4 răng (Tetraodontidae) có 7 giống 43 loài
Giống cá nóc mõm dài (Lagocephalus)
Giống cá nóc vằn (Fugu)
Giống cá nóc mõm rộng (Amblyrhynchotes)
Giống cá nóc răng rùa (Chelonodon)
Giống cá nóc (Tetraodon)
Giống cá nóc chuột (Arothron)
Giống cá nóc dẹt (Canthigaster)
- Họ cá nóc nhím (Diodontidae) có 2 giống 9 loài
Chỉ có một loài (Triodon bursarius), rất hiếm, ít khi gặp.
Thân tƣơng đối thô, hình bầu dục, mõm nhọn, ngắn, có 3 răng chắc và sắc. Các
vây có hình quạt giấy, mắt tròn to, cuống đuôi ngắn. Lƣng mầu nâu nhạt. Bụng mầu
trắng xám và có thể phình to khi bị kích thích hoặc tự vệ. Kích thƣớc: 35cm. Sống ở
vùng có rạn san hô hoặc rạn đá.
d) Độc tố cá nóc (Tetrodotoxin) [15], [17], [47].[48]
- Công thức hoá học: C11H17O8N3
- Tính chất của độc tố:
11
Tetrodotoxin (TTX) là độc tố thần kinh, tan trong nƣớc và bền với nhiệt. Độc tố
này chỉ bị phá huỷ hoàn toàn ở 2000C trong vòng 10 phút hoặc trong môi trƣờng axit
chlohydric 0,2%- 0,5% trong 8 giờ. Nếu đun sôi ở 1000 trong 6 giờ chỉ giảm đƣợc một
nửa độc tính. Do vậy bằng các cách chế biến thông thƣờng đều không làm mất đi tính
độc của nó. Vì tính tan trong nƣớc nên TTX rất dễ ngấm vào thịt cá trong khi giết mổ.
- Sức tác động của độc tố:
Độc lực của độc tố cá nóc đƣợc xác định bằng đơn vị chuột (Mouse Unit MU): Một đơn vị chuột (MU) là lượng độc tố làm chết một con chuột nặng 20g
trong vòng 30 phút.
Sức tác động của độc tố: là lượng độc tố của 1 gam nội tạng có bao nhiêu đơn
vị chuột (MU/g). Lấy đơn vị này làm chuẩn, ngƣời ta có thể đo lƣờng đƣợc sức tác
động của độc tố ở mức độ nào. Ví dụ: lƣợng độc tố đƣợc chiết ra từ 10 gam nội tạng cá
nóc làm chết 10.000 con chuột nặng 20g, thì toàn bộ lƣợng độc tố trong 10 gam nội
tạng đó là 10.000 MU và sức tác động của độc tố đƣợc xác định nhƣ sau:
10.000 MU
10g
phân bố ở các bộ phận khác nhau.
+Vây cá và môi cá: Độc tố ở vây có rất ít. Tuy nhiên vây và môi ở các loài cá
có độc ở da thì cũng có độc. Chỉ có vây của cá nóc hổ và cá nóc mắt đốm là an toàn.
+ Da và các cơ quan dƣới da: Độc tính của da và các cơ quan dƣới da thƣờng
giống nhau. Những loài da đen thông thƣờng nhƣ cá nóc hổ, cá nóc mắt đốm đƣợc coi
là không có độc còn các loại cá da mầu nâu đỏ hoặc xanh lục thƣờng có độc và không
nên ăn.
+ Bộ phận sinh dục: Tinh hoàn thƣờng không có độc, ngoại trừ tinh hoàn của cá
nóc cỏ, cá nóc thƣờng, cá nóc báo đen. Còn buồng trứng là bộ phận nội tạng nguy
hiểm nhất, thƣờng có độc tố cực mạnh gây chết ngƣời, ngoại trừ buồng trứng của các
loài cá nóc vùng biển nội địa Nhật Bản nhƣ cá nóc thu trắng, cá nóc thu đen, cá nóc
thu da chùng và cá nóc lƣng nhẵn. Buồng trứng cá nóc hổ có lƣợng độc tố cao nhất, có
thể làm chết 12 ngƣời.
+ Gan cá: Giống nhƣ buồng trứng, gan là nơi có sức tác động của độc tố mạnh
nhất. Theo kết quả nghiên cứu của TS Tanikewa (1945), hàm lƣợng độc tố ở gan cá
nóc tím lên tới 325.000 MU và với hàm lƣợng độc tố gây chết ngƣời là 10.000 MU thì
một buồng gan của một con cá nóc tím có thể làm chết 32 ngƣời, còn một buồng gan
cá nóc hổ có thể làm chết 10 ngƣời.
+ Dạ dày và ruột: Độc tính ở dạ dày và ruột của cá nóc hổ, cá nóc mắt đỏ, cá
nóc sọc vằn, cá nóc Oblongus có độc tố yếu. Ở Cá Nóc Flavidus có độc tố mạnh, và ở
cá nóc cỏ có độc tố chết ngƣời.
13
+Thận: Độc tính của thận chƣa xác định đƣợc. Do vậy cần xử trí thận cá nóc
nhƣ các bộ phận nội tạng khác.
+ Máu: Máu của cá nóc báo đen, cá nóc mắt đỏ, cá nóc hổ đƣợc coi là không có
độc. Các loài cá nóc khác thì chƣa xác định đƣợc rõ ràng. Tuy nhiên, độc tố cá nóc có
đặc tính tan trong nƣớc nên dễ nhiễm vào máu.
Dị cảm, tê ngứa ở lƣỡi, họng, môi, mặt và chi.
Choáng váng, chóng mặt, đau đầu, cảm giác nghẹt thở, đau ngực, vã mồ hôi,
mặt đỏ, tiết nƣớc dãi.
- Hội chứng rối loạn vận động:
Nói khó, nuốt khó tăng dần.
Cứng hàm, cứng lƣỡi rồi yếu dần.
Run giật, liệt vận động nhãn cầu, cơn động kinh.
Yếu, liệt chi dƣới.
Liệt toàn thân, liệt hô hấp
Đảm bảo hô hấp
Duy trì huyết áp > 90mHg: truyền dịch Natriclorua 0,9%, Glucose 5%.
- Rửa dạ dày:
Chỉ định: ngƣời bệnh đến sớm trƣớc 3 giờ và còn tỉnh táo.
Rửa dạ dày bằng dung dịch kiềm 2% hoặc 1,4%.
- Hồi sức chống sốc:
Đảm bảo huyết động: truyền dịch Natriclorua 0,9%, glucose 5%.
Theo dõi chức năng sống liên tục trong 24 giờ đầu.
16
Đảm bảo thông khí.
- Điều trị triệu chứng.
1.1.3.3. Kiến thức, thực hành của người dân về cá nóc và ngộ độc cá nóc.
Ngộ độc cá nóc nhƣ đã nêu là vấn đề y tế của các nƣớc có ăn cá nóc đặc biệt là
ở Việt Nam. Nhận thức đƣợc tính cấp bách của vấn đề và hƣởng ứng Thông tƣ liên
tịch số 15/2001/TTLT/YT-TS ngày 18/7/2001 về việc phối hợp trong phòng chống
ngộ độc cá nóc nên đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu về ngộ độc cá
nóc nhƣ:
Phùng Xuân Tý, Bùi Công Nghiêm, Trần Văn Chí và cộng sự (2001) nghiên
cứu nhận thức, thái độ, thực hành về cá Nóc của ngƣời dân vùng biển Quảng Trị. Kết
quả nghiên cứu hồi cứu cho thấy: tại 12 xã ven biển của 4 huyện từ năm 1997 đến
8/2001 xảy ra 11 vụ ngộ độc cá nóc với số mắc 52 và số tử vong là 10. Kết quả điều
tra cắt ngang 1239 hộ gia đình cho thấy: tỷ lệ hộ biết nhận dạng cá nóc là 99,91%, biết
ăn cá nóc có thể ngộ độc là 86,06%, biết bộ phận gây ngộ độc 86,06%, tỷ lệ hộ ăn cá
nóc 71,02% [28].
Phan Thị Thuỷ và cộng sự (2002) nghiên cứu tình hình ngộ độc cá nóc tại
Quảng Bình trong 2 năm 2000-2001 và giải pháp phòng chống cho thấy: trong 2 năm,
toàn tỉnh đã có 51 trƣờng hợp ngộ độc cá nóc và 6 trƣờng hợp tử vong do cá nóc. Các
Nội dung quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm bao gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về
an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn vệ
sinh thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực
phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm;
- Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Quản lý việc công bố tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, chứng nhận đủ
điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực an toàn vệ sinh
thực phẩm;
- Đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ về an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về
an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Hợp tác quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật
về an toàn vệ sinh thực phẩm.
18
1.2.2. Mô hình phòng chống ngộ độc thực phẩm, ngộ độc cá nóc [18], [27].
1.2.2.1. Các mô hình phòng chống ngộ độc thực phẩm và ngộ độc cá nóc.
Để công tác bảm đảm an toàn vệ sinh thực phẩm đạt đƣợc hiệu quả cao, Cục An
toàn vệ sinh thực phẩm đã tiến hành xây dựng những mô hình phòng chống ngộ độc
thực phẩm: mô hình chợ an toàn vệ sinh thực phẩm ở Hà Nội, mô hình bảo đảm an
toàn vệ sinh thức ăn đƣờng phố tại 5 phƣờng Hàng Bông, Văn Miếu, Nghĩa Đô, Kim
Mã, Giảng Võ của Hà Nội…
a) Mô hình chợ an toàn vệ sinh thực phẩm:
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá.
Cục ATVSTP cũng đã xây dựng mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá
nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận. Chúng tôi tiến hành đánh giá để trên cơ sở
những kết quả thu đƣợc đề xuất những khuyến nghị về công tác truyền thông- giáo dục
ATVSTP cho ngƣời dân khi sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ cá và cá nóc nhằm
giảm thiểu tỷ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc
1.2.2.2. Các kỹ thuật đánh giá mô hình [13].
Theo Green và Kreuter (1991), đánh giá đƣợc chia làm 3 loại sau:
-
Đánh giá quá trình.
-
Đánh giá tác động.
-
Đánh giá hiệu quả.
20
Chương trình
Nội dung?
Phương pháp?
Phân bố thời gian?
Vật liệu?
Quá
21
đánh giá đó là đánh giá tác động và đánh giá quá trình để vạch ra những vùng cần cải
thiện.
- Đánh giá hiệu quả là xem xét sự cải thiện về tình trạng sức khoẻ của cộng động: Tỉ lệ
tử vong? Tỉ lệ mắc bệnh? Chất lƣợng cuộc sống?...Nói cách khác, đánh giá hiệu quả là
xem xét chƣơng trình có thành công hay không. Mục đích của các chƣơng trình y tế là
cải thiện sức khoẻ cộng đồng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho nên nếu chƣơng trình
chỉ dừng lại ở việc thay đổi về kiến thức và hành vi nhƣng không cải thiện đƣợc tình
trạng sức khoẻ thì vẫn chƣa đạt đƣợc đích của chƣơng trình.
22
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tƣợng:
-
Chủ hộ ngƣ dân và hộ ngƣ dân.
-
Sổ sách báo cáo về tình hình kinh tế xã hội tại UBND xã.
-