TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐIỀU DƯỠNG- KỸ THUẬT Y HỌC
BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN KIẾN THỨC CHĂM SÓC RĂNG
MIỆNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI
BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
GVHD: TH.S Nguyễn Thị Ngọc Phương
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
-
NCT: Người cao tuổi
2
MỤC LỤC
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay dân số già của thế giới đang gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê của Liên
Hợp Quốc, cả thế giới có 600 triệu người cao tuổi (NCT) vào năm 2000. Ở các nước
Việt Nam là một trong vài nước có tỷ lệ người mắc bệnh sâu răng và viêm quanh răng
cao nhất thế giới.Nhưng việc chăm sóc răng miệng lại ít được quan tâm, nhất là NCT
(Mai Hương, 2009). Theo 1 nghiên cứu tại Hà Nội về tình trạng, nhu cầu chăm sóc sức
khỏe răng miệng và đánh giá kết quả 2 năm thực hiện nội dung chăm sóc răng miệng
ban đầu cho thấy có 79,1% đến 80,8% NCT không hiểu biết về bệnh răng miệng. NCT
bị bệnh răng miệng điều trị tại nhà là 73,3%. NCT không đi khám định kỳ là 99,3%.
NCT chưa bao giờ đi khám răng là 51,9%. Và 45,5% NCT không chải răng (Phạm Văn
Việt, 2004, p. 143). Một nghiên cứu khác ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy thói quen
chải răng 1 lần trong ngày (12%) nhưng vẫn còn một số ít chưa bao giờ chải răng (1%),
thói quen chải răng ngang kết hợp chải dọc (38%), vẫn còn thói quen chải không theo
kiểu nào (18%). Khảo sát cho thấy 79% người dân dùng bàn chải răng rất thường
xuyên, 20% dùng tăm tre, 5% dùng chỉ tơ nha khoa và ít người dùng than hay vỏ cau.
Thói quen sử dụng thức ăn, thức uống: 23% người dùng trái cây tươi vài lần trong tuần.
Hơn 50% người ít khi dùng bánh ngọt, nước ngọt,33% dùng trên vài lần/ngày.Nghiên
cứu nà cũng cho thấy số người không đi khám răng định kỳ trong 1năm chiếm tỷ lệ
39%, đây là 1 tỷ lệ khá cao. Có một tỷ lệ dùng chỉ tơ nha khoa rất thường xuỵên: viên
chức kỹ thuật (24%), công nhân viên chức (11%), kinh doanh (7%), thường xuyên sử
dụng tăm tre thì nhóm công nhân lao động chiếm tỷ lệ cao (35%). Tỷ lệ người dân
không đi khám răng trong năm cao nhất thuộc về nhóm người già yếu- nội trợ- thất
nghiệp (40%) và nhóm kinh doanh (48%). Trình độ văn hóa có ảnh hưởng đến nhận
thức thay bàn chải răng: 2 đến 3 tháng thay bàn chải 1 lần ở người có trình độ đại học
(49%), kế đến trung học (44%) (Ngô Thị Mỹ Hòa và Ngô Đồng Khánh, 2009). Qua đó
có thể thấy kiến thức về chăm sóc răng miệng của mọi người là chưa cao. Bên cạnh đó,
trên thế giới và Việt Nam các nghiên cứu khảo sát các bệnh về răng ở NCT rất ít. Xuất
phát từ những điều trên, đề tài “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức chăm
sóc răng miệng ở NCT tại Bệnh Viện Chợ Rẫy”. Nhằm mục đích tìm ra được các
yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức chăm sóc răng miệng ở NCT tại bệnh viện trong quá
trình điều trị của các bệnh nhân và góp phần đóng góp thêm tài liệu để phục vụ cho các
Vệ sinh răng miệng là những phương pháp nhằm đem lại sự sạch sẽ và khỏe mạnh
cho môi trường miệng, giúp giữ gìn và tái lập sức khỏe răng miệng. Cụ thể là ngăn
chặn sự tích tụ mảng bám vi khuẩn và mảnh vụn thức ăn trên bề mặt nướu và răng,
kích thích làm nướu săn chắc, tăng sừng hóa, tăng tuần hoàn nướu, ngăn ngừa những
bệnh răng miệng. Mục đích của việc chăm sóc răng miệng nhằm mục đích tăng cường
sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các phương pháp chăm sóc răng miệng cơ
bản là chải răng, súc miệng và dùng chỉ nha khoa.
2. Tình hình chăm sóc răng miệng tại Việt Nam.
Theo thống kê của bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương năm 2011, trên 90%
người dân Việt Nam có vấn đề về sức khỏe răng miệng tập trung ở các bệnh như sâu
răng, viêm nướu (viêm quanh răng), 75% dân số bị sâu răng vĩnh viễn. (Răng Hàm
6
Mặt, 2013). Các thống kê mới nhất cho thấy, bệnh mắc nhiều nhất là sâu răng, viêm
nướu. Có đến 75% dân số bị sâu răng vĩnh viễn. Lượng người lớn có bệnh quanh răng
là 93% - 98%. (Thiên Chương, 2013). Hầu hết mọi người tìm đến phòng khám đều đã
ở tình trạng nặng như đau nhức, viêm mủ. Các điều tra mới đây cho thấy, 55% người
dân không kiểm tra sức khỏe răng miệng và không có kiến thức chăm sóc răng miệng.
(Thiên Chương, 2013). NCT, nhất là ở vùng nông thôn hay miền núi, thường ít quan
tâm tới việc chăm sóc răng miệng. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Việt tại Hà Nội cho
kết quả 90% NCT trong diện nghiên cứu không hiểu biết hay chỉ hiểu biết một phần về
vai trò, chức năng răng miệng, cũng như về bệnh sâu răng, bệnh quanh răng, và theo
kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở
lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào. (Đại học Y Hà Nội, 2012).
3. Tình hình kiến thức về sức khỏe và chăm sóc răng miêng ở Người cao tuổi trên
thế giới
"Sức khỏe" phụ thuộc vào sự hiểu biết của cá nhân trong những yếu tố ảnh hưởng
người cao tuổi đã xác nhận rằng giáo dục sức khỏe cho các thành viên chính của gia
đình ảnh hưởng tích cực đến hành vi sức khỏe của các nhóm mục tiêu , đó là bệnh nhân
chúng tôi tăng cường định nghĩa về hành vi sức khỏe , đánh giá toàn diện mức độ và
các yếu tố của kiến thức hành vi sức khỏe ở người cao tuổi , và phân tích các yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến kiến thức hành vi sức khỏe của NCT (Murphy HR, Wadham
C, Hassler-Hurst J, Rayman G, Skinner TC, 2012).
Ở Việt Nam, rất khó tìm thấy nghiên cứu lớn nhỏ nào liên quan tới tình hình kiến
thức chăm sóc sức khỏe đặc biệt liên quan tới vấn đề vệ sinh răng miệng ở NCT.
4. Kiến thức vệ sinh răng miệng
4.1. Vệ sinh răng miệng đúng cách
Vệ sinh răng miệng tốt thể hiện bằng miệng trông khỏe mạnh và không có mùi
hôi. Điều ngày có nghĩa là: răng của bạn được sạch sẽ và không vướng vụn thức ăn,
nướu có màu hồng và không tổn thương hoặc chảy máu khi bạn chải răng hay khi dùng
chỉ nha khoa.
8
4.2. Phương pháp để vệ sinh răng miệng tốt
4.2.1. Kiến thức chung về vệ sinh răng miệng
Ngày trước, các nha sĩ khuyên nên chải răng ngay sau bữa ăn. Nhưng các
nghiên cứu sau này chứng tỏ mảng bám chỉ gây hại cho răng và nướu khi chúng trưởng
thành sau một thời gian nhất định nào đó. Các nghiên cứu cho thấy nếu đánh răng đúng
phương pháp và sạch mảng bám thì tình trạng bệnh nha chu giữa 2 nhóm người (nhóm
chải 1 lần mỗi ngày và nhóm chải răng sau khi ăn) không có gì khác nhau. Điều quan
trọng là làm sao cho mọi người biết cách chải răng sạch mảng bám và đúng phương
pháp. Đây là phương pháp dễ thực hiện thì vì có thể chải sạch mảng bám.(Bệnh viện
thẩm mỹ, 2012).
lần để bảo đảm cho răng được sạch.Với mặt ngoài của răng, tuyệt đối không được chải
theo chiều ngang mà phải chải theo chiều đứng, chải phất từ dưới lên trên và từ trên
xuống dưới, hoặc chải xoay để giảm bớt lực chải. Vì nếu chải theo chiều ngang các
răng sẽ bị mòn khuyết vùng cổ răng, nơi không có men răng che chở. Chải ngang và
thẳng góc sẽ tạo nên một lực ma sát lớn ở ngay vùng cổ răng của các răng từ răng nanh
đến răng hàm phía trong. Bàn chải dù có mềm nhưng với thời gian kéo dài, lâu năm nó
cũng như một lưỡi cưa để mài mòn cổ răng (Trương Lam Sơn, 2013). Nói chung, để
răng luôn chắc khỏe, sạch và đẹp chúng ta cần chải răng đúng cách theo các bước sau:
1) Chải mặt ngoài của các răng bằng cách đặt bàn chải nghiêng một góc 45○ hướng
về phía đường viền nướu. Rung nhẹ bàn chải với biên độ ngắn rồi chải từ nướu
cho đến bờ cắn như hình 1.
2) Chải mặt trong của các răng với các động tác giống chải mặt ngoài như hình 2.
3) Chải mặt nhai của các răng bằng cách cầm bàn chải ngang và đánh qua lại như
hình 3.
4) Còn mặt trong của các răng phía trước, chúng ta nghiêng bàn chải hơi đứng và
dùng đầu bàn chải đánh nhẹ lên xuống theo chiều răng mọc như hình 4.
5) Chà lưỡi như hình 5 bằng động tác quét theo chiều từ trong ra ngoài để lấy ra
các mảnh thức ăn còn dính và làm cho hơi thở khỏi bị hôi (Nha khoa, 2011).
4.2.4.
Cách dùng chỉ tơ nha khoa
10
Thực ra, bàn chải đánh răng không thể làm sạch hết được các kẽ răng mặc
dù chúng ta có chăm chỉ đánh răng ngay sau khi ăn uống nhưng vẫn còn nhiều chất bẩn
vẫn bám ở các kẽ răng, cổ răng những nơi mà lông của bàn chải đánh răng không thể
Khanh, 2007).
4.2.5.
Cách vệ sinh niêm mạc nướu
Súc miệng bằng nước súc miệng được khuyên dùng để làm sạch các niêm
mạc nướu cũng như giữ cho hơi thở thơm tho cả ngày. Thông thường chúng ta nên giữ
nước súc miệng trong miệng khoảng 20 – 30 giây vì đây là thời gian cần thiết để các
hoạt chất phát huy tác dụng, không nên ngậm quá nhanh cũng như quá lâu vì nếu ngậm
quá nhanh thì các chất kháng khuẩn chưa kịp diệt khuẩn, còn nếu quá lâu thì nước súc
miệng sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho niêm mạc miệng vốn mỏng manh. Không pha
loãng nước súc miệng nếu không có hướng dẫn, vì phần lớn các nước súc miệng hiện
nay đều được chế để dùng ngay. Nên nếu không có hướng dẫn gì thêm thì các bạn
không nên tự ý pha thêm nước sẽ làm cho nồng độ hoạt chất bị loãng và không đủ sức
để diệt khuẩn, hay quá lạm dụng nước súc miệng, không dùng quá ba lần trong ngày.
Mặc dù nước súc miệng đem lại cảm giác thoải mái cho người dùng nhưng nếu quá
lạm dụng sẽ gây khô miệng do nồng độ cồn trong loại chế phẩm này khá cao, lâu ngày
có thể dẫn đến hôi miệng. Và đặc biệt, tuyệt đối không dùng nước súc miệng thay thế
cho kem đánh răng. Tuy nước súc miệng sử dụng đơn giản và thuận tiện nhưng không
thể thay thế cho kem đánh răng vì sản phẩm này chỉ chứa các hoạt chất sát khuẩn nhẹ.
Để đạt hiệu quả cao thì tốt nhất chúng ta nên đánh răng trước khi sử dụng nước súc
miệng và không ăn hay uống gì ngay sau khi dùng nước súc miệng, vì sẽ làm các hoạt
chất trong nước súc miệng mất tác dụng, bị cuốn theo tuyến nước bọt, tốt nhất là nên
đợi 30 phút sau khi sử dụng nước súc miệng. (Nha khoa HappySmilesLand, 2011).
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến vệ sinh răng miệng
4.3.1. Chế độ ăn
Chế độ ăn ảnh hưởng rất lớn đến răng, miệng. Trong đó những thực phẩm
không khuyên dùng: đường, sô-đa, cà phê, trà, rượu…Vì đường ảnh hưởng rất mạnh
đến răng, gây sâu răng nhanh chóng. Nước sô- đa cũng nên hạn chế uống chứa nhiều
Do điều kiện cuộc sống khó khăn của những thập niên trước, người cao tuổi tại
Việt Nam không có cơ hội tiếp cận với những kiến thức chăm sóc sức khỏe răng miệng
ngay từ khi họ còn trẻ, đó là lý do vì sao họ không có được một nền tảng răng miệng
13
tốt. Theo thời gian, răng miệng chịu sự tấn công của vi khuẩn và các yếu tố khác, dẫn
đến răng và nướu bị suy yếu, mang theo các bệnh lý như sâu răng, đau răng, viêm nha
chu, viêm tủy…
5.2. Trình độ học vấn
Trên thực tế, trình độ học vấn có sự ảnh hưởng rất lớn đến việc chăm sóc răng
miệng.Những người có trình độ càng cao thì càng ý thức được tầm quan trọng của việc
chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc răng miệng nói riêng. (Orem2001) đã chứng
minh được rằng kiến thức thức là sức mạnh để có thể thực hiện hành vi tự chăm sóc.
Khi nhận thức càng cao thì con người càng chú ý hơn về việc chăm sóc sức khỏe cho
bản thân và biết cách né tránh tổn thương tốt hơn. Họ ý thức, nhận biết được lợi ích của
việc sở hữu một sức khỏe tốt.
Theo kết quả của một nghiên cứu cho thấy nhóm có trình độ học vấn từ cấp 3
trở lên có kiến thức về bệnh nha chu cũng như mối liên quan giữa bệnh nha chu và
bệnh mạch vành cao hơn, thái độ và hành vi chăm sóc răng miệng tích cực hơn.tỷ lệ
viêm nha chu ở người có trình độ cấp 2 trở xuống chiếm tỳ lệ cao hơn (Lê Thị Lan
Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Bích Vân, 2013). Kiến thức có liên quan rất ý nghĩa
đến việc chăm sóc răng miệng.
Kiến thức, tháí độ, thực hành về chăm sóc răng miệng ảnh hưởng nhiều bởi học
lực, khối lớp và trình độ học vấn của cha mẹ (Tôn Nữ Hồng Vi2010). Trình độ học vấn
củ cha mẹ đóng vai trò lớn trong kiến thức thực hành chăm sóc răng miệng của học
thì tỷ lệ HS không chải răng ở người dân tộc rất cao. HS người dân tộc Dao là 97,71%,
HS người dân tộc Nùng 96,15%, HS người dân tộc H’mông 95,52%, kể cả HS người
Kinh cũng có tỷ lệ 25,07%
Nhìn chung trên thế giới, những nước đang phát triển tỉ lệ sâu răng còn cao,
những nước đã phát triển thì tỉ lệ sâu răng giảm rõ rệt nhờ các chương trình chăm sóc
sức khoẻ răng miệng cộng đồng, sự cải thiện về các dịch vụ nha khoa phòng ngừa.
15
5.4. Nghề nghiệp
Có sự khác biệt về thói quen chăm sóc răng miệng giữa các nhóm về nghề
nghiệp: công chức viên chức chăm sóc răng miệng tốt hơn (Ngô Thị Mỹ Hòa, Ngô
Đồng Khanh, 2009). Nhìn chung ta thấy nhân viên y tế sẽ chăm sóc răng miệng tốt
nhất, vì họ đã được đào tạo bài bản qua trường lớp, tiếp đến là người có trình độ học
vấn cao sẽ ý thức tốt vấn đề này.
Có nhiều người bỏ qua các bước chăm sóc và bảo vệ răng miệng thường xuyên. Trong
đó có cả giới văn phòng, họ thường dùng cà phê để tỉnh ngủ, ăn quà vặt để giảm đói, ít
uống nước càng làm tăng tỷ lệ mắc phải các bệnh răng miệng. Theo tỷ lệ thống kê,
khoảng 75% dân số thế giới mắc các bệnh về răng miệng ở những mức độ khác nhau,
và tỷ lệ ở nam cao hơn nữ. Việt Nam cũng không ngoại lệ, chẳng hạn qua kết quả khám
sức khỏe cho khách hàng là nhân viên văn phòng tại Victoria Healthcare Mỹ, Mỹ cho
thấy bệnh về nướu răng chiếm đa số (Tú Uyên, 2014).
Tổ chức Nha khoa Thế giới khuyên nên đánh răng 2 lần/ngày, mỗi lần 2 phút
với bàn chải có lông mềm ngay sau bữa ăn và kết hợp dùng chỉ nha khoa. Tuy nhiên,
có nhiều lý do khiến các nhân viên văn phòng không thể mang theo bàn chải đánh răng
hoặc không thể vệ sinh răng miệng ngay sau giờ ăn trưa. Trong trường hợp này, có thể
súc miệng bằng nước và dùng chỉ nha khoa để loại bỏ các mảng bám thức ăn giữa các
kẽ răng. Tăm xỉa răng không phải là phương pháp vệ sinh răng lý tưởng, vì nếu xỉa
răng không đúng cách dễ gây mòn răng, tổn thương nướu. Nhai kẹo cao su không
nước đang phát triển sâu răng có khuynh hướng tăng từ thấp đến trung bình hay cao do
kinh tế phát triển mà giáo dục sức khỏe cộng đồng không theo kịp nền kinh tế.
Nhìn chung, môi trường sống có ảnh hưởng rất lớn đến sự hiểu biết và các kiến
thức về chăm sóc răng miệng trong cộng đồng. Và chính nó sẽ góp phần vào việc quyết
định sự tăng hay giảm tỉ lệ mắc các bệnh về răng miệng trong dân số.
5.6. Truyền thông
Từ năm 1996-2012, các hoạt động giáo dục và chăm sóc răng miệng cộng đồng
do Colgate hợp tác cùng Bộ giáo dục & Đào Tạo, Hội răng hàm mặt và bệnh viện răng
hàm mặt Trung Ương - Bộ Y Tế triển khai trên cả nước, đã tiếp cận được hơn 27 triệu
người dân Việt Nam. Đặc biệt, chương trình Tháng Sức Khỏe Răng Miệng được tổ
17
chức thường niên vào tháng 9 luôn là tiêu điểm được người dân tham gia nồng nhiệt.
Từ đây, chương trình đã tiếp cận hơn 2 triệu học sinh và toàn thể người dân, cộng đồng
trên toàn quốc để giúp tất cả mọi người hình thành nên thói quen và ý thức chăm sóc
răng miệng đúng cách. Cùng với đó, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Phạm
Văn Đồng, ngày 21/10/1987, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục đã ban hành Thông tư liên bộ số
23/TT-LB quy định về nhiệm vụ, tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Năm 1988, Chương trình đã được triển khai ở Hà
Nội, Hải Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tới
những năm của thập niên 1990, hầu hết các tỉnh trong cả nước đã có và lần lượt được
phủ kín ở nhiều tỉnh. Nhờ có chương trình này mà tất cả cộng đồng, từ trẻ em đến
người lớn tuổi đã được chăm sóc răng miệng toàn diện. Cho thấy công tác truyền thông
đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp đầy đủ các kiên thức về răng miệng nhằm
nâng cao nhận thức cộng đồng và có những hành động thiết thực trong chăm sóc, bảo
vệ răng miệng một cách tốt nhất cho bản thân đồng thời tuyên truyền cho gia đình và
cộng đồng những kiến thức bổ ích về vấn đề chăm sóc răng miệng.
đúng phương pháp dùng chỉ nha khoa. Một số người cao niên có thể tự cà răng bằng
cách dùng một dụng cụ giữ dây cà. Người cao tuổi có thể cần thêm chất fluoride,
thường được bàn dưới dạng chất xúc miệng hay chất gel. Một số sản phẩm bán tự do,
trong khi những thứ khác phải có toa, vì vậy hảy tham khảo với nha sĩ xem sản phẩm
fluoride có giúp được gì không cho người cao tuổi. Những người dùng nước súc miệng
là một thói quen tốt vì nước súc miệng cũng giúp giữ cho không hôi miệng và giúp
giảm vi khuẩn trong miệng. Những người cao niên nên tới nha sĩ ít nhất hai lẩn trong
một năm để được làm sạch răng và khám răng. Những người không còn răng nào cũng
nên đi khám nướu và tế bào miệng một năm một lần. Đối với những người khó tự
truyền đạt, người nhà hoặc người chăm sóc nên cung cấp cho nha sĩ đầy đủ các thông
tin sau mỗi kì đi khám. Thông qua việc đi khám răng định ký sẽ giúp giữ cho miệng
được khỏa mạnh và nhận diện những chứng bệnh về răng. ( The Ohio Dental
Association, 2005)
Ý thức về việc tự chăm sóc răng miệng của từng cá nhân được thể hiện qua
việc bỏ hút thuốc lá và hãy tham gia những chương trình hay sản phẩm để ngưng hút
thuốc lá. Ý thức tự chăm sóc răng miệng còn được thể hiện qua việc bảo trì chế độ dinh
dưỡng có chứa đầy đủ vitamin, chất khoáng và các chất khác như calcium và chất
protein. Một chế độ ăn uống lành mạnh có thể giúp cho việc giử cho miêng có sức
19
khỏe tốt, do đó chúng ta cẩn tránh hoặc chỉ dùng giới hạn những đổ ăn và đồ uống có
lượng đường và chất tinh bột cao mà có dinh dưỡng thấp; giới hạn việc dùng rượu và
nước ngọt, không dùng đường – chất axit vì những nước uống này có thể góp phần làm
hư răng và bệnh về nướu ( The Ohio Dental Association, 2005). Đối với người cao tuổi
thì ta cần phải cố gắng cung cấp những bữa ăn đều đặn và đủ chất bổ vì ở mọi đối
tượng, dinh dưỡng tốt là một phần quan trọng của việc có sức khỏe răng miệng tốt
6. Lợi Ích Của Việc Chăm Sóc Răng Miệng Đúng Cách
Chăm sóc răng miệng thường xuyên và đúng cách sẽ giúp chúng ta có một hàm
Sự hiện diện của hai hoặc trên hai vi khuẩn gây viêm nhiễm khoang miệng
cũng được ghi nhận trên 64% các mảng sơ vữa động mạch vành của các bệnh nhân
bệnh lý tim mạch có kèm viêm nha chu (Gaetti-Jardim,2009)...
Vì vậy, chăm sóc răng miệng đúng cách sẽ giúp duy trì được sức khỏe tim mạch
nói riêng và sức khỏe tổng thể nói chung.
6.4. Duy trì bộ nhớ
Nếu răng bị sưng tấy và cháy máu sẽ có ảnh hưởng xấu lên não đặc biệt là bộ
nhớ và khả năng nhận thức.”Bệnh răng miệng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh
Alzheimer.Các nhà nghiên cứu Đại học Columbia phát hiện ra rằng những người 60
tuổi trở lên mắc bệnh răng miệng hoặc rụng nhiều răng sẽ có vấn đế về bô nhớ hơn
những người đồng tuổi” (Tuyết Trang, 2013)
Vì vậy, chăm sóc răng miệng đúng cách sẽ giúp cho việc lưu giũ thông tin tốt
hơn.
6.5. Tăng cường súc đề kháng
Những người không chú ý đến việc chăm sóc răng miệng sẽ có tỉ lệ mắc các
bệnh đặc biệt là các bệnh viêm dạng khớp trong cơ thể cũng như bị nhiễm trùng cao
hơn rất nhiều so với những người chú ý đến vấn đề này. Chăm sóc răng miệng sẽ giúp
cho việc chống lại những yếu tố gây bệnh tốt hơn.
7. Những quan điểm sai lầm về chăm sóc răng miệng
Có không ít những ngộ nhận về chăm sóc răng miệng hàng ngày – điều tưởng
chừng như biết rồi khổ lắm nói mãi (Nguyễn Bá Lân, 2013).
Vậy để chăm sóc răng miệng được một cách có hiệu quả nhất thì trước hết cần phải
loại bỏ những quan niệm sai lầm thường gặp về chăm sóc răng miệng. Dưới đây là một
số quan niệm sai lầm thường gặp:
7.1. Chỉ cần đánh răng 1 phút
là quan niệm sai lầm, vì 3 phút là thời gian tối thiểu nhất mới có thể làm sạch
cả 2 hàm trên dưới. Điều này có thể loại bỏ được nhiều loại vi trùng trực chờ trong hầu
họng, trên nướu răng, chúng sẽ tấn công khi ngủ say.
Tình trạng viêm nướu răng ở những người hút thuốc cao gấp 4 lần nếu so với
nhóm không hút thuốc, theo kếu quả nghiên cứu ở Hoa Kỳ. Hậu quả này đương nhiên
tỷ lệ thuận với số điếu thuốc mỗi ngày.
7.7. Khi nào bị đang răng mới đến nha khoa
Không nên vì khi bị đang răng rồi thì bệnh về răng miệng đã phát tấn, không
kiểm soát được và dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm. Vì thế nên đến nha khoa theo định
kì 6 tháng 1 lần để được bác sĩ thăm khám và có biện pháp ngăn ngừa kịp thời nếu bị
bệnh răng miệng. Không đau răng không có nghĩa là răng hoàn toàn ổn. Đó là một
trong những sai lầm chiếm tỉ lệ người mắc phải cao nhất. Trên thực tế, các bệnh về
22
răng miệng như: sâu răng, viêm lợi, chảy máu lợi, hầu như không có biểu hiện đau
nhức để bạn chú ý cảm thấy răng mình bất ổn. Cho tới khi cảm thấy đau nhức, lúc đó
phần lớn răng đã bị hư tổn, sẽ rất tốn công sức, thời gian và tiền bạc để điều trị và quan
trọng hơn là không bao giờ có thể khôi phục lại trạng thái ban đầu.
Hãy bỏ những suy nghĩ thiếu khoa học mà chỉ theo ý kiến cả nhân, cảm tính
của mình đi để chăm sóc răng miệng tốt nhất có thể. Hàm răng trắng sáng lúc nào cũng
giúp bạn tự tin hơn trong giao tiếp.
8. Mối liên quan giữa sinh lý, bệnh lý – chăm sóc răng miệng
8.1. Các bệnh lý ảnh hưởng tới vệ sinh răng miệng
Ở NCT, nhiều bệnh lí ảnh hưởng đến răng miệng như nha chu, viêm nướu, sâu
răng… Bệnh nha chu tụt nướu, mất bám dính và tiêu xương gần như khó tránh khỏi
người cao tuổi. Do vậy ảnh hưởng nhiều đến vệ sinh răng miệng. Bệnh nha chu là
nguyên nhân gây hôi miệng, làm răng lung lay, mất răng và do đó ảnh hưởng đến chức
năng nhai, nuốt, nếm và dinh dưỡng (Huỳnh Anh Lan,2013). Bệnh sâu răng do sự tiêu
huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng), tạo nên lỗ hổng trên bề
mặt răng. Bệnh thường do vi khuẩn, đường trong thức ăn và thời gian để vi khuẩn và
đường tồn tại trong miệng. Bệnh viêm lợi do vi khuẩn ở trong mảng bám răng hoặc cao
trong nghiên cứu cho rằng stress có ảnh hưởng lên khả năng chải răng và dùng chỉ nha
khoa hiệu quả. Stress có thể ảnh hưởng tới sức khỏe răng miệng bản thân bằng cách
gây ra các vấn đề răng miệng. Phát triển các vết đau loét là từ các vết loét nhỏ phát
triển trong miệng do virus, vi khuẩn và sự suy giảm hệ miễn dịch. Hội chứng thái
dương hàm (TMJ) nghiến răng thường gặp ở những người bị stress có thể có các vấn
đề mà tác động đến khớp thái dương hàm, cũng như nghiến hay cắn siết răng ban ngày
hoặc trong lúc ngủ. Khô miệng stress có thể ảnh hưởng tới lượng nước bọt tiết ra trong
miệng. Nếu bệnh nhân đang trong quá trình trị liệu, họ có thể làm tăng tác động đến
việc tiết nước bọt. Bệnh về nướu thì có nhiều nghiên cứu báo cáo rằng stress có thể ảnh
hưởng lên khả năng vệ sinh răng miệng tại nhà đúng cách (Colgate,2010). Những bệnh
toàn thân, các thuốc chữa bệnh và xạ trị là nguyên nhân chủ yếu gây khô miệng. Có
hàng trăm thứ thuốc như thuốc chống trầm cảm, an thần, chống Parkinson… có tác
dụng phụ làm giảm tiết nước bọt.
8.2. Các biến đổi sinh lý ảnh hưởng đến vệ sinh răng miệng
Tuổi càng cao phản xạ càng chậm, không như lúc còn trẻ, NCT thường có
những phản xạ rất chậm chạp kể cả việc giao tiếp.Khi cần trao đổi một vấn đề gì đó thì
việc lắng nghe ghi nhận vấn đề rất chậm chạp và trong một khoảng thời gian rất lâu
24
mới có thể đưa ra được câu trả lời (Hồ Văn Cưng,2013). Do đó việc giáo dục sức khỏe
về vệ sinh răng miệng đối với NCT thường gặp khó khăn do họ tiếp thu, đáp ứng
chậm. NCT rất mau quên do đó họ khó tạo được thói quen chăm sóc răng miệng hằng
ngày .
Biến đổi ở tổ chức cứng (men và ngà răng) bao gồm mòn mặt nhai làm mất lớp
men răng, tăng dần theo tuổi. Nếu không vệ sinh đúng cách có thể làm cho răng mòn
nhanh và nhiều hơn. Biến đổi ở mô răng làm mô cứng của răng trở nên cứng hơn làm
cho khả năng thẩm thấu, chuyển hóa cơ bản ở men và ngà đều kém. Việc tăng tỉ lệ
khoáng chất ở ngà, tăng ngà xơ, có vùng ngà chết, tuy có khả năng chống đỡ sự tấn
hiện các nhiệm vụ trong việc đáp ứng các nhu cầu sức khỏe răng miệng của bệnh nhân
nội trú và ngoại trú của bệnh viện (R. B. Julie, 2010). Hơn nữa, chăm sóc răng miệng
là một phần quan trọng trong điều trị cho tất cả bệnh nhân, đặc biệt là những người cần
trợ giúp trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (P. E. Petersen and T.Yamamoto,
2005). Paulsson và cộng sự lưu ý rằng duy trì sức khỏe răng miệng tốt là rất quan trọng
cho các bệnh nhân trong bệnh viện, vì nó góp phần vào sự duy trì, phục hồi và đáp ứng
được dinh dưỡng, nhu cầu của bệnh nhân (G. Paulsson, 2008).
Nhìn chung vệ sinh răng miệng tại bệnh viện không phải là một kĩ năng đòi hỏi kĩ
thuật cao hay nhiều nhân lực. Nó là một hành vi thực hành cá nhân và là một khía cạnh
thiết yếu của chăm sóc điều dưỡng (H. Heath, 2010). Như Dickinson và cộng sự cho
biết khi một người không thể chăm sóc răng miệng của mình trong bệnh viện như bệnh
nhân hôn mê... thì nó trở thành trách nhiệm của điều dưỡng viên (H. Dickinson, 2001).
Bisset và Preshaw cho rằng chăm sóc răng miệng cũng như nhu cầu chăm sóc cá nhân
khác như tắm rửa và vệ sinh, nó là một thành phần thiết yếu của chăm sóc toàn diện
cho bệnh nhân (S. Bissett & Preshaw, 2011). Hai tác giả này cũng cho rằng có sự chênh
lệch về số lượng và tần số của chăm sóc răng miệng cho bệnh nhân. Những chênh lệch
trong chăm sóc răng miệng liên quan đến các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như chăm
sóc răng miệng bị lãng quên và chăm sóc răng miệng được đưa ra một ưu tiên thấp khi
so sánh với các yếu tố chăm sóc điều dưỡng khác. Điều này cho thấy chăm sóc răng
miệng phụ thuộc vào kiến thức của điều dưỡng để thực hành công việc tốt nhất. Nghiên
cứu của Fitzpatrick thừa nhận rằng kiến thức của điều dưỡng trong việc vệ sinh răng
miệng có thể thay đổi (J. Fitzpatrick, 2000). Theo tác giả bài báo: Vị trí của chăm sóc
răng miệng trong bệnh viện đứng đầu trong việc hình thành những vấn đề liên