Giải pháp cho hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI
THƯƠNG
---------0o0---------

Tiểu luận:
GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI
HỐI CHO THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

Mục lục


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối

Lời mở đầu
Trải qua hơn 8 năm hội nhập vào nền kinh tế thế giới với dấu mốc quan trọng là sự
kiện Việt Nam gia nhập WTO ngày 11/1/2007, nền kinh tế nước ta đã có những
chuyển biến tích cực, đặc biệt là việc tự do hóa nền kinh tế trong đó lĩnh vực được ưu
tiên hàng đầu là tài chính ngân hàng. Trong quá trình hội nhập, hoạt động kinh
doanh ngoại hối được xem là một trong những hoạt động quan trọng không chỉ bởi
doanh thu đem lại mà là sự trợ giúp cho các chính sách điều tiết của Chính phủ đối với
nền kinh tế. Thực tế cho thấy, hoạt động kinh doanh ngoại hội tuy chưa phát triển
nhưng khá ổn định trong giai đoạn đầu phát triển, nhờ vào các chính sách ổn định tỷ
giá của nhà nước trong thời kỳ trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, khủng
hoảng tài chính 2008 bắt nguồn từ Mỹ, lan rộng ra các nước khác, trong đó có Việt
Nam, đã đem đến một góc nhìn thận trọng hơn đối với các hoạt động về tài chính.
Tỷ giá biến động không ngừng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008-2013 và
cho đến nay vẫn chưa thể ổn định, cộng với việc cạnh tranh từ các tổ chức lớn với
kinh nghiệm trong ngành dày dạn đã gây ra không ít khó khăn cho các tổ chức kinh
doanh non trẻ của Việt Nam, cụ thể là các ngân hàng thương mại. Do đó, việc quản
trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối hiện nay đã và đang được đặt lên hàng đầu. Các

sự thành công trong hoạt động của NHTM nói chung và trong KDNH của các
NHTM nói riêng. Ngoài ra, chính sách quản lý hoạt động vĩ mô của Chính phủ cũng
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động KDNH của NHTM. Các giải pháp được đưa
ra dù ở tầm vĩ mô hay vi mô, đều nhằm mục đích phát triển hoạt động phòng vệ rủi
ro ở các NHTM, bao gồm các công cụ phái sinh và các phương pháp khác đã được áp
dụng trên thế giới.
1.Hình thành và phát triển đồng bộ các công cụ phòng vệ rủi ro:
Để kinh doanh ngoại tệ có lãi thì các NHTM phải tạo trạng thái ngoại hối mở và
tỷ giá phải biến động. Tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro trong KDNH là đồng hành
với nhau. Lãi lỗ trong KDNH có thể phát sinh cùng với quy mô biến động tỷ giá, trong
khi tỷ giá biến động là không giới hạn nên có thể làm cho lãi lỗ phát sinh là rất lớn.
Điều này buộc ngân hàng phải sự dụng hợp lý các công cụ để kiểm soát tốt hoạt động
kinh doanh ngoại tệ. Các công cụ phổ biến hiện được sử dụng bao gồm:
1.1.Kỹ thuật dự báo tỷ giá:
Các NHTM cổ phần tại TP.HCM cần sử dụng thường xuyên các phương pháp
phân tích sau trong quá trình duy trì trạng thái ngoại hối của ngân hàng cũng như tư
vấn hổ trợ cho các giao dịch ngoại hối của khách hàng. Các phương pháp này bao gồm:
• Phân tích cơ bản (Fundamental analysis): là phương pháp phân tích tập trung
vào việc nghiên cứu các lý do hoặc nguyên nhân làm cho giá tăng lên hoặc giảm
xuống. Phương pháp này chú ý đến các lực lượng tác động đến cung cầu tiền
tệ trên thị trường: lãi suất, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu, đầu tư,

• Phân tích kỹ thuật (Technical analysis): là phương pháp dự báo dựa vào nghiên
cứu về quá khứ, tâm lý và quy luật xác suất.

Trang 4


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
Dự báo tỷ giá được đánh giá là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong



Tiểu luận kinh doanh ngoại hối


Limit order: là lệnh được tiến hành thực hiện tại tỷ giá/giá đã được xác định.



Stop - loss order: là lệnh giới hạn các khoản lỗ tiềm tàng. Lệnh này chưa được
thực hiện chừng nào tỷ giá/giá trên thị trường biến động chưa đến tỷ giá/giá giới
hạn cho phép.



Take - profit order: là lệnh cho phép thoát khỏi trạng thái ngoại hối này khi đạt
được một mức lãi nhất định. Tương tự như lệnh Stop - loss order, Take - profit
order được thiết kế, khi thị trường biến động đến một mức độ nhất định nào đó,
thì lệnh được thực hiện.

1.4.Công cụ phái sinh
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ sở
những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro,
bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ
một số công cụ cơ sở khác như tỷ giá, lãi suất, giá vàng, …. Công cụ tài chính phái
sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó
thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forward), hợp đồng tương lai
(future), hợp đồng hoán đổi (swap) và hợp đồng quyền chọn (option).
2.Phát triển các định chế trung gian và thị trường phái sinh
Mục tiêu phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam hiện nay là: (i) đa dạng hóa các

chế lạm phát ở mức thấp, chủ động điều hành và có phản ứng chính sách phù hợp kịp
thời để ứng phó có hiệu quả với những tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Điều hành
chính sách tiền tệ, tài khóa chặt chẽ, linh hoạt; gắn kết chính sách tài khóa với chính
sách tiền tệ theo mục tiêu tăng cường ổn định vĩ mô và bảo đảm tăng trưởng hợp lý.
Tiếp tục hạ lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm lạm phát; điều hành tỷ giá theo
tín hiệu thị trường, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam; hoàn thiện cơ chế quản lý thị
trường vàng; cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối Quản lý chặt
chẽ nợ công và nợ quốc gia trong giới hạn an toàn, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
Hoàn thành việc cơ cấu lại các tổ chức tài chính, tín dụng yếu kém; xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tài chính, ngân hàng; hỗ trợ phát triển lành mạnh
thị trường chứng khoán; đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập
khẩu không khuyến khích; tăng cường các biện pháp thu hút và thúc đẩy giải ngân
các nguồn vốn nước ngoài ODA, FDI; kiểm soát có hiệu quả đầu tư gián tiếp của
nước ngoài (FII); tạo thuận lợi thu hút khách du lịch quốc tế và kiều hối; tăng cường
quản lý thị trường, giá cả, chống đầu cơ buôn lậu; chủ động cung cấp thông tin chính
xác, kịp thời về tình hình kinh tế vĩ mô để hạn chế việc tăng giá do tâm lý.
Ổn định tỷ giá dựa trên việc tìm kiếm thường xuyên sự cân đối tối ưu giữa tính chất
tự thân thị trường với sự can thiệp nhà nước là điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế

Trang 7


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
trong từng thời kỳ nhất định. Khi các đồng ngoại tệ giảm giá do chính sách hạ lãi suất
và nới lỏng tín dụng nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong liệu pháp cả gói chống
suy giảm kinh tế ở các nước phát triển như Mỹ và các nước EU mà tỷ giá VND gắn
kết chặt và dường như không đổi trong suốt thời gian dài, thì điều này cũng đồng nghĩa
với xu hướng định giá đồng bản tệ quá cao, làm mất đi đáng kể lợi thế và sức cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu của hàng Việt Nam, với những hệ lụy kinh tế – xã hội
khó lường kèm theo, nhất là tình trạng giảm sút quy mô và thu nhập ngoại tệ từ hàng

luật thị trường và sử dụng quyền lực nhà nước, trong đó hai giải pháp chính yếu
nhất là i) thực hiện CSTT chặt chẽ và ii) thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt,
mục tiêu là điều tiết tổng cầu, thu hồi tiền thừa trong lưu thông, thiết lập cân đối tiền
- hàng mới. Kiềm chế lạm phát không phải là quay trở lại mặt bằng giá cũ, mà là hình
thành một mặt bằng giá mới.
• Thâm hụt cán cân thương mại:
Tại Nghị Quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Thủ tướng Chính
phủ giao Bộ công thương xây dựng kế hoạch điều hành xuất, nhập khẩu, phấn đấu bảo
đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ động áp dụng các biện
pháp phù hợp kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng.
Nhập siêu không phải mới phát sinh, mà đã tồn tại cùng với nền kinh tế chúng ta
nhiều năm nay. Nhập siêu cũng không hẳn là không có lợi cho nền kinh tế, vấn đề là
nhập những gì và sử dụng như thế nào. Nếu nhập máy móc, thiết bị, trong đó có cả
phần dành để hiện đại hóa công nghệ là điều cần thiết trong quá trình cải tiến sản
xuất, càng quan trọng hơn nếu làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm. Nhập khẩu
nguyên liệu, vật tư cho các ngành công nghiệp càng không thể thiếu để phục vụ trong
sản xuất và chế tạo.
Ngoài ra, cần tăng cường kiểm tra giá tính thuế hàng nhập khẩu trong khâu thông
quan, thông qua việc đưa vào danh mục quản lý rủi ro từ 13 nhóm mặt hàng, lên 20
nhóm mặt hàng vào cuối năm 2011. Ban hành quy chế xây dựng, thu thập, cập nhật và
cơ sở dữ liệu về danh mục hàng hóa, biểu thuế và phân loại, áp dụng mức thuế đối
với hàng hóa xuất nhập khẩu. Đặc biệt, ngành chức năng cần tăng cường kiểm tra
sau thông quan, thanh tra việc phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế với hàng hóa đã
thông quan và thông báo sớm kết quả đã kiểm tra, thanh tra về phân loại hàng hóa cho
khâu thông quan để các Doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh kịp thời. Như vậy, đã
đến lúc Nhà nước phải đánh thuế cao với nhóm mặt hàng xa xỉ. Hiện tại, quy định của
WTO không cấm chúng ta đánh thuế cao, mà quan trọng là chúng ta có thực thi biện
pháp này hay không, hoặc chí ít có thể sử dụng các biện pháp khác mà không vi
phạm quy định của WTO như tạo thủ tục hành chính thuế, hải quan khắt khe hơn đối


Những giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ
 Cần tiếp tục phát triển dịch vụ ngân hàng và mở rộng thanh toán
không dùng tiền mặt trong nền kinh tế; Đẩy mạnh tuyên truyền về sử
dụng thẻ, kể cả thẻ tín dụng quốc tế.
 Thay cho việc chỉ gắn với đồng đôla Mỹ như trước đây, tỷ giá ngang
giá nên gắn với một "rổ" tiền tệ (bao gồm một số ngoại tệ mạnh như
USD, EURO, JPY và một số đồng tiền của các nước trong khu vực
như Trung Quốc, Hàn Quốc, ...), các đồng tiền này tham gia vào "rổ"
tiền tệ theo tỷ trọng quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam. Việc
xác định tỷ giá như trên nhằm giảm bớt sự lệ thuộc của đồng Việt Nam
vào đôla Mỹ, và phản ánh xác thực hơn quan hệ cung cầu trên thị
trường trên cơ sở có tính đến xu hướng biến động các đồng tiền của các
nước bạn hàng lớn.

Trang 10


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
 Các Ngân hàng chỉ được phép cho vay đồng USD đối với những đối
tượng có doanh thu trực tiếp và có khả năng chi trả bằng đồng USD.
Còn tất cả các doanh nghiệp trong nước khác vay các NHTM trong
nước đều thực hiện bằng đồng bản tệ, khi cần ngoại tệ để thanh toán với
quốc tế thì mua ngoại tệ tại các NHTM để mở tín dụng thư (L/C) thanh
toán.
 Không được duy trì quyền sở hữu ngoại tệ không có nguồn gốc hợp
pháp. Cần có quy chế rõ ràng rằng sở hữu ngoại tệ của dân cư là sở
hữu ngoại tệ hợp pháp chuyển từ nước ngoài vào; không cho phép sở
hữu số ngoại tệ có được do sự trao đổi lòng vòng ở thị trường phi chính
thức, rồi chuyển số đó thành sở hữu riêng.

hàng.
• Phòng thanh toán (Back Office): Đây là phòng có chức năng độc lập, không
nhất thiết phải được đặt ngay cạnh phòng kinh doanh; có nhiệm vụ xác nhận
giao dịch, thực hiện thanh toán, đối chiếu số dư, sao kê tài khoản, v.v…
• Phòng quản lý rủi ro (Mid Office): Có nhiệm vụ kiểm tra theo dõi, giám sát các
hạn mức mà mỗi Dealer được phép sử dụng, tránh không để cán bộ kinh doanh
vượt ra ngoài khuôn khổ thẩm quyền và quá mạo hiểm trong kinh doanh, nhất
là nghiệp vụ đầu cơ
Tất cả các nhân viên trong các phòng KDNH cần được đào tạo để hiểu biết và
tham gia tự xác định RRHĐ – xác định nguyên nhân, đánh giá trong tất cả các rủi ro
hiện có trong tất cả các sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống phòng KDNH. Vì
thế các NHTM cần đề ra các chính sách quản trị Nguồn nhân lực phù hợp cụ thể thông
qua:
2.1.1.Chính sách tuyển dụng
Trước hết việc thu hút nguồn nhân lực giỏi, phù hợp cần được thực hiện ngay
từ khâu tuyển dụng. Cần đưa ra các chính sách tuyển dụng để lựa chọn những ứng
viên tốt nhất vào vị trí phù hợp dựa trên phẩm chất, khả năng, thái độ, năng lực, kinh
nghiệm của ứng viên nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực có chất
lượng cao, đạo đức nghề nghiệp tốt.
2.1.2.Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Theo đánh giá chung, nguồn nhân lực của các NHTM còn nhiều hạn chế và bất
cập. Một mặt hiểu biết và kỹ năng thực hiện các công việc chuyên môn của nhiều cán
bộ chưa theo kịp và chưa đáp ứng đòi hỏi của hoạt động Ngân hàng trong điều kiện
cạnh tranh và hội nhập, nhất là trong việc triển khai các dịch vụ mới và theo cách
thức hoạt động của Ngân hàng hiện đại. Mặt khác, có một số cán bộ tuy được đào
tạo cơ bản, có năng lực chuyên môn cao nhưng lại chưa được bố trí, sử dụng hợp lý,

Trang 12




Trang 13


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
một độ tin cậy xác định, thông thường ở mức 95%. Ví dụ, một danh mục gồm các
sản phẩm phái sinh vàng với 95% VaR trong 1 ngày là 1 triệu USD, nói lên rằng xác
suất mà danh mục giảm giá trị trên 1 triệu USD trong khoảng thời gian 1 ngày, với giả
định rằng diễn biến thị trường như bình thường và không có giao dịch mua bán. Thực
chất, khoản tổn thất 1 triệu USD hoặc cao trên giá trị danh mục này được kỳ vọng chỉ
xảy ra trên 1 ngày trong 20 ngày (5%). Khoản tổn thất vượt quá ngưỡng VaR được gọi
là “VaR break”.
Cách tính: VaR được xác định dựa trên quy luật phân bố xác suất cho giá trị thị
trường của danh mục. Thông thường, sự biến động giá trị của các tài sản được tuân
theo quy luật phân phối chuẩn, với 2 giá trị đặc trưng là mức kỳ vọng và phương sai.
Nhớ lại rằng một phân phối chuẩn hóa được xác định bởi hai tham số, trung bình của
nó ( = 0) và độ lệch chuẩn ( = 1), và là hoàn toàn đối xứng với 50% của phân phối
nằm ở bên phải của trung bình và 50% nằm ở bên trái của trung bình.
Ta có thể xác định phần trăm VaR toán học như:
VaR(X%) =
Trong đó :
VaR(X%) : giá trị xác suất rủi ro
zX% :giá trị z dựa trên sự phân phối chuẩn và xác suất X% được chọn
: độ lệch chuẩn của lợi nhuận hàng ngày tính bằng tỷ lệ phần trăm
Đặc điể m :


VaR thông thường được tính cho từng ngày trong khoảng thời gian nắm giữ tài
sản, và thường được tính với độ tin cậy 90%, 95% hoặc 99%.


trong năm 2007, 2008 đã dẫn đến sự phá sản của một loạt ngân hàng đầu tư trên
thế giới, do điều kiện thị trường có những biến động đột ngột vượt xa so với trong
quá khứ.

2.3.2.Các thông số ảnh hưởng đến VaR:
• Độ tin cậy (Confidence level)
Độ tin cậy ảnh hưởng rất lớn đến ước tính của VaR.
Với mỗi công ty khác nhau sẽ có một nhu cầu về độ tin cậy khác nhau, nó còn tuỳ
thuộc vào khẩu vị rủi ro của từng nhà đầu tư. Những nhà đầu tư không thích rủi ro
sẽ muốn có độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, với mục đích kiểm định tính đúng đắn của ước
tính VaR, thì việc chọn độ tin cậy không cần quá cao, bởi lẽ nếu độ tin cậy quá cao
(99% chẳng hạn) thì lúc đó VaR sẽ cao hơn, hay nói cách khác là xác suất để thua lỗ
lớn hơn VaR sẽ thấp đi, dẫn đến thời gian để thu thập dữ liệu xác định tính đúng đắn
của kiểm định sẽ kéo dài hơn.
Độ tin cậy thể hiện xác xuất mà nhà đầu tư chịu lỗ dưới mức VaR.
Ví dụ: Nếu VaR = 4000€ với độ tin cậy là 95% thì có nghĩa là với xác suất là 95%
nhà đầu tư sẽ bị lỗ tối đa là 4000€, và xác suất 5% để khoản lỗ đó lớn hơn 4000€.
• Khoảng thời gian đo lường VaR (Timing)
Sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian xác định VaR (gain/loss distribution)

Trang 15


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối

Ðường phân bố khoản lời lỗ của danh mục đầu tư thể hiện thông số quan trọng nhất và
khó xác định nhất. Vì mức tín nhiệm phụ thuộc vào khả năng chịu đựng rủi ro của nhà
đầu tư, nếu mức tín nhiệm này càng quan trọng thì VaR càng cao. Nói cụ thể nếu nhà
đầu tư sợ rủi ro thì họ sẽ hoạch định một chiến lược nhằm giảm xác suất xảy ra các
trường hợp xấu nhất. Trong giới tài chính thì độ tin cậy thường thường là 99% và

Điều này có thể giải thích là sẽ có 5% cơ hội mà lỗ tối thiểu trong một ngày là
$96,500 hay có 5% xác suất mà lỗ trong một ngày sẽ vượt quá $ 96,500).
Ưu điểm của phương pháp VaR delta-normal bao gồm:
 Dễ dàng để thực hiện.
 Các tính toán có thể được thực hiện một cách nhanh chóng.
 Thuận lợi để phân tích bởi vì các yếu tố rủi ro, tương quan, và các biến động
bất thường
Nhược điểm của phương pháp delta-normal bao gồm:
 Phải giả định một phân phối chuẩn.
 Phương pháp này không thể giải thích cho các phân phối có đuôi rộng (fat tail).
 Mối quan hệ phi tuyến của các vị thế quyền chọn gần như không được mô tả
đầy đủ
2.3.4.Vận dụng mô hình VaR trong thực tế:
• Công cụ phái sinh tuyến tính và phi tuyến tính
Một công cụ phái sinh được gọi là tuyến tính khi quan hệ tài sản cơ sở và công
cụ phái sinh đó là tuyến tính về mặt bản chất. Ví dụ như một HĐ tương lai chỉ số vốn
là một phái sinh tuyến tính trong khi một HĐ quyền chọn cho chỉ số tương tự là phi
tuyến tính.
Ví dụ như tỉ giá kì hạn của HĐ ngoại hối kì hạn được tính như sau:

Trang 17


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
Ft,T = St (1+RD)/(1+RF)
VaR của HĐ kì hạn sẽ liên quan đến St, RD và RF. Giả sử cố định lãi suất trong
một khoảng thời gian rất ngắn, ta có thể xấp xỉ Ft,T với hằng số K không thay đổi
theo thời gian như sau:
Thay đổi trong tỉ giá hối đoái có thể được xấp xỉ bằng thay đổi trong tỉ giá
giao ngay. VaR của vị thế giao ngay xấp xỉ bằng với tỉ giá tỉ giá của vị thế kỳ hạn nếu

Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
như sau:
f(x) = f() + f’()+ f”
Chuỗi Taylor nhận định rằng sự thay đổi trong giá trị của bất kì hàm nào cũng có
thể được thể hiện thông qua sự điều chỉnh giá trị ban đầu của hàm đó, f (x0) cùng với
độ dốc của đường cong f' (x0). Đây vẫn chỉ là một sự xấp xỉ nhưng nó gần chính xác
hơn nhiều so với ước lượng tuyến tính ở trên.

2.3.5.Quy trình ứng dụng mô hình VaR trong quản trị rủi ro KDNH
Phương pháp đo lường VaR là một trong những phương pháp đo lường rủi ro
trong hoạt động KDNH tại các NHTM phổ biến nhất hiện nay.
Sử dụng phương pháp phân tích (Delta-normal Method), áp dụng đối với các
ngoại tệ mạnh X không phải USD (gọi tắt G7) và vàng:
Các bước thực hiện xác định tính toán VaR:
1)

Kết nối Reuters sử dụng dữ liệu thực (realtime) trong 5 năm gần nhất cho nhóm G7

2)

Tính tỷ suất sinh lợi (return):
Ri = log(Si/Si-1)
Áp dụng đối với các ngoại tệ đứng trước USD, trong đó Si, Si-1 là giá của ngoại tệ tại
khảo sát thứ i, i-1:
Ri = log(Si-1/
Si) Áp dụng đối với các ngoại tệ đứng sau USD

3)

Khảo sát thực nghiệm (Empirical research)

nhuận lớn, đóng góp vào tổng lợi nhuận chung cho các NHTM. Chính vì vậy, trong
xu hướng hội nhập hiện nay, việc hoàn thiện các công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối
trong hoạt động KDNH của các NHTM là rất cần thiết và nhằm giúp nâng cao hiệu
quả trong việc quản lý rủi KDNH tại các NHTM VN. Bài tiểu luận này đã tập trung
vào việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro KDNH tại các
NHTM thông qua các cách tiếp cận : (i) Dưới góc độ quản lý của Nhà Nước là những
giải pháp vĩ mô: ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội; các chính sách vĩ mô cơ
bản; hoàn thiện môi trường pháp lý (ii) Dưới góc độ NHTM là những giải pháp vi mô
thông qua việc hoàn thiện bộ phận kinh doanh ngoại tệ; hoàn thiện cơ sở kỹ thuật;

Trang 20


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
ứng dụng mô hình VaR và việc sử dụng các công cụ phái sinh. Với những giải pháp
trên, chúng tôi hi vọng rằng trong những năm tới các NHTM sẽ có một bước tiến mới
đáng kể trong quản lý rủi ro hoạt động KDNH, góp phần đưa hoạt động này thành
một trong những hoạt động quan trọng mang lại lợi ích và an toàn chung cho ngành
ngân hàng.

Trang 21


Tiểu luận kinh doanh ngoại hối
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Quang Tín, 2013. Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các
ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiến sĩ.
ĐH Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
rd


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status