MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
Trong các quan hệ kinh tế, thương mại và các quan hệ khác giữa các chủ thể khác
nhau của các quốc gia khác nhau thường nảy sinh nhu cầu trao đổi giữa tiền tệ của các quốc
gia này để phục vụ cho việc thanh toán tiền tệ. Do mỗi quốc gia có luật pháp và phương thức
điều chỉnh tiền tệ khác nhau nên khi ký hợp đồng, hiệp định, các bên phải thỏa thuận với
nhau sẽ sử dụng đồng tiền của nước nào làm đồng tiền tính toán/thanh toán. Việc này dẫn tới
vấn đề cần xác định tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiển để thuận lợi trong chuyển đổi và thanh
toán.Chính vì vậy, tỷ giá hối đoái đóng vai trò rất lớn trong ngoại thương. Không những vậy,
tỷ giá hối đoái còn có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả
trong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp…
Trong thời gian gần đây, cụ thể là trong giai đoạn 2008-2013, tỷ giá hối đoái của Việt
Nam luôn nằm trong tình trạng bất ổn, tăng giảm thất thường qua từng thời kì khác nhau.
Điều này dẫn tới những biến động không ngừng của nền kinh tế nước nhà. Bàn tay của chính
phủ càng trở nên có vai trò quan trọng hơn trong việc bình ổn giá cả, bình ổn tỷ giá hối đoái,
cũng là bình ổn cán cân thương mại, mang lại sự phát triển cân bằng cho nền kinh tế trong
thời kì biến động khôn lường của kinh tế chính trị thế giới.
Vì những lý do trên, trong phạm vi một tiểu luận, chúng tôi tập trung nghiên cứu sâu
hơn về tình hình tỷ giá hối đoái của Việt nam trong thời kì 2008-2013, và những biện pháp
của chính phủ Việt Nam trước tình hình đó. Đồng thời, trong tầm hiểu biết của mình, chúng
tôi cũng mong muốn được đưa ra những đánh giá, nhận định về hiệu quả các biện pháp của
Nhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp cho thời gian sắp tới. Chúng tôi tin rằng tiểu luận này
sẽ mang tới cho người đọc cái nhìn khái quát hơn về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị
trường Việt Nam, đồng thời đây sẽ là nền tảng để chúng tôi có thể tiến hành các nghiên cứu
sâu hơn về vấn đề này trong tương lai.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (TGHĐ)
Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của Cán cân TTQT
Nếu thu > chi CCTT dư thừa khả năng cung cấp ngoại hối > nhu cầu về ngoại hối
TGHĐ giảm
Nếu thu < chi CCTT thiếu hụt khả năng cung cấp ngoại hối < nhu cầu về ngoại
hối TGHĐ tăng lên
Thu nhập thực tế của người dân tăng
Những nhu cầu về ngoại hối tăng (do nhu cầu về hàng hóa dịch vụ nhập khẩu tăng khi
mà nền kinh tế có sự tăng trưởng ổn định)
b. Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước (nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao
hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh
lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống).
3
c. Mức chênh lệch lạm phát của hai nước (giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành
mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự
do, khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền. Nước
nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền của
nước còn lại).
Ngoài những yếu tố nêu trên, TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác, chẳng
hạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền,…
4.
Các chính sách và biện pháp điều chỉnh TGHĐ
Điều chỉnh TGHĐ là việc nhà nước dùng các biện pháp kinh tế hoặc tài chính để can
thiệp vào thị trường hối đoái nhằm điều chỉnh TGHĐ đó biến động theo chiều hướng hoặc
trong mức độ mong muốn. Có các biện pháp chính sau:
a. Chính sách chiết khấu của NHTW (Discount policy)
giá trị thực tế của những ai nắm trong tay đồng tiền bị phá giá.
e. Nâng giá tiền tệ
Là việc nâng cao đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ cao hơn sức mua thực tế
của nó.
Tác dụng: ngược lại với phá giá tiền tệ.
5
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Tình hình cán cân thương mại củaViệt Nam ( 2008-2013)
Cán cân vãng lai ( tỷ USD)
Cán cân vốn ( tỷ USD)
Cán cân tổng thể
Tỷ giá( cuối năm, VND)
2008
-10,79
12.34
0.47
16,977
2009
2010
2011
2012
-6,1
-4,3
-0,7
Cán cân tổng thể thặng dư do nhiều yếu tố.
Đầu tiên, cán cân vãng lai cũng thặng dư khá. Cán cân vãng lai có 4 nội dung là cán
cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập đầu tư và cán cân chuyển tiền. Trong đó,
cán cân thương mại và cán cân chuyển tiền đạt thặng dư.
Cán cân thương mại bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Nếu tính xuất khẩu
tính theo giá FOB, nhập khẩu tính theo giá CIF, các năm trước, Việt Nam nhập siêu khá lớn
(năm 2007 là 14,2 tỷ USD, năm 2008 :18 tỷ USD, năm 2009 là 12,9 tỷ USD, năm 2010 là
12,6 tỷ USD, năm 2011 : 9,8 tỷ USD) nhưng năm 2012 đã xuất siêu 284 triệu USD.
Nhưng nếu xuất nhập khẩu đều tính theo giá FOB (giá CIF cao hơn giá FOB bình
quân khoảng 8%), mức xuất siêu lớn hơn nhiều và cán cân thương mại thặng dư khoảng 9,4
tỷ USD.
Nguồn thu chuyển tiền cũng thặng dư khá, nhờ lượng kiều hối cả năm có thể đạt gần
10 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay. Trong khi đó, cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập đầu
tư thâm hụt. Theo Tổng cục Thống kê, nhập siêu dịch vụ năm 2012 ước 3,1 tỷ USD, trong đó
dịch vụ du lịch xuất siêu 4,7 tỷ USD, dịch vụ vận tải nhập siêu 6,6 tỷ USD, các dịch vụ khác
nhập siêu 1,2 tỷ USD).
7
Thứ hai, cán cân vốn đạt thặng dư, gồm 6 khoản (đầu tư trực tiếp, vay trung, dài hạn,
vay ngắn hạn, đầu tư vào giấy tờ có giá, tiền và tiền gửi, tài sản khác). Trong số đó, 5 khoản
đầu đạt thặng dư. Đầu tư trực tiếp đạt thặng dư lớn nhất nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt
khá (12,2 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay), so với đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước
ngoài (ước 1,2 tỷ USD).
Vay trung, dài hạn sau khi trừ đi phần trả nợ gốc, cũng đạt thặng dư. Vay ngắn hạn,
sau khi trừ đi phần trả nợ gốc, cũng đạt thặng dư. Đầu tư vào giấy tờ có giá của nước ngoài,
sau khi trừ đi phần đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, cũng đạt thặng dư.
Cán cân tổng thể đạt thặng dư lớn đã góp phần tích cực cho ổn định kinh tế vĩ mô,
góp phần làm tăng sức mạnh tài chính quốc gia. Nhờ vậy, mặc dù Ngân hàng Nhà nước cung
ứng ra thị trường một lượng lớn nội tệ để mua ngoại tệ (tốc độ tăng tổng phương tiện thanh
72,19
96,91
114,57
84,8
106,75
113,79
2008, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD
2009, Nhập siêu là 12,61 tỷ USD, bằng 17,5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
2011, cán cân thương mại thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam
2012, Cán cân thương mại hàng hoá cả nước xuất siêu 780 triệu USD (trong khi năm
2011 nhập siêu 9,84 tỷ USD).
Tính từ đầu năm đến hết tháng 9 năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của
Việt Nam đạt 192,53 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt
96,27 tỷ USD, tăng 15,5% và nhập khẩu là 96,26 tỷ USD, tăng 15,1%. Kết quả là cán cân
thương mại hàng hoá của Việt Nam khá cân bằng trong 3 quý tính từ đầu năm 2013.
8
Tình hình cán cân thương mại nói riêng và CC thanh toán nói chung có chiều hướng
tốt lên.
Biểu đồ 1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hoá của Việt
Nam theo tháng của năm 2012 và quý I/2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2. Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2013
Diễn biến tỷ giá hối đoái ở Việt Nam được chia là hai giai đoạn chính: từ 2008 đến
yếu do mặt bằng giá xuất khẩu giảm đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam. Mặc dù xuất khẩu tăng vào cuối năm nhưng trong tháng 11/2010, nhập siêu lên tới hơn
2 tỷ USD khiến cho cầu USD tăng cao cũng góp phần làm tăng tỷ giá hối đoái. Cuối tháng
11, tỷ giá tăng vọt lên mức 21.380 - 21.450 đồng/USD, trên thị trường tự do tỷ giá vượt qua
mức 21.500 đồng/USD.
Thêm vào đó, chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế đã khiến
cho nhu cầu về USD càng tăng để phục vụ việc nhập khẩu vàng. Giá vàng và USD đều đã
tăng mạnh. Người dân đẩy mạnh mua ngoại tệ trên thị trường tự do, giá USD trên thị trường
chợ đen tăng mạnh. Do khan hiếm nguồn cung USD, các doanh nghiệp cũng phải nhờ đến thị
trường chợ đen hoặc phải cộng thêm phụ phí khi mua ngoại tệ tại các NHTM. Tâm lý hoang
mang mất lòng tin vào VND làm tăng cầu và giảm cung về USD đã đẩy tỷ giá thị trường tự
do tăng lên hàng ngày. Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chợ đen so với tỷ giá chính thức đến
10%. Đây là mức chênh lệch cao nhất trong lịch sử tài chính Việt Nam từ năm 1990.
b. Giai đoạn 2: từ năm 2011 đến tháng 10 năm 2013
Từ 2011 đến 2012:
So với tháng 12 năm trước sau khi tăng khá cao trong thời kỳ 2008-2010, tỷ giá hối
đoái đã tăng chậm lại vào năm 2011 (tăng 2,24%), giảm vào năm 2012 (giảm 0,96%) và tiếp
tục tăng thấp trong 11 tháng năm 2013 mặc dù giá vàng trong nước vẫn cao hơn nhiều so với
giá vàng thế giới.
Năm 2012 được phân rõ hai thái cực, nửa đầu năm, tỷ giá VND/USD có xu hướng
tăng nhẹ, trong khi 6 tháng cuối năm lại điều chỉnh giảm. Đây là một hiện tượng ngược lại
diễn biến tỷ giá trên thị trường trong những năm xáo trộn (2008-2011) khi tỷ giá luôn biến
động theo chiều hướng tăng dần từ đầu năm đến cuối năm. Điều đáng nói, quy luật biến động
mạnh của tỷ giá vào những tháng cuối năm, kèm với sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và
tỷ giá thị trường tự do thường ở mức khá cao đã không tái hiện trong năm 2012. Mặc dù, cuối
tháng 8, đầu tháng 9/2012, tỷ giá tự do nhích lên và bỏ xa thị trường chính thức một khoảng
khá lớn, nhưng nhanh chóng trở lại bám sát tỷ giá chính thức. Đây chính là một điểm sáng
trong điều hành thị trường ngoại hối trong năm 2012.
10 tháng đầu năm 2013:
với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 2008 đến 2012 đăng ký thấp, nhưng thực
hiện liên tục đạt trên dưới 11 tỷ USD; ước 11 tháng 2013 đạt 10,55 tỷ USD, tăng 6% so với
cùng kỳ năm trước, là tín hiệu khả quan để cả năm đạt đỉnh cao nhất từ trước tới nay (vượt
11,5 tỷ USD của năm 2008), cao hơn năm 2012 (10,5 tỷ USD). Lượng vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) cũng tăng cao.
Lượng kiều hối do Việt kiều và lao động làm việc ở nước ngoài gửi về nước năm
2012 lần đầu tiên vượt qua mốc 10 tỷ USD; năm 2013 có thể đạt 11 tỷ USD. Lượng ngoại tệ
do khách quốc tế đến Việt Nam chi tiêu năm 2013 ước đạt kỷ lục mới, với 7,7 tỷ USD so với
kỷ lục năm 2012 là 6,83 tỷ USD (lượng khách quốc tế đến Việt Nam 11 tháng qua đạt 6,8
triệu lượt, tăng 12% so với năm 2012).
12
Những nguyên nhân trên đã làm tăng nguồn cung USD, góp phần cân bằng cung cầu
trên thị trường Việt Nam.
Hơn nữa, do lạm phát đã được kiềm chế trong năm 2012 và tiếp tục được kiềm chế
trong năm 2013, làm cho nhu cầu tìm nơi trú ẩn là vàng và ngoại tệ mạnh không còn lớn như
những năm lạm phát cao. Hơn thế nữa, tâm lý găm giữ ngoại tệ làm cho tình trạng đô la hóa
khá cao trước đây cũng có xu hướng giảm, nên nhiều doanh nghiệp và người dân bán ngoại tệ
cho ngân hàng và bán ra thị trường, làm giảm áp lực tăng giá USD.
3.
Biện pháp đư ợc cho là hiệu quả nhất
Lựa chọn chính sách hối đoái.
Ưu điểm:
Điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhanh chóng qua đó tác động mạnh đến tỷ giá.
Kiểm soát chính xác khối lượng giao dịch
Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều khi có sai sót
Việc bỏ hẳn ấn định TGHĐ danh nghĩa sẽ đưa đến khó khăn nhất định trong dự báo
một số cân đối lớn của nền kinh tế như: cán cân vay trả nợ nước ngoài; cán cân thanh toán
vãng lai; tổng cung, tổng cầu tiền tệ của nền kinh tế; thu chi ngân sách; … Đặc biệt sẽ khó
tính toán các mức lãi suất danh nghĩa trong khi chính sách lãi suất rát cần ổn định lúc này để
khuyến khích đầu tư.
14
Hiện nay có nhiều quan điểm trái ngược nhau trong việc điều hành TGHĐ và quản lý
ngoại hối:
Có quan điểm cho rằng: phải bằng mọi biện pháp để ổn định tỷ giá, thậm chí “đông
cứng” để tạo động lực cho sự ổn định kinh tế, giảm rủi ro cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị và các
công nghệ tiên tiến phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tránh nguy cơ tụt
hậu. Đồng nội tệ mạnh chính là một điều kiện cho một nền kinh tế vững mạnh, tăng trưởng
năng động.
Có quan điểm phủ nhận hoàn toàn quan điểm trên: trong điều kiện đồng USD đang
lên giá so với các đồng tiền khác, nếu chúng ta giữ cố định VND thì sẽ làm cho hàng hóa,
dịch vụ sản xuất trong nước có giá cao tương đối so với các nước trong khu vực, kéo theo
một môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Do vậy, nhất thiết phải phá giá VND ở mức cao hơn các
nước trong khu vực đã làm.
2. Mục tiêu, định hướng và nguyên tắc thực hiện
2.1 Mục tiêu
Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
Ổn định tỷ giá trong mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu, kích thích
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu , cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ.
Từng bước nâng cao uy tín VND, tạo điều kiện cho VND có thể trở thành đồng tiền
Thứ ba, xây dựng chính sách tỷ giá hối đoái phải trên cơ sở phát triển thị trường tiền
tệ trong nước và có sự hội nhập với thị trường tiền tệ quốc tế . Và không ngừng hướng tới
việc nâng cao uy tín của đồng Việt Nam trên cơ sở ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự tương
đồng hợp lý giữa giá trị đồng ngoại tệ và đồng nội tệ.
2.3.1
Nguyên tắc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
Vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá cần phải có sự phân tích dự báo xem nền kinh tế có thể
phải gánh chịu những cơn sốc như thế nào trong tương lai. Chế độ tỷ giá được lựa chọn phải
giúp hạn chế tác động của những cơn sốc lên nền kinh tế. Ví dụ đối với cơn sốc có nguồn gôc
từ thị trường tiền tệ trong nước thì một chế dộ tỷ giá hối đoái cố định sẽ chỉ làm thay đổi dự
trữ ngoại tệ quốc gia mà không làm lây lan sang thị trường hàng hóa. Ngược lại đối với một
cơn sốc có nguồn gốc từ bên ngoài hay từ thị trường hàng hóa trong nước thì một chế độ tỷ
giá hối đoái có tính linh hoạt cao sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu được điều chỉnh theo
những thay đổi tỷ giá, từ đó điều chỉnh lại mức cầu trong nước, vì vậy sẽ tránh cho nền kinh
tế khỏi bị rối loạn.
16
Vấn đề lựa chọn tỷ giá hối đoái phải nhằm mục tiêu ổn định và thúc đẩy sự phát triển
hệ thống tài chính quốc gia mà cơ bản là ổn định lạm phát và giá trị đông nội tệ.
2.3.2
Nguyên tắc điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Điều chỉnh tỷ giá hối đoái phải tuân theo quy luật thị trường. Để tuân thủ các quy luật
thị trường thì phải không ngừng nâng cao năng lực cho các công cụ mang tính kinh tế, đặc
biệt là công cụ nghiệp vụ thị trường mở; đồng thời phải xây dựng một cơ cấu dự trữ ngoại tệ
hợp lý.
3.2.2 Tình hình thực tế
Đối với Việt Nam, do dự trữ ngoại tệ còn quá thấp, thêm vào đó công cụ này đòi hỏi
phải có thị trường ngoại hối tự do phát triển nên công cụ này chưa đủ sức mạnh cần thiết
trong thời gian trước mắt để có thể giữ vai trò chủ đạo của mình trong can thiệp điều hành tỷ
giá hối đoái.
3.2.3 Biện pháp cụ thể
Trước mắt chúng ta phải hoàn thiện một số vấn đề sau:
Tranh thủ đến mức tối đa có thể được để gia tăng tích lũy ngoại tệ. Dự trữ ngoại tệ
phải tăng tương xứng với tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu. Tập trung quản lý ngoại tệ vào
một đầu mối duy nhất là Ngân hàng Nhà nước. Trong thời gian trước mắt, khi dự trữ ngoại
hối chưa đủ mạnh thì phải có biện pháp cụ thể làm tăng hiệu quả khi sử dụng dự trữ ngoại tệ
để tác động vào tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
Từng bước xây dựng cơ chế hành lang pháp lý, môi trường hoạt động nhằm từng
bước đưa công cụ nghiệp vụ thị trường mở đúng vị trí của nó trong can thiệp điều chỉnh tỷ
giá hối đoái.
Xem xét lựa chọn cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý. Trong số các đồng tiền mạnh hiện
nay trên thế giới, có thể kể ra ba đồng tiền chính: Dollar Mỹ, Euro và Yên Nhật.
Hiện nay, đồng Dollar Mỹ vẫn gần gũi với nền kinh tế Việt Nam với 90% giao dịch
đối ngoại được thực hiện bằng đồng này. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới cho thấy hiện
tượng Dollar hóa là thực trạng chung của hầu hết các nước đang phát triển và Dollar luôn có
sự tăng giá đối với các đồng tiền khác.
Đối với đồng Euro, thực tế cho thấy ở Việt Nam các giao dịch bằng đồng Euro còn rất
hạn chế. Vì thế cần thêm thời gian để người Việt Nam làm quen và chủ động trong kinh
doanh với đồng Euro.
18
Đối với đồng Yên Nhật cho đến nay chưa thực sự là một đồng tiền quốc tế và nước
Nhật đang nỗ lực quốc tế hóa đồng tiền của mình.
nhiều thời gian mới củng cố, cải thiện được.
19
3.5 Giải pháp phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô để hoạt động can thiệp vào
tỷ giá đạt hiệu quả cao
Việc phối hợp các chính sách trong vấn đề can thiệp vào tỷ giá hối đoái là tất yếu để
đạt được kết quả tốt nhất và hạn chế đến mức tối thiểu cái giá phải trả cho việc can thiệp vào
tỷ giá hối đoái. Việc phối hợp các chính sách ở đây có thể nói cụ thể là việc điều hành một
cách hài hòa chính sách tài chính – tiền tệ
20
KẾT LUẬN
Tỷ giá hối đoái cho phép sự trao đổi tiền tệ giữa các quốc gia với nhau thúc đẩy cho
việc xuất nhập khẩu ngoại thương. Không có tỷ giá hối đoái thì không thể đổi đồng tiền của
nước này ra đồng tiền của nước khác nên tỷ giá hối đoái là một phần chủ chốt không thể thiếu
trong quá trình thanh toán trên quốc tế.
Tuy là giữ một vai trò trọng yếu như vậy nhưng tỷ giá hối đoái lại không ổn định mà
lại biến động do những nhân tố khác nhau đã được trình bày kỹ ở phần thân bài như: mức
chênh lệch lạm phát của hai nước, cung và cầu ngoại tệ trên thị trường và cuối cùng là mức
chênh lệch lãi suất.
Vì tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái và tính chất biến động của nó có ảnh hướng
không nhỏ tới tài chính của một quốc gia nên cần phải có các chính sách và biện pháp điều
chỉnh tỷ giá hối đoái phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể. Ở phần trên nhóm đã trình bày
một số chính sách và biện pháp chủ yếu được sử dụng như: chính sách chiết khấu, chính sách
hối đoái, phá giá tiền tệ, nâng giá tiền tệ và biện pháp mạnh nhất là nhà nước trực tiếp tác
động chi phối đến cung và cầu ngoại hối trên thị trường
Nhóm chúng em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Thị Quy đã
Tạp chí Kinh tế phát triển
Chuyên đề “ Tỷ giá hối đoái và tiến trình tự do hóa tỷ giá ở Việt Nam”
Website: http://vneconomy.vn/p0c6/tai-chinh.htm
22