bài tiểu luận môn tài chính quốc tế chính sách tỷ giá hối đoái của việt nam trong 5 năm trở lại đây - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC

BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài: Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây
Giảng viên: TS. Mai Thu Hiền
Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Bắc
Trịnh Thanh Hòa
Nguyễn Thị Kim Liên
Hoàng Thị Hằng Nga
Nguyễn Thị Minh Phương
Đào Thị Trọng
Nguyễn Thị Bích Vân
Lớp: 19A – CH TCNH
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTW Ngân hàng trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
TGBQLNH Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
TGHĐ Tỷ giá hối đoái
XNK Xuất nhập khẩu
OMO Nghiệp vụ thị trường mở
NHNN Ngân hàng nhà nước
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt
động của nền kinh tế. Tỷ giá ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay trở lại tác
động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cán cân thanh toán của
mỗi quốc gia. Xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là
một vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp, luôn được Chính phủ các nước và các nhà

1.2. Phân loại
1.2.1 Theo tính chất thực tế
a) Tỷ giá danh nghĩa
- Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral nominal exchange rate): là giá
cả hàng hóa của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa
đề cập đến sức mua hàng hóa dịch vụ giữa chúng. Khi tỷ giá tăng, một đồng tiền yết
giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn nên đồng tiền yết giá gọi là tăng giá và
ngược lại khi tỷ giá giảm, một đồng tiền yết giá đổi được ít đồng tiền định giá hơn
nên đồng tiền yết giá gọi là giảm giá.
- Tỷ giá danh nghĩa đa phương (nominal effective exchange rate):
Tại một thời điểm xác định, một đồng tiền có thể là lên giá so với đồng tiền
này nhưng lại là xuống giá so với đồng tiền khác. Vậy làm thế nào để biết được một
đồng tiền là lên giá hay giảm giá đối với tất cả các đồng tiền còn lại từ thời điểm
5
này sang thời điểm khác. Để giải quyết vấn đề này dùng tỷ giá danh nghĩa đa
phương trung bình.(NEER)
Cách tính NEER
i
= ∑e
ij
*w
j
( j =1 > n)
Trong đó:
e: chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương
w: tỷ trọng của tỷ giá song phương
j : số thứ tự của các tỷ giá song phương
i: là kì tính toán
Thực chất: NEER không phải là tỷ giá mà là chỉ số.
b) Tỷ giá thực tế

phép.
b) Tỷ giá chợ đen:
Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng do quan hệ cung- cầu
trên thị trường chợ đen quyết định.
1.2.3 Theo tính chất dao động
a) Tỷ giá cố định:
Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một dao động hẹp. Dưới áp lực
cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định buộc NHTW phải thường xuyên
can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia liên tục thay đổi.
b) Tỷ giá thả nổi tự do:
Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường,
NHTW không hề can thiệp.
c) Tỷ giá thả nổi có điều tiết:
Là tỷ giá được thả nổi nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động
theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
1.3. Các nhân tố tác động lên tỷ giá
1.3.1. Những nhân tố tác động lên tỷ giá trong dài hạn
a) Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền:
Tỷ giá thực phản ánh tương quan sức mua của hai đồng tiền thông qua tỷ giá
danh nghĩa đã được điều chỉnh lạm phát giữa hai đồng tiền đó. Tỷ lệ lạm phát
thường ít thay đổi trong ngắn hạn và thường chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn vì vậy
tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền phản ánh xu hướng vận động của tỷ giá
trong dài hạn.
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái
không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài trong
khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo quy luật
cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ
hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá,
cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút,
7

8
hàng ngoại hơn hàng nội thì sẽ kích thích nhập khẩu, làm tăng cầu ngoại tệ, khiến
tăng tỷ giá và nội tệ giảm giá.
Ngoài ra, người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh
ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động mua
bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó lại bị chi
phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này
giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong
tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi
người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại; Mặt khác, giá
ngoại tệ rất nhậy cảm với thông tin cũng như các chính sách của chính phủ. Nếu có
tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt
thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh
chóng.
g) Cán cân thương mại
Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cán cân thương mại của
một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một
nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục
công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá
dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng,
làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập
khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường. Hành
động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tác động của hai hiện tượng
trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái cuối cùng
sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó
chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ
lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt
thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
1.3.2. Những nhân tố tác động lên tỷ giá trong ngắn hạn
a) Những cú sốc về kinh tế, chính trị, xã hội, thiên tai

này sẽ giảm trong khi cầu của chúng tăng sẽ tạo áp lực lên lạm phát. Thứ hai là
10
cung tiền: sự mất giá đồng nội tệ sẽ gia tăng cung tiền do giá trị bằng nội tệ của các
tài sản neo theo ngoại tệ tăng cùng với sự phá giá của đồng tiền.
1.4.3. Tỷ giá hối đoái tác động tới đầu tư quốc tế
- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh. Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được đưa
vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức. Bên
cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt động đầu tư
nước ngoài. Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định tới hành vi của các
nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tại hay không.
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế
cũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường.
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổng
lợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện tượng
luồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ vào trong
nước.
Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi
các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảm mức
độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
1.5. Chính sách tỷ giá
1.5.1. Khái niệm
Chính sách tỷ giá là tập hợp các biện pháp sử dụng tỷ giá như một công cụ để
thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra, là cách thức mà chính phủ hoặc NHTW sử
dụng để tác động vào nội tệ và can thiệp vào thị trường ngoại hối.
Việc điều hành chính sách tỷ giá là để đạt tới các mục tiêu vĩ mô của nền kinh
tế. Nhưng đồng thời còn phải giúp bảo vệ nền kinh tế trong những tình huống ngắn
hạn nhất định. Chính sách tỷ giá cần hướng tới sự tự chủ trong hoạch định, đấu
tranh với hiện tượng đầu cơ tích trữ, nâng cao uy tín nội tệ. Việc can thiệp dẫn đến
những biến động tỷ giá trên thị trường còn tùy thuộc vào tầm nhìn, đánh giá của các

nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và phát triển kinh tế qua thí dụ của 183
12
nước giai đoạn hậu Bretton Woods, sử dụng cách phân loại tỷ giá hối đoái mới -
phân loại theo thực tế (de facto) dựa trên các hành vi thực tế của các biến số kinh tế
vĩ mô có liên quan. Ngược lại với các nghiên cứu trước đây, chúng ta phát hiện ra
rằng, đối với các quốc gia đang phát triển, tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn đi đôi
với phát triển thấp hơn, với sản lượng đầu ra biến động lớn hơn. Đối với các quốc
gia công nghiệp hóa, tỷ giá không có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển”.
Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế khác lại phát hiện ra mối liên hệ giữa khủng
hoảng ngân hàng và tỷ giá hối đoái. Ví dụ Ilker và Maria (2000) của Ngân hàng Thế
giới, dựa trên thực nghiệm cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng
và tỷ giá hối đoái, họ đã sử dụng dữ liệu toàn diện gồm cả các nước đã và đang phát
triển trong 2 thập kỷ gần đây. Họ cho rằng áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm
giảm nguy cơ khủng hoảng ngân hàng ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, một
khi khủng hoảng xảy ra các quốc gia có tỷ giá hối đoái cố định chịu tổn thất lớn hơn
các quốc gia có tỷ giá hối đoái linh hoạt.
Những phát hiện gần đây cho thấy một quốc gia càng trưởng thành theo nghĩa
hội nhập vào thị trường vốn quốc tế và phát triển hệ thống tài chính lành mạnh,
càng nên lựa chọn tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Ở các nước đang phát triển, tiếp
cận thấp với thị trường vốn quốc tế nên áp dụng tỷ giá cố định tương đối như neo tỷ
giá. Vì nó giúp đạt được lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn và khả năng xảy ra
khủng hoảng thấp hơn. Ở các nước có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi, tiếp
cận cao hơn với dòng vốn quốc tế, thì nên áp dụng tỷ giá trung gian. Bởi vì, tỷ giá
cố định nếu áp dụng ở các nước này sẽ là mầm mống gây ra khủng hoảng, mặt khác
nó không giúp đạt được mức lạm phát thấp hoặc tăng trưởng cao một cách rõ ràng.
Trong khi đó, tỷ giá linh hoạt hoàn toàn cũng không thể áp dụng ở các nước này, do
lo ngại rằng dao động lớn trong tỷ giá hối đoái có thể gây ra thiệt hại cho nền kinh
tế. Ở các nước phát triển, thả nổi hoàn toàn sẽ cho mức phát triển nhanh hơn các
loại tỷ giá khác mà không phải chịu lạm phát cao. Mặc dù, giá trị của tỷ giá hối đoái
linh hoạt gia tăng với sự trưởng thành về tài chính, thì ưu thế của bất kỳ loại tỷ giá

tính bất ổn
của các cú
sốc và tỷ
giá cố định
danh
nghĩa.
Làm tăng rủi ro
về các cuộc đầu
cơ tấn công vào
tiền tệ, đặc biệt
khi có biểu hiện
các dòng vốn
không ổn định.
Làm tăng nguy
cơ khủng hoảng
trong bộ phận
ngân hàng.
Thả nổi Làm giảm nhập
khẩu, làm tăng sự
trưởng thành của bộ
phận tài chính và thể
chế
Làm tăng tốc độ
phát triển do hấp
thụ được các cú
sốc và ít bị chệch
hướng bởi các cú
sốc.
Làm tăng
tính bất ổn

trường tiền tệ để có thể lựa chọn một chế độ tỷ giá tối ưu. Một vị trí nằm giữa hai
thái cực cố định cực đoan và thả nổi thuần túy là bán thả nổi hay cố định bò trườn
theo chế độ Crawling Peg thường được các nước hiện nay áp dụng. Vấn đề là thả
nổi hay bò trườn ở mức độ như thế nào? Biên độ thả nổi là bao nhiêu? Việc lựa
chọn tỷ giá không có một tiêu thức chung, mà tùy thuộc vào điều kiện thực tế của
mỗi quốc gia và dựa trên những tiêu thức sau:
- Mức độ các giao dịch ngoại thương: quy mô của các giao dịch thương mại
là một yếu tố cần chú ý trong việc lựa chọn tỷ giá. Mặc dù trên thị trường luôn sẵn
có các nghiệp vụ phái sinh giúp loại trừ rủi ro hối đoái nhưng chi phí để thực hiện
các kỹ thuật hạn chế rủi ro hối đoái trên thị trường chỉ được xem như có hiệu quả
đối với các giao dịch có giá trị lớn. Nền kinh tế nhỏ, với giá trị các giao dịch là
không lớn, thì một mức độ tương đối ổn định của tỷ giá hối đoái vẫn được xem là
tốt hơn. Nhưng nếu tỷ trọng tổng giao dịch ngoại thương đối với nền kinh tế là đáng
kể thì nên có một chế độ tỷ giá linh hoạt để hạn chế ảnh hưởng từ các cơn sốc bên
ngoài.
15
- Mức độ giao lưu vốn và liên kết giữa lãi suất trong nước với lãi suất quốc
tế: Nếu mức độ giao lưu vốn và liên kết lãi suất trong nước và lãi suất quốc tế là
càng lớn thì tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm cho lãi suất trong nước sẽ phụ thuộc bởi
sự biến động của lãi suất trên thị trường thế giới và ngược lại
1.5.2.2. Tỷ giá hối đoái với chính sách tài chính - tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết lượng tiền cung ứng còn chính
sách tài chính thì tập trung vào cơ cấu thu chi ngân sách.
Tỷ giá hối đoái cố định sẽ tạo nên một sự ràng buộc chặt chẽ đối với chính
sách tiền tệ và làm mất tính chủ động cao của chính sách tiền tệ, từ đó tạo nên một
kỷ luật tài chính tốt hơn. Trong tỷ giá thả nổi, ngân hàng trung ương không có trách
nhiệm duy trì tỷ giá hối đoái nên tính tự chủ trong chính sách tiền tệ sẽ cao hơn.
Tuy nhiên, chính sách tài chính, tiền tệ có thể vận động ngược chiều nhau. Ví dụ,
một chính sách tiền tệ thắt chặt chống lạm phát có thể bị vô hiệu hóa nếu bộ tài
chính lại mở rộng đầu tư công.

Các nền kinh tế đang phát triển với những đặc thù như: nền kinh tế nhỏ, giá trị
các giao dịch ngoại thương không lớn cần thiết phải lựa chọn một tỷ giá linh hoạt có
quản lý. Do đó, để duy trì sự tương đối ổn định của tỷ giá cần phải sử dụng thêm
những biện pháp quản lý hành chính trong việc can thiệp.
 Việt Nam đang theo chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Cụ thể:
- Yếu tố thả nổi: NHNN chỉ “thông báo” tỷ giá giao dịch bình quân liên
ngân hàng do cung cầu thị trường liên ngân hàng quyết định. Các NHTM xác định
tỷ giá kinh doanh trên cơ sở TGBQLNH
- Yếu tố điều tiết của nhà nước: NHNN là người độc quyền điều hành, độc
quyền tính toán, độc quyền thông báo nên trong chừng mực nhất định thì mức
TGBQLNH chưa thoát ly khỏi ý chí chủ quan trong điều hành tỷ giá của NHNN.
Ngoài ra NHNN còn sử dụng hệ thống công cụ (trực tiếp, gián tiếp) dưới đây
để tác động lên tỷ giá.
1.5.3. Công cụ của chính sách tỷ giá
1.5.3.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá
(1) Thị trường ngoại hối
17
Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định, thậm chí hay
xảy ra những biến động lớn, các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái
như là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái thường là:
- Phát hành trái phiếu kho bạc bằng đồng tiền quốc gia (như Anh, Hà Lan).
Khi ngoại tệ vào nhiều thì sử dụng vốn từ quỹ này để mua nhằm hạn chế mức độ
mất giá của ngoại tệ. Ngược lại, trong trường hợp vốn chạy ra nước ngoài, quỹ này
sẽ tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái phiếu đã phát hành để ngăn chặn giá
ngoại tệ tăng lên.
- Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái (như Pháp, Mỹ, Thụy
Sĩ). Theo phương pháp này, khi cán cân thanh toán bị thâm hụt, quỹ dự trữ bình ổn
hối đoái sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán. Trường
hợp khi ngoại tệ vào nhiều, quỹ sẽ tung vàng ra bán thu về đồng tiền quốc gia để

hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định.
Do xu thế tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính, các biện pháp can
thiệp hành chính ngày càng trở nên không phù hợp. Chính vì vậy, xu thế trên tế giới
là ngày càng hạn chế can thiệp hành chính và chuyển sang sử dụng các công cụ thị
trường.
1.5.3.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá
(1) Lãi suất tái chiết khấu
Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên
thị trường. Với phương pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức “báo động” cần
phải can thiệp thì NHTW nâng cao lãi suất tái chiết khấu.
Do lãi suất tái chiết khấu tăng, lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên.
Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi suất cao.
Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, làm cho tỷ giá không có cơ
hội để tăng nữa. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm đến mức “báo động” thì NHTW
hạ thấp lãi suất tái chiết khấu, làm cho lãi suất cho vay trên thị trường giảm, vốn
ngắn hạn chạy ra nước ngoài làm cho cung ngoại tệ giảm và tỷ giá hối đoái không
có cơ hội giảm.
19
Phương pháp này cũng có hạn chế nhất định, vì lãi suất và tỷ giá chỉ có mối
tác động qua lại lẫn nhau chớ không phải là mối quan hệ nhân quả. Đồng thời, điều
kiện cần thiết để sử dụng lãi suất tái chiết khấu như một công cụ để tác động, can
thiệp vào tỷ giá là phải có một thị trường vốn đủ mạnh, tự do và linh hoạt; tài khoản
vốn đã được mở cửa.
(2) Thuế quan
Thuế quan cao có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu, nhập khẩu giảm làm cầu
ngoại tệ giảm, kết quả làm cho nội tệ lên giá. Khi thuế quan thấp, sẽ có tác dụng
ngược lại
(3) Hạn ngạch
Hạn ngạch là rào cản thương mại phi thuế quan quan trọng nhất. Đây là biện
pháp trực tiếp hạn chế số lượng hàng hóa được phép nhập khẩu hay xuất khẩu vào

qua một vài nét nổi bật trong biến động tỷ giá từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
để hình dung được bối cảnh kinh tế lúc đó.
Đầu năm 2007, trạng thái cung ngoại tệ lớn hơn cầu nên tỷ giá mua bán
USD/VND của NHTM luôn ở mức sát sàn. Khủng hoảng tín dụng Mỹ bắt nguồn từ
thị trường cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn làm USD mất giá mạnh trên thị trường
quốc tế, FED liên tục cắt giảm lãi suất USD, vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối tăng
22
mạnh, tỷ giá USD/VND ổn định, chênh lệch cao giữa lãi suất USD và VND đã
khuyến khích dân chúng bán USD gửi VND. Các công cụ của chính sách tiền tệ đã
được sử dụng để điều tiết có hiệu quả khối lượng tiền cung ứng, hạn chế sức ép tăng
giá VND.
Từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008 tái diễn tình trạng dư cung ngoại tệ do
USD liên tục mất giá, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD tăng, vốn ngắn hạn
nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng cao. Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
khiến tình hình kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, chỉ số giá tiêu
dùng, lãi suất huy động và cho vay VND tăng cao có thời điểm 21%/năm. NHNN
điều chỉnh giảm mạnh tỷ giá BQLNH, mở rộng biên độ tỷ giá từ ±0,5% lên ±0,75%
từ 24/12/2007, điều chỉnh lên ±1% từ 10/3/2008, doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó
khăn khi bán ngoại tệ vì NHTM không muốn mua. NHNN thực hiện chính sách thắt
chặt tiền tệ, phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc, kiểm soát chặt
việc cho vay đầu tư chứng khoán, bất động sản; tuy nhiên thông qua công cụ tái cấp
vốn NHNN hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khó khăn về thanh khoản. Điều chỉnh
tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 7,5%/năm
lên 15%/năm. Siết chặt kiểm soát các đại lý thu đổi ngoại tệ, kiểm soát vay ngoại tệ.
Đến tháng 10/2008, NHNN thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng, điều chỉnh giảm
lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống
7%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 13%/năm xuống 5%/năm, giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc VND từ 11% xuống 3%, hoán đổi ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản cho NHTM.
NHNN đã can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối làm giảm dự trữ ngoại tệ nhưng
đây chỉ là giải pháp tình thế.

hội đề ra (5%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế là thấp nhất trong vòng 10 năm (năm
2008 tăng 6,18%, năm 2007 tăng 8,46%, 2006 tăng 8,23%…), nhưng Việt Nam vẫn
được thế giới đánh giá là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu
vực châu Á (sau Trung Quốc tăng 7,8%).
- Áp lực tăng tỷ giá (tỷ giá danh nghĩa) kéo dài trong suốt năm 2009, mặc
dù biên độ dao động đã được nới lỏng lên ±5% vào ngày 23/3/2009 nhưng các
NHTM luôn có xu hướng niêm yết tỷ giá mua bằng tỷ giá bán và sát mức trần biên
độ. Các doanh nghiệp cũng như người dân đều có tâm lý muốn găm giữ ngoại tệ
24
chờ lên giá gây ra tình trạng khan hiếm ngoại tệ, nhiều doanh nghiệp nhập khẩu có
nhu cầu sử dụng ngoại tệ để thanh toán cho các hợp đồng thương mại quốc tế buộc
phải mua ngoại tệ trên thị trường chợ đen, cầu về ngoại tệ ngày càng tăng đẩy tỷ giá
trên thị trường này liên tục lên cao, chênh lệch giữa tỷ giá thị trường chợ đen và thị
trường chính thức là khá lớn (có lúc chênh lệch lên đến khoảng 1.500 VND/USD
vào tháng 7/2009).
2.1.2. Diễn biến tỷ giá năm 2009
Nguồn: cafef.vn
Giai đoạn 1 (từ 01/01 – 24/11/2009): tỷ giá liên tục tăng
Tỷ giá biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do.
Năm thứ hai liên tiếp thị trường ngoại hối bộc lộ những khó khăn rõ nét và những
vấn đề nội tại chưa thể giải quyết. Có thể xem căng thẳng ngoại tệ là một trong
những điểm nổi bật nhất của kinh tế Việt Nam năm 2009, nhất là khi xét đến những
ảnh hưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp và tâm lý người dân.
Căng thẳng trên thị trường bắt đầu xuất hiện từ quý 2, khi nhiều doanh nghiệp
găm giữ ngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cân đối cung –
cầu. Tình trạng này kéo dài cho đến cuối năm. Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ giảm
rất mạnh trong nửa đầu năm (chủ yếu do doanh nghiệp ngại vay vì lo rủi ro tỷ giá,
đến tháng 5 giảm tới 9,55% so với cuối năm 2008) lại tạo ra hiện tượng đối ngược
là ứ đọng vốn ngoại tệ tại các ngân hàng. Từ đây, năm 2009 có tình huống ít thấy:
tháng 6, 5 ngân hàng lớn “bắt tay” giảm lãi suất huy động USD, áp tối đa 1,5%/năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status