Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” trong tố tụng dân sự ở Việt Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN HỒNG VIỆT

NGUYÊN TẮC “TÒA ÁN KHÔNG ĐƯỢC TỪ CHỐI
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ VÌ LÝ DO
CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG”
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN HỒNG VIỆT

NGUYÊN TẮC “TÒA ÁN KHÔNG ĐƯỢC TỪ CHỐI
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ VÌ LÝ DO
CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG”
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


1.2.2. Nguyên tắc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng và ý nghĩa của các nguyên tắc này . 22
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ KHI CHƯA
CÓ ĐIỂU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
...................................................................................................................................30
2.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các
thời kỳ ....................................................................................................................30
2.1.1. Pháp luật từ thời kỳ phong kiến đến năm 1975 .............................................. 30
2.1.2. Pháp luật thời kỳ đất nước thống nhất sau năm 1975…………………. 37
2.2. Thực trạng giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng hoặc
luật không rõ ràng, đầy đủ .....................................................................................43
2.2.1.Thực trạng chung ..................................................................................................... 43
2.2.2. Một số trường hợp cụ thể ..................................................................................... 47
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ ĐẢM BẢO THỰC THI NGUYÊN TẮC TÒA ÁN


KHÔNG ĐƯỢC TỪ CHỐI GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ KHI CHƯA CÓ
ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG ...................................................................................58
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự .......................................58
3.2. Giải pháp đảm bảo thực thi nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết
vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng ...................................................63
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................74


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 xác định nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì

việc “dân sự” ở đây cũng hiểu theo nghĩa rộng là dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động, thậm chí còn liên quan đến các quyết định cá biệt
của cơ quan, tổ chức theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề không coi là mới bởi đây là quy định
có tính chất truyền thống của pháp luật dân sự nói chung, pháp luật nhiều nước trên
thế giới đã quy định và áp dụng tinh thần nguyên tắc này mấy trăm năm nay; ở Việt
Nam từ thời phong kiến sau đó thời Pháp thuộc, thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đến chế độ Sài Gòn trước năm 1975 cũng đã có những khoảng thời gian dài áp dụng
nguyên tắc tương tự vậy. Cái mới và tính cấp thiết để nguyên tắc này được nghiên
cứu ở đây, là pháp luật tố tụng dân sự nước ta mấy chục năm qua tuy ít nhiều cũng
có quy định nhưng thực tế đã “bỏ ngỏ” khi rất nhiều vụ việc dân sự người dân khởi
kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết thì bị từ chối, trả lại đơn khởi kiện, hoặc thụ lý rồi
đình chỉ giải quyết do “không thuộc thẩm quyền”, “luật không quy định”. Xét về
mặt pháp lý thì việc từ chối, đình chỉ này là không sai, thậm chí hợp pháp bởi pháp
luật không quy định cụ thể, rõ ràng những loại tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án, hoặc vẫn có thể thuộc thẩm quyền nhưng không quy định cụ thể
cách giải quyết; tuy nhiên việc từ chối, đình chỉ này lại không hợp lý cũng không
phù hợp tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Đảng và Điều 14 Hiến pháp mới
khi xác quyết các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
pháp luật [43]. Luật hóa nguyên tắc này là sự hoàn thiện đầy đủ để bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, đánh dấu một bước tiến mới trong tiến trình cải cách tư
pháp, là một bước ngoặt về tư duy, quan điểm lập pháp, có ảnh hưởng quyết định
đến sự thay đổi của hoạt động tố tụng tại Tòa án, đồng thời cũng là thách thức lớn
cho toàn ngành Tòa án nước ta trong tình hình hiện nay, cần được kịp thời nghiên
cứu để góp phần hoàn thiện và giúp đưa pháp luật đi vào cuộc sống.

2



3


[10]. Giáo trình “Lý luận và pháp luật về Quyền con người” của Đại học Quốc gia
Hà Nội [11], giáo trình “Quyền con người” của Học viện Khoa học xã hội thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam [67], sau khi phân tích sâu về quyền con
người, quyền công dân đều có chuyên đề về bảo vệ quyền con người bằng Tòa án;
quyền tài phán chung và trách nhiệm bảo vệ trước những vi phạm về quyền con
người; quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình
đẳng, quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc
lập và không thiên vị, được lập ra theo pháp luật…, cùng nhiều cuộc hội thảo
chuyên sâu, nhiều bài nghiên cứu, bài viết, ý kiến liên quan của các học giả, các vị
đại biểu Quốc hội trong quá trình thảo luận tại nghị trường. Gần đây là bình luận
khoa học Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự mới của các nhà khoa học,
chuyên gia pháp luật dân sự, các nhà nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn
[8] [31].
Tuy nhiên, liên quan nguyên tắc Tòa án/thẩm phán không được từ chối xét
xử vì lý do không có luật áp dụng, dù thực tế có nhiều tranh chấp đã từng bị Tòa án
từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết với lý do luật không có quy định, gây nhiều
bức xúc nhưng chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu sâu và cụ thể vấn đề này.
Như luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và tiểu luận liên quan đến tập quán, án lệ như
nêu trên đề cập mảng áp dụng tập quán, án lệ để giải quyết các vụ việc dân sự chứ
không đi sâu nghiên cứu nguồn gốc của nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải
quyết việc dân sự, cũng như các mảng khác như áp dụng tương tự pháp luật và mới
nhất là việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, lẽ công bằng trong
xét xử. Các giáo trình giảng dạy đại học, sau đại học về quyền con người, quyền
công dân khái quát hóa vấn đề quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ và phân tích nhiều về
lĩnh vực hình sự, tội phạm, hành chính, chưa thật đi sâu phân tích nguyên tắc này
dưới góc độ dân sự truyền thống.
Do vậy việc nghiên cứu vấn đề này còn khá mới, trước đây vụ việc tranh

nhiều hơn cùng các biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả nguyên tắc này trong thực
tế hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả dựa vào các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm cơ sở, nền tảng phương pháp luận. Để đạt được mục đích nghiên

5


cứu, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả từng bước đi từ những vấn đề lý luận
chung của nguyên tắc tố tụng, sử dụng các phương pháp đan xen như tổng hợp,
phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, đến việc khảo sát thực tiễn để làm nổi bật
các vấn đề liên quan.
Tác giả tiếp cận vấn đề đi từ khái niệm, những lý luận cơ bản, chung của
nguyên tắc này, thực trạng áp dụng của các nước và tại Việt Nam, từ đó dẫn dắt đến
các vấn đề riêng, cụ thể áp dụng vào thực tiễn tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn làm rõ thêm một số
vấn đề lý luận về khoa học pháp lý liên quan, đưa ra những giải pháp, đề xuất hữu
ích nhằm bảo đảm việc thực hiện, áp dụng nguyên tắc này trong thực tế, qua đó
mong muốn đóng góp một phần công sức của mình trong việc hoàn thiện các quy
định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 65 trang,
chia làm 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ và nguyên
tắc giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng.
Chương 2: Pháp luật về giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp
dụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự

cuộc khảo sát còn đưa ra kết quả quyền con người là một trong mười phát minh
quan trọng làm thay đổi thế giới.
Sự hình thành và phát triển quyền con người vừa là thành quả của sự phát
triển trong lịch sử nhân loại, là đỉnh cao của văn minh và tiến bộ xã hội, vừa là tất
yếu lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nguồn gốc lý luận để hình thành quyền
7


con người là các học thuyết triết học, chính trị - xã hội về con người, xã hội, nhà
nước, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân và nhà nước… Các học
thuyết này lại bị quyết định bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử cụ
thể. Do đó, quyền con người, xét đến cùng, cũng là sản phẩm của các điều kiện và
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh trình độ phát triển của xã hội, như Các Mác nhận
xét “nhân quyền không phải là bẩm sinh, mà là sản sinh ra trong lịch sử” [6,
tr.173].
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thuật ngữ “quyền tự do”, “quyền tự
nhiên” đã có từ thời cổ đại, trải qua các thời kỳ biến động của lịch sử, đến thời trung
cổ mặc dù tự do bị hạn chế đến mức thấp nhất, nước Anh khi đó cũng đã cố gắng
hạn chế quyền hạn của chế độ quân chủ, với sự ra đời của Đại hiến chương về
những quyền tự do (tiếng Latin: Magna Carta Libertatum) được thông qua vào năm
1215 mà theo đó có những điều khoản kềm chế sự tùy tiện của các quan chức là
người của hoàng tộc, giảm quyền lực của nhà nước quân chủ tập trung, bảo vệ các
quyền tự do cá nhân; quy định không bổ nhiệm những người không biết pháp luật
hoặc không muốn thực hiện pháp luật vào các chức vụ thẩm phán, công tố viên,
người đứng đầu cơ quan; bảo vệ các cá nhân không bị bắt giam bất hợp pháp, được
tiếp cận nhanh chóng với công lý. Người Anh tự hào ca tụng Đại hiến chương này
là “món quà quý giá nhất của nước Anh cho nhân loại”, vì “đã tạo cảm hứng cho cả
hiến pháp Hoa Kỳ và các quốc gia khác về dân chủ và nhân quyền”, đến nay vẫn là
một biểu tượng quan trọng của quyền tự do và quyền dân sự. Nội dung chính tạo
nên cốt lõi của Đại hiến chương là các nguyên tắc như mọi người, kể cả nhà Vua,

được tuyên bố và tạo ra “cú hích” đầu tiên đối với cách mạng châu Âu thế kỷ
XVIII.
Các tư tưởng về quyền tự nhiên không thể tước đoạt của con người được các
nhà tư tưởng, triết gia ở Tây Âu như Thomas Hobbes, John Locke, Charles-Louis
de Secondat Montesquieu, Jean Jacques Rousseau phát triển trong các học thuyết
của mình đã trở thành nhân tố tác động mạnh mẽ đến cuộc cách mạng tư sản Pháp,
để cho ra đời bản Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân năm 1789 của
nước Pháp theo đó, sự bỏ rơi quyền con người hoặc sự coi thường quyền con người
là nguyên nhân duy nhất của tình trạng nghèo đói trong xã hội và sự đồi bại của
chính phủ, với tuyên bố mọi người sinh ra có quyền tự do và bình đẳng, mục đích

9


của bất kỳ liên minh chính trị nào cũng là đảm bảo các quyền tự nhiên không thể
tước đoạt của con người, đó là quyền được tự do, quyền được sở hữu, quyền được
an toàn và quyền được phản kháng chống lại mọi áp bức, bóc lột; quyền được suy
đoán vô tội, được tự do tín ngưỡng, tự do thể hiện chính kiến, tự do xuất bản, được
đảm bảo các quyền nhân thân và các quyền khác của công dân. Theo Hiến pháp
năm 1791 của Pháp thì quyền con người – đó là quyền tự do, sở hữu, được an toàn
và chống lại áp bức [67, tr.20 – 23].
Khi đánh giá cao vai trò của học thuyết pháp luật tự nhiên trong việc hình
thành các quyền con người, không thể cho rằng đây là học thuyết duy nhất xác định
mối liên hệ giữa quyền con người với quyền lực nhà nước. Đối trọng với học thuyết
này là cách tiếp cận, học thuyết thực chứng về quyền con người và về mối quan hệ
qua lại mật thiết giữa nhà nước và cá nhân mà theo đó, quyền con người, quy mô và
nội dung quyền con người là “quà tặng” của nhà nước, được nhà nước hệ thống hóa
lại bằng pháp luật. Thực tiễn lập hiến và thực tiễn xét xử ở các quốc gia “đang mềm
hóa” các cách tiếp cận thực chứng và pháp luật tự nhiên, thực tiễn đang đi theo
hướng ghi nhận một cách tích cực các quyền và nguyên tắc tự nhiên, xu hướng này

một người có tư cách công dân đầy đủ nếu có đủ ba loại quyền này và việc thụ
hưởng các quyền này như thế nào phụ thuộc vào giai cấp xã hội của họ. Ngày nay,
các khái niệm về quyền cơ bản của con người và của công dân đã được mở rộng
hơn trước và được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế quan trọng, đó là những
nhóm quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cùng các quyền tập thể
khác, và trong các quyền về dân sự cơ bản có những quyền liên quan đến quyền tự
do của mỗi cá nhân, trong đó có quyền tiếp cận tư pháp, tiếp cận công lý.
1.1.2. Quan điểm về quyền tiếp cận công lý và bảo vệ quyền dân sự bằng
Tòa án
Cần nhìn nhận rằng tư tưởng pháp lý và luật pháp, thể hiện qua các văn bản
quy phạm pháp luật của Pháp và của Đức đã đóng góp to lớn vào việc hình thành họ
pháp luật Civil Law, mà sự hoàn thiện nhất được thể hiện trong Bộ luật Dân sự Pháp
(Napoléon) năm 1804, Bộ luật Dân sự Đức năm 1896. Cũng có thể kể đến Bộ luật
Dân sự Thụy Sĩ năm 1907. Đơn cử Bộ luật Dân sự Pháp, ngay thiên đầu tiên, từ
Điều 1 đến Điều 6 đã nêu các quy định chung, đặc biệt Điều 4 quy định rõ vai trò,
quyền và nghĩa vụ của của thẩm phán trong việc giải quyết tất cả các vụ việc dân sự

11


liên quan đến nhân thân, tài sản, quyền sở hữu, các phương thức thụ đắc quyền sở
hữu. Bộ luật Dân sự Thụy Sĩ ngay tại Điều 4 cũng quy định thẩm phán áp dụng các
quy tắc của luật pháp và sự công bằng để giải quyết tất cả các vụ việc dân sự. Theo
ngài Jacques Nunez, Chánh án Tòa phúc thẩm Rouen của Cộng hòa Pháp, hoàng đế
Napoléon Bonaparte đã từng cho rằng “công cụ quan trọng nhất của một chính phủ,
đó là Tòa án”. Công dân ngày càng viện đến Tòa án, thẩm phán nhiều hơn bởi vì
“Tòa án là một trong những nơi thể hiện sự dân chủ tốt nhất; khởi kiện ra Tòa ít ra
cũng là cơ hội để đưa vấn đề ra thảo luận công khai”. Hơn nữa, khi áp dụng Điều 4
quy định thẩm phán không được từ chối xét xử với lý do không có luật hoặc luật
không rõ ràng, đầy đủ thì “Tòa án được coi như giải pháp thay thế cho quyền lực

tế, đến nay được hầu hết các quốc gia trên thế giới tham gia. Sau đó là một loạt
công ước và cam kết quốc tế khác đã được triển khai nhằm cụ thể hóa các quyền
con người, đáng chú ý là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, và văn hóa năm 1966, có hiệu
lực từ năm 1976 [27, tr.22 – 23]. Quyền con người trong thời kỳ hiện đại không chỉ
là cuộc đấu tranh đòi những quyền con người cơ bản, mà còn là cuộc đấu tranh mở
rộng thêm các quyền con người.
Theo tác giả Vũ Công Giao, có nhiều định nghĩa khác nhau về tiếp cận công
lý, tuy nhiên có hai cách hiểu chính:
Một là, theo truyền thống, tiếp cận công lý được hiểu là quyền được xét xử
công bằng, được ghi nhận và nhấn mạnh trong luật quốc tế về quyền con người.
Hai là, theo một cách hiểu khác, tiếp cận công lý là khả năng tìm kiếm sự
đền bù (khắc phục) cho những bất công hay thiệt hại mà một cá nhân hay một nhóm
cá nhân đặc biệt là cho những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, phải gánh chịu. Những
bất công, thiệt hại này có thể do cá nhân, pháp nhân gây ra, có thể xảy ra trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, và việc tìm kiếm sự đền bù, khắc phục này
được thực hiện thông qua việc tiếp cận với các thiết chế tư pháp chính thống như
Tòa án, hoặc không chính thống như hệ thống các luật tục, các cơ chế hòa giải dựa
trên cộng đồng… Đây là cách tiếp cận mới, quan điểm mới và rộng hơn nhiều so
với quan điểm truyền thống, được nhiều tổ chức quốc tế đặc biệt là Chương trình
Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) sử dụng rộng rãi. Cách tiếp cận mới này kế
thừa và bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống bằng cách cung cấp thêm những bảo

13


đảm có hiệu quả để tất cả các bên tranh chấp, đặc biệt là những nhóm xã hội thiệt
thòi, có thể đạt được những giải pháp công bằng. Nền tảng của tiếp cận công lý là
khuôn khổ các quyền và nghĩa vụ công dân (sự bảo vệ pháp lý) và khuôn khổ thiết
chế cho phép tất cả mọi người có thể vận dụng hoặc được trợ giúp để có được sự

động lên hành vi của con người như phong tục, tập quán, hương ước, lệ làng và
trong nhiều trường hợp, những thiết chế tương ứng của các thể chế này lại hoạt
động hiệu quả hơn các thiết chế tư pháp chính thống theo pháp luật. Nên xét theo
khía cạnh đó, tiếp cận công lý vừa là một trạng thái của xã hội, vừa là một đòi hỏi,
vừa là nghĩa vụ của nhà nước trong việc tổ chức, thực thi bảo vệ pháp luật, tạo điều
kiện cho các chủ thể nói chung và cá nhân nói riêng được tiến lại gần hơn lẽ phải và
sự công bằng, trên tinh thần “tư pháp không những phải thi hành công lý mà còn
phải làm cho dân chúng thấy rằng công lý được thi hành”.
Cốt lõi trong nhà nước pháp quyền là đem lại cho công dân lòng tin rằng luật
pháp sẽ được áp dụng công bằng và bình đẳng, tư pháp phải bảo vệ nhân quyền.
Kiểm soát quyền lực tư pháp nhằm đạt được kết quả cuối cùng là duy trì và bảo vệ
lẽ phải, bảo vệ công lý. Tiếp cận công lý vừa là mục tiêu của hoạt động tư pháp, vừa
là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực kiểm soát quyền lực tư pháp của người dân. Theo
tác giả Đinh Thế Hưng, có thể hiểu quyền tiếp cận công lý là quyền con người, là
khả năng của chủ thể yêu cầu nhà nước đảm bảo cho họ sử dụng pháp luật và các
thiết chế bảo vệ quyền con người một cách dễ dàng, thuận lợi nhất để bảo vệ quyền,
lợi ích của họ khi có tranh chấp hoặc bị vi phạm [26, tr.15]. Còn theo tác giả
Nguyễn Quốc Hùng, xét về mặt nội dung, năng lực tiếp cận công lý bao gồm khả
năng loại trừ những rào cản tiếp cận công lý như về pháp lý, tài chính, ngôn ngữ, sự
thiếu hiểu biết về pháp luật và các cơ quan pháp luật… Xét rộng ra, năng lực tiếp
cận công lý còn đòi hỏi một xã hội cởi mở, dân chủ, minh bạch của cộng đồng công
dân tự do, công dân có tính tích cực chính trị, tính tích cực công dân [25, tr.29 –
34].
Quyền được xét xử công bằng và quyền bình đẳng trước pháp luật được ghi
nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và được cụ thể hóa trong
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị như đã nêu. Xét xử công bằng và
bình đẳng trước pháp luật được hiểu là sự thi hành công lý theo đó bao gồm khía
cạnh về thể chế (sự độc lập của Tòa án, sự không thiên vị của thẩm phán) và khía

15

bảo vệ các quyền con người và các tự do cơ bản năm 1950, làm tăng nhanh các thủ

16


tục xét xử, ghi nhận các quyền và các tự do không thể bị tước đoạt của con người,
quy định cơ chế bảo vệ quốc tế đối với các quyền của con người, phải tuân thủ các
quyền con người và các tự do cơ bản liên quan đến thẩm quyền xét xử mà theo đó
mỗi công dân có khả năng khiếu nại hoặc khiếu kiện đến các cơ quan hành chính
hoặc cơ quan xét xử [68, tr.200 – 210].
Vấn đề quan trọng, là pháp luật không tạo ra các quan hệ xã hội, mà pháp
luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Các quan hệ xã hội này luôn
phát triển theo chiều hướng đa dạng, phong phú và thực tế cho thấy ngày càng phức
tạp, do vậy các nhà làm luật không thể dự liệu được hết các quan hệ phát sinh để có
thể điều chỉnh kịp thời bằng chế định pháp luật, nhưng yêu cầu lại đặt ra là pháp
luật phải kịp thời bảo vệ quyền dân sự. Điều này dẫn đến các “lỗ hổng pháp luật”
mà các cơ quan xét xử thường gặp không ít khó khăn vì không có cơ sở pháp lý để
giải quyết, mặc dù trong đó nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích
chính đáng của cá nhân, tổ chức. Con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn
bất toàn, do vậy từ xưa đến nay, trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật
pháp và cả hai được hình thành trên nền tảng của những triết lý nhân bản, hướng tới
việc duy trì trật tự xã hội và phụng sự cho cuộc sống của con người được tốt hơn.
Với bản chất học thuyết nhà nước pháp quyền, thì nhà nước ấy phải vì con
người, hướng tới con người và tất cả vì con người, phải bảo đảm các quyền con
người, quyền công dân được thực thi trong thực tế xã hội, trong đó có quyền được
yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ khi có tranh chấp mà trọng tâm,
chủ yếu là việc giải quyết của Tòa án trong hoạt động xét xử. Học thuyết nhà nước
pháp quyền là một thành quả to lớn của xã hội loài người trong đó, không chỉ hệ
thống pháp luật phải cụ thể, đầy đủ, rõ ràng, công khai, minh bạch để mọi người
dân có thể dễ dàng tiếp cận, dễ hiểu, qua đó biết mình được làm gì và không được

chính quy phạm pháp luật đó. Nên rõ ràng là án lệ có giá trị không những về thực
tiễn xét xử mà còn có giá trị không kém gì một quy phạm pháp luật. Ở Anh, vai trò
sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã
được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối
với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự; việc xây dựng án lệ theo quan
điểm xét xử của các Tòa án có thẩm quyền xem xét bản án của Tòa án cấp dưới đã

18


góp phần bổ sung tốt sự thiếu sót của các quy định pháp luật trong thực tiễn, nên
việc vận dụng án lệ kể cả tục lệ pháp được thực hiện khá phổ biến, do vậy hệ thống
luật pháp ở Anh có sự vận dụng linh hoạt đúng luật vừa phù hợp với thực tiễn, bằng
cả nguồn tập quán, tục lệ vừa phù hợp lẽ phải và công bằng xã hội. Hiện nay, hầu
hết các nước có nền luật pháp tiên tiến đều có sự vận dụng án lệ trong xét xử tại Tòa
án, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc Tòa án không được quyền
từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân, đồng thời cũng có nguyên
nhân từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của các nước bất kể theo hệ
thống pháp luật Civil Law hay Common Law, và cả hệ thống pháp luật của những
nước xã hội chủ nghĩa.
Việc thừa nhận án lệ trong hệ thống pháp luật góp phần to lớn bổ sung những
khiếm khuyết, những “lỗ hổng” của pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích của
người dân, phù hợp với nền kinh tế thị trường trong đó sự hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng, các quan hệ kinh tế, dân sự không ngừng phát triển và pháp
luật không thể dự liệu được hết tất cả các tình huống này sinh trong cuộc sống. Việc
phát triển hệ thống án lệ không những giải quyết kịp thời quyền lợi của người dân,
phù hợp với thông lệ quốc tế, mà còn tạo điều kiện cho thẩm phán chủ động sáng
tạo trong hoạt động xét xử, bảo đảm phán quyết của mình vừa hợp pháp, hợp lý vừa
hợp tình, trên tinh thần độc lập, sáng tạo, công tâm trong xét xử, “thẩm phán làm
luật” để lấp những khoảng trống của pháp luật và bảo vệ triệt để quyền dân sự của

đến ngày nay: “Thẩm phán nào từ chối xét xử, với lý do luật không quy định, quy
định không rõ ràng hoặc không đầy đủ, thì có thể bị truy tố về tội từ chối xét xử”;
đồng thời Điều 5 cũng quy định “nghiêm cấm thẩm phán giải quyết những vụ việc
được giao xét xử bằng cách đặt ra những quy định chung và có tính chất quy phạm”
[62, tr.10 – 11]. Jean–Étienne–Marie Portalis (1746 – 1807), một trong bốn luật gia
thực hành lừng danh được Napoléon chọn tham gia xây dựng bộ luật này, đã nói:
“Bộ luật dân sự cần phải duy trì và bảo đảm tất cả các mối quan hệ trong xã hội
(…) Khi một đạo luật quy định không rõ ràng thì nhiệm vụ của thẩm phán là phải
nghiên cứu nó. Thẩm phán còn có nhiệm vụ bổ sung đạo luật đó nếu thấy nó không
đầy đủ hay trong trường hợp luật hoàn toàn không quy định. Nếu bạn từ chối trao
quyền hạn này cho thẩm phán thì cũng có nghĩa là toàn bộ các Tòa án đều bị cấm
hoạt động (…) Cần phải có án lệ vì luật không thể giải quyết hết mọi vấn đề trong

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status