BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
CAO NGUYỄN THÀNH TRUNG
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH Y TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số
: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ DÂN
Đà Nẵng - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Cao Nguyễn Thành Trung
NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI .................................. 40
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NGÃI ..................................................................................... 40
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.......................................................................... 40
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .............................................................. 41
2.1.3. Tình hình y tế tỉnh Quảng Ngãi ..................................................... 44
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ TỈNH
QUẢNG NGÃI ............................................................................................... 49
2.2.1. Thực trạng quy mô nguồn nhân lực ngành y tế ............................. 49
2.2.2. Thực trạng cơ cấu nguồn nhân lực ngành y tế ............................... 51
2.2.3. Thực trạng phát triển trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân
viên y tế .................................................................................................... 58
2.2.4. Thực trạng nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế ....................... 59
2.2.5. Thực trạng nâng cao động lực thúc đẩy nguồn nhân lực y tế ........ 60
2.3. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH Y TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI ........................................................... 64
2.3.1. Thực trạng ban hành chính sách .................................................... 64
2.3.2. Thực trạng triển khai chính sách ................................................... 68
2.3.3. Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách thu hút, sử dụng nguồn
nhân lực y tế và nguyên nhân của thực trạng ........................................... 72
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 83
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ TỈNH QUẢNG NGÃI .................. 84
3.1. CƠ SỞ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP..................................................... 84
3.1.1. Xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lƣợng khám bệnh, chữa
bệnh .......................................................................................................... 84
3.1.2. Chiến lƣợc phát triển ngành y tế .................................................... 85
3.1.3. Một số quan điểm khi xây dựng giải pháp .................................... 89
: Công suất sử dụng giƣờng bệnh
CSSK
: Chăm sóc sức khỏe
DSĐH
: Dƣợc sĩ đại học
DTTS
: Dân tộc thiểu số
ĐKKV
: Đa khoa khu vực
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
KCB
: Khám chữa bệnh
KTV
: Kỹ thuật viên
: Ủy ban nhân dân
VN
: Việt Nam
WTO
: Tổ chức Thƣơng mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
2.1
Cơ cấu dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
43
2.2
Đối tƣợng tham gia bảo hiểm y tế
Cơ cấu nguồn nhân lực y tế theo tuyến năm 2013
Cơ cấu chuyên môn nguồn nhân lực y tế theo tuyến năm
2013
Cơ cấu trình độ chuyên môn nguồn nhân lực y tế theo
tuyến năm 2013
Cơ cấu nguồn nhân lực y tế theo giới tính năm 2013
Cơ cấu trình độ chuyên môn nguồn nhân lực phân theo
giới tính nữ năm 2013
45
46
46
48
49
50
52
53
54
55
56
56
2.15
2.16
2.17
Cơ cấu chuyên môn nguồn nhân lực y tế theo tuyến năm
2013
Cơ cấu trình độ chuyên môn nguồn nhân lực y tế theo
tuyến năm 2013
Trang
51
54
55
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con ngƣời là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, quyết định sự phát
triển của đất nƣớc. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt
động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Trong quá trình lãnh đạo đất nƣớc, Đảng ta luôn chú trọng đến yếu tố
con ngƣời, coi con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã
hội. Những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng quan tâm đến ngành y
tế, coi đầu tƣ cho sức khỏe là đầu tƣ trực tiếp cho phát triển bền vững. Trong
đó, nhân lực y tế là yếu tố quyết định chất lƣợng dịch vụ y tế, hiệu quả của
công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Ngành y tế Việt Nam là ngành vừa phục vụ vừa làm dịch vụ, cho nên
nếu chỉ phát triển theo hƣớng thị trƣờng thì không đáp ứng đƣợc công tác
khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân; bởi vì, hiện nay tỷ lệ
ngƣời có thu nhập thấp, ngƣời nghèo, ngƣời cận nghèo ở nƣớc ta còn khá cao,
triển NNL ngành y tế nhằm hạn chế tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế cho một
số chuyên ngành và ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng khó khăn, trong đó có
các chính sách hút nguồn nhân lực ngành y tế. Chính sách đó nhằm giải quyết
từng bƣớc những yêu cầu chính đáng về chế độ đãi ngộ, điều kiện công tác, cơ
hội thăng tiến của nhân lực có năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt,
bản lĩnh chính trị vững vàng, có nguyện vọng về làm việc lâu dài trong ngành y
tế tỉnh.
Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện chính
sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút nguồn nhân
lực nói chung và thu hút nguồn nhân lực ngành y tế nói riêng.
Phân tích thực trạng nguồn nhân lực ngành y tế và việc thực hiện chính
sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn vừa qua, các
kết quả đạt đƣợc, những tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại cần khắc phục.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân
lực ngành y tế tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến chính sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế.
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ
yếu liên quan đến chính sách thu hút nguồn nhân lực ngành y tế.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực y tế và
“Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực y tế” (2001) của Giáo sƣ
Prawase Wasi, Đại học Mahidol- Thái Lan, đã xác định tầm quan trọng
của việc đào tạo cho nguồn nhân lực y tế và việc phát triển nguồn nhân
lực y tế gắn liền với phát triển hệ thống y tế phục vụ cho nhu cầu đổi mới.
Phát triển hệ thống y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế phải dựa trên
nền tảng tri thức, hay các công trình nghiên cứu khoa học rất cần thiết
trong việc hoạch định chính sách.
“Nguồn nhân lực y tế: Kinh nghiệm của Thái Lan” (2002) của tiến
sĩ Somsak Chunharas- Viện nghiên cứu hệ thống y tế Thái Lan. Thái Lan
đã trải qua quá trình lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế hơn 20
năm, kinh nghiệm này cùng với nổ lực trong việc dự báo nhu cầu về số
lƣợng nhân lực y tế đã giải quyết tốt tình hình nguồn nhân lực y tế tại
5
Thái Lan. Việc nghiên cứu về các khía cạnh nâng cao chất lƣợng nguồn
nhân lực giúp các nhà hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực y
tế có cái nhìn tốt hơn vào các vấn đề thật sự cần thiết của việc phát triển
nguồn nhân lực.
Đề tài khoa học do PGS.TS. Nguyễn Phú Trọng chủ biên năm 2002:
"Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Đề tài khoa học cấp Bộ do PGS. TS. Nguyễn Đăng Thành chủ
nhiệm (2002): "Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch
định chính sách ở Việt Nam" Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Viện Chính trị học.
Nguyễn Đặng (2004), Chính sách, chế độ đối với những cán bộ,
công chức xã, phường, thị trấn, Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội, Nhà
xuất bản Lao động Thƣơng binh và xã hội.
tác lập kế hoạch, quản lý đào tạo nhằm cải thiện năng lực chất lƣợng đào
tạo cho các trƣờng đại học y, dƣợc, cao đẳng y tế. Giúp tăng cƣờng công
tác quản lý nhân lực và cải tiến cơ chế tài chính sẽ nhằm góp phần xây
dựng và hoàn thiện các chính sách liên quan ngành y tế nhƣ: Luật Khám
chữa bệnh và chi trả bảo hiểm y tế.
Đề tài “Nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước” (2011) do PGS.TS. Lê Quang Hoành
-chủ nhiệm đề tài, đã xác định nghiên cứu quản lý nguồn nhân lực y tế
trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc là một vấn đề hết
sức cấp thiết, nhƣng cũng rất khó khăn, nhất là trong bối cảnh tình hình
trong nƣớc và thế giới có nhiều thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc, có
nhiều chính sách đã lỗi thời, chƣa đồng bộ và còn thiếu. Đề tài đã nêu lên
những điều bất cập, những khó khăn trong công tác quản lý nguồn nhân
7
lực y tế ở các cấp (trung ƣơng, địa phƣơng), các khu vực (khám chữa
bệnh, dự phòng, đào tạo, công lập và ngoài công lập …); các điểm chƣa
hợp lý trong các chính sách có liên quan đến quản lý nguồn nhân lực. Một
số nhóm giải pháp tổng thể và cụ thể đã đƣợc đề xuất nhằm giúp nâng cao
hiệu quả quản lý, sử dụng và tạo nguồn nhân lực y tế đảm bảo về chất
lƣợng và số lƣợng cho nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân trong
thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh (2011) “Phát
triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Nam”, nêu vai trò mang tính
quyết định của nguồn lực con ngƣời đối với sự phát triển của ngành y tế.
Bài viết “Một số chính sách phát triển nguồn nhân lực việt nam
hiện nay” của tác giả Vũ Ngọc Phƣơng trên tạp chí Dân số và Phát triển,
số 8/2011 đã kiến nghị chọn lựa mô hình đào tạo nhân lực cho công cuộc
giữa các cá nhân trong cộng đồng. NNL là tổng thể các tiềm năng lao động
của một ngành, một tổ chức, của địa phƣơng hay một quốc gia ở một thời
điểm nhất định[8].
"Nguồn nhân lực chất lƣợng cao là nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc yêu
cầu thị trƣờng, tức là có kiến thức, có kỹ năng, có thái độ, tác phong làm việc
tốt, trách nhiệm với công việc". Nhƣ vậy, bất kỳ ngƣời lao động nào (công
nhân, kỹ thuật viên, kỹ sƣ, bác sĩ, giáo sƣ hay tiến sĩ) đƣợc sử dụng đúng
ngành nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu tốt nhất công việc của cơ quan, doanh
nghiệp cũng đều là nguồn nhân lực chất lƣợng cao[13].
Nguồn nhân lực chất lƣợng cao là những ngƣời đã đạt đƣợc một trình
độ đào tạo nhất định thuộc hệ thống giáo dục đại học, nắm vững chuyên môn
nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc lập, tổ chức triển khai những công
trình quan trọng với phƣơng pháp khoa học, công nghệ tiên tiến[13].
Trƣớc hết cần hiểu cho đúng thế nào là nguồn nhân lực chất lƣợng cao.
Theo tác giả, nguồn nhân lực chất lƣợng cao không đồng nghĩa với học hàm,
học vị cao, nghĩa là nếu một ngƣời nào đó cho dù có học hàm, học vị cao
9
nhƣng lại không có đóng góp gì thực sự có giá trị về mặt khoa học trong suốt
quá trình công tác giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học thì không đƣợc gọi là
nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Ngƣợc lại, những ngƣời không hề có học
hàm, học vị cao, thậm chí chỉ là ngƣời công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ có
trình độ trung cấp, hay kỹ sƣ, cử nhân, nhƣng nếu họ lại có tay nghề hay
chuyên môn rất giỏi về một lĩnh vực nào đó, đáp ứng tốt nhất yêu cầu công
việc và có những đóng góp thực sự có giá trị cho xã hội thì đó chính là nguồn
nhân lực chất lƣợng cao. Vì vậy, nguồn nhân lực chất lƣợng cao là những
ngƣời có khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao một cách xuất sắc nhất,
sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc, cho
tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động
Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực
tiếp đến tính mạng ngƣời bệnh, sức khỏe của nhân dân, chất lƣợng cuộc sống,
chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nƣớc.
Việc cung ứng các dịch vụ y tế theo từng ngƣời bệnh về bản chất đòi hỏi sử
dụng nhiều lao động. Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp
xúc riêng trực tiếp giữa NVYT và ngƣời bệnh. Trong những ca phức tạp có
thể cần tới cả một kíp (tập thể) NVYT với các thành phần khác nhau dành
riêng cho việc chăm sóc cho một ngƣời bệnh. Thậm chí có những ca đơn giản
nhƣng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn khác nhau phối
hợp chăm sóc cho một ngƣời bệnh. Vì vậy, bản chất của việc cung ứng dịch
vụ y tế đòi hỏi một lực lƣợng nhân lực đủ lớn, và bất chấp nguồn chi trả, tỷ lệ
tƣơng đối lớn ngân sách CSSK cần đƣợc dành cho nhân lực y tế. Việc đầu tƣ
cho nguồn nhân lực y tế rất có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội, và cũng nhƣ
việc đầu tƣ vào lĩnh vực khác, khi đầu tƣ vào nhân lực y tế cần bảo đảm rằng
nguồn lực này đƣợc sử dụng hợp lý và tránh lãng phí. Nhân lực trong ngành y
tế thƣờng phải làm việc với cƣờng độ lớn (đôi khi liên tục 24/24 giờ; nhất là ở
các bệnh viện quá tải); môi trƣờng làm việc độc hại (dịch bệnh, truyền nhiễm,
11
phóng xạ,…). Chính vì thế họ cần đƣợc đãi ngộ đặc biệt.
- Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt
chẽ và có kế hoạch
Vì quy mô nhân lực y tế rất lớn, khoản đầu tƣ vào các cơ sở đào tạo
nhân lực y tế cũng phải rất lớn để duy trì quy mô và đáp ứng nhu cầu gia tăng
theo dân số. Thêm vào vấn đề quy mô đội ngũ nhân lực rất lớn, việc đào tạo
CBYT, và đặc biệt là đội ngũ bác sĩ, cần một khoảng thời gian rất dài với sự
kiểm tra giám sát chặt chẽ và rất tốn kém. Ví dụ nhƣ một bác sĩ phải qua 6
áp dụng quy luật thị trƣờng trong cung cấp dịch vụ y tế liên quan đến sự
chênh lệch về nhận thức tồn tại giữa NVYT và ngƣời bệnh. Chênh lệch này
tạo nên tình trạng lợi thế cho NVYT và đƣợc gọi là “thông tin không đối
xứng”, theo đó ngƣời bệnh không biết ngƣời cung cấp dịch vụ y tế cho mình
có đạt các tiêu chuẩn năng lực chuyên môn hay không. Vấn đề này có thể
đƣợc khắc phục một phần thông qua hệ thống cấp chứng chỉ hành nghề.
Kể cả khi các thầy thuốc đã đƣợc cấp chứng chỉ hành nghề, nếu không
có các tiêu chuẩn và biện pháp giám sát hiệu quả để kiểm soát các lựa chọn
của thầy thuốc, và đặc biệt trong môi trƣờng có nhiều yếu tố khuyến khích sử
dụng quá nhiều thuốc và dịch vụ chẩn đoán nhằm tăng thu nhập, thì bất đối
xứng thông tin giữa thầy thuốc và ngƣời bệnh dễ dẫn đến lạm dụng trong
cung cấp dịch vụ y tế.
Một yếu điểm khác trong thị trƣờng y tế liên quan đến tính độc quyền
của nhân lực y tế ở nhiều nơi. Các NVYT có trình độ và kỹ năng cao là nhân
lực đặc biệt, vì không thể thay thế dịch vụ họ cung cấp bằng dịch vụ khác khi
ngƣời bệnh có nhu cầu CSSK thiết yếu, đặc biệt ở khu vực nông thôn và ở
vùng đặc biệt khó khăn, cũng nhƣ trong một số chuyên khoa sâu. Vì vậy,
NVYT có thể coi nhƣ là có độc quyền, không có sự cạnh tranh thị trƣờng, khi
cung cấp các dịch vụ thiết yếu này. Độc quyền của thầy thuốc dễ dẫn đến
cung cấp thừa dịch vụ để nâng thu nhập, tăng chi phí của ngƣời dân và BHYT
13
khi mua dịch vụ y tế.
Ở nhiều nƣớc, việc cung ứng dịch vụ có sự tham gia phối hợp của y tế
công lập và ngoài công lập. Tuy nhiên các dịch vụ y tế công cộng, tức là dịch
vụ nhằm bảo vệ sức khỏe của tập thể ngƣời dân trong cộng đồng, thƣờng có
tính chất là “hàng hóa công cộng”. Do đó, các dịch vụ y tế công thƣờng đƣợc
cơ sở y tế công lập cung cấp hoặc đƣợc nhà nƣớc tài trợ và ở các nƣớc đang
và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Đó là một nghề đòi hỏi phải có lòng nhân
ái, dám chịu đựng vất vả, hy sinh để cứu ngƣời, tôn trọng nhân phẩm và
quyền lợi bệnh nhân, thực hiện các quy tắc ứng xử có trách nhiệm và không
phân biệt đối xử... Tuy nhiên, kỳ vọng rất cao của xã hội đối với ngƣời thầy
thuốc cả về chất lƣợng và đạo đức lại bị đe dọa bởi áp lực tất lớn từ bất cập
của thị trƣờng và các quy định và chế tài chƣa đầy đủ để đảm bảo các chuẩn
mực cao về y đức và chất lƣợng chăm sóc y tế tốt cho tất cả mọi ngƣời, không
phụ thuộc vào khả năng chi trả.
- Đặc điểm phức tạp của nguồn nhân lực y tế cần có sự can thiệp của
Chính phủ
Bản chất đặc thù của ngành y tế cần phải sử dụng nhiều lao động và
nhu cầu đầu tƣ lớn cho nguồn nhân lực y tế, bao gồm cả các nhu cầu đầu tƣ
liên tục để duy trì, nâng cao kiến thức và kỹ năng đáp ứng đƣợc nhu cầu chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe ngày càng cao của nhân dân, đòi hỏi phải có sự quan
tâm của Chính phủ trong việc lập kế hoạch và điều phối nguồn nhân lực y tế
nhiều hơn là đối với nguồn nhân lực ở các ngành khác.
Nguồn nhân lực y tế đòi hỏi sự kiểm soát của Nhà nƣớc ở mức độ cao
hơn với nhiều lý do đã nêu trên. Thứ nhất, do ngƣời bệnh không đủ kiến thức
và thông tin để đánh giá và lựa chọn dịch vụ y tế có chất lƣợng. Điều đó làm
cho bệnh nhân dễ trở thành nạn nhân phải chịu hậu quả của dịch vụ CSSK
không phù hợp, không đầy đủ/kém chất lƣợng hoặc không đƣợc đối xử đúng
mức. Thứ hai, là có các nguy cơ tiềm ẩn trong cung ứng dịch vụ y tế và các
15
nguy cơ này cần đƣợc giám sát và kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ cho cả bệnh
nhân và các NVYT. Nguyên nhân thứ ba và rất quan trọng là các dịch vụ y tế
kém chất lƣợng có thể dẫn tới nguy hiểm đến tính mạng hoặc tổn thƣơng về
mặt thân thể/tinh thần của ngƣời bệnh, và tiêm chủng không hiệu quả, kê đơn
Wiliam N. Dunn cho rằng: "Chính sách công là một kết hợp phức tạp
những lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành
động, do các cơ quan nhà nƣớc hay các quan chức nhà nƣớc đề ra" [24]. Ông
dùng thuật ngữ "sự lựa chọn" - đây là điểm đáng lƣu ý để tránh nhầm lẫn giữa
chính sách với các khái niệm khác nhƣ các quyết định hành chính.
Theo Peter Aucoin," Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do
chính phủ tiến hành" [24]. Aucoin cho rằng, chính sách có thể vừa là hành
động riêng biệt của Chính phủ (quyết định của chính quyền tỉnh về sự phát
triển ở một vùng cụ thể) vừa là kết quả của hàng loạt quyết định đa dạng
(chính sách môi trƣờng và quyết định không hành động của nhiều chính phủ).
Thông thƣờng, thuật ngữ "chính sách" đƣợc sử dụng theo nghĩa thứ hai - một
chính sách đƣợc cấu thành từ một loại quyết định.
B. Guy Peter đƣa ra định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạt
động của nhà nƣớc có ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của
mọi công dân" [24]. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi
chính sách công là nhà nƣớc, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách
công đến đời sống của ngƣời dân với tƣ cách là một cộng đồng.
Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội, các tác giả đƣa ra định nghĩa:
"Chính sách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tƣ tƣởng, các giải pháp
và công cụ mà Nhà nƣớc sử dụng để tác động lên các đối tƣợng và khách thể
quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất
định theo định hƣớng mục tiêu tổng thể của xã hội"[19].
Những đặc trƣng trong mỗi luận cứ của mối tác giải phản ánh chính
sách công từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể