BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ KIM TUYỀN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI
CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ KIM TUYỀN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI
CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Đình Khôi Nguyên
Đà Nẵng – Năm 2012
1.1.3. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ...................................... 7
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN ............................ 10
1.2.1. Các hình thức công bố thông tin ................................................... 10
1.2.2. Các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin ............................. 11
1.3. CÁC VẤN ĐỀ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ ......................................................... 14
1.3.1. Các chuẩn mực liên quan đến việc trình bày và công bố
thông tin trên Báo cáo tài chính ......................................................................... 14
1.3.2. Công bố thông tin qua hệ thống Báo Cáo Tài Chính của
doanh nghiệp nhỏ và vừa .................................................................................... 23
1.3.3. Nội dung Báo cáo tài chính .......................................................... 25
1.3.4. Quy định về Công khai Báo cáo tài chính.................................. 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG I ................................................................................... 28
CHƯƠNG 2 - THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ....................................................... 29
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU ........................................................................ 29
2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................................. 31
2.2.1. Các yếu tố dự kiến ảnh hưởng đến việc lập và công bố
thông tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận Liên Chiểu ........ 31
2.2.2. Tổ chức thu thập dữ liệu............................................................. 35
2.2.3. Đo lường các biến và chọn mẫu ................................................. 37
2.2.4. Câu hỏi nghiên cứu ...................................................................... 38
2.2.5. Phân tích thông tin ....................................................................... 38
2.3. THÔNG TIN CHUNG VỀ MẪU NGHIÊN CỨU .......................... 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG II................................................................................... 44
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT ............................... 45
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 45
3.1.1. Thực trạng chung công bố thông tin trên báo cáo tài chính
Doanh nghiệp
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BC KQHĐKD
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BC LCTT
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCĐKT
Bảng cân đối kế toán
QLNN
Quản lý nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
1.1
2.1
2.2
2.3
2.4
Đặc điểm về số lượng lao động tại doanh nghiệp
Đặc điểm về trình độ của nhân viên kế toán
Đặc điểm về thời gian thực hiện công tác của kế toán
Đặc điểm về hình thức làm việc tại doanh nghiệp
Các mẫu biểu được lập trong Báo cáo tài chính
Công khai thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh
nghiệp
Công khai thông tin về chính sách kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp
Các thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày
trong Bảng CĐKT, BC KQKD, BC LCTT, Thông tin
khác.
Ý kiến của kế toán về các nhân tố ảnh hưởng đến việc
công bố thông tin
Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s
Kết quả rút trích nhân tố
Ma trận mẫu
Kết quả hồi qui của mô hình
Kết quả phân tích hồi quy (ANOVA)
Kết quả phân tích hồi quy (Coefficientsa)
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
Trang
4
30
30
31
40
40
41
triển quan trọng, ngày càng giữ vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của
địa phương. Do đó, thông tin kế toán cung cấp phải trung thực, đáng tin cậy
về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính … phù hợp
với chuẩn mực kế toán nhất là việc trình bày và công bố báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính là sự tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán theo các
chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định một cách có hệ thống nhằm cung cấp thông
tin cần thiết, quan trọng về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối
tượng sử dụng thông tin có liên quan khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường,
đối tượng sử dụng thông tin kế toán không chỉ giới hạn là những người quản
lý ở bên trong các doanh nghiệp hay phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát của
các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả các đối tượng, các thể
nhân, pháp nhân bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các chủ nợ,
ngân hàng thương mại, Cơ quan Thuế, các đối tác kinh doanh... Mỗi đối
tượng sử dụng thông tin kế toán với mục đích rất khác nhau.
Qua nghiên cứu thực tiễn công tác lập báo cáo tài chính tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên quận Liên Chiểu hiện nay còn thiếu một số chỉ tiêu,
phương pháp trình bày một số chỉ tiêu chưa tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế
toán, việc công bố thông tin tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa
2
thực sự phản ảnh đầy đủ, trung thực thông tin về tình hình tài chính và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá vấn đề công bố thông tin kế toán,
nhằm mục đich tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng cường tính minh
bạch, trung thực của thông tin tài chính được công bố của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU”.
2. Mục đích nghiên cứu
mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận.
Giai đoạn khảo sát, thu thập ý kiến của các phụ tránh kế toán của những
đơn vị đã khảo sát BCTC ở trên nhằm làm rõ hơn các nhân tố ảnh hưởng đến
việc công bố thông tin.
Thông tin thu thập qua hai giai đoạn sẽ được sử dụng để xây dựng mô
hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học : giúp chúng ta hiểu rõ thực trạng thông tin được trình
bày trên báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận
Liên Chiểu.
Về mặt thực tiễn : đưa ra một số kiến nghị về vấn đề công bố thông tin
trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để đảm bảo tính trung
thực hợp lý của các thông tin được công bố.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba
chương :
Chương 1: Tổng quan về công bố thông tin tài chính của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa .
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu.
4
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và đề xuất.
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÀI
CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là doanh nghiệp
Số lao
động
từ trên 10
Doanh nghiệp vừa
Tổng
nguồn
vốn
từ trên 20 tỷ
Số lao
động
từ trên 200
5
nghiệp và
trở xuống
thủy sản
II. Công
nghiệp và
xây dựng
III. Thương
mại và dịch
vụ
người đến
trở xuống 200 người 100 tỷ đồng
300 người
10 tỷ
từ trên 10
từ trên 10 tỷ
từ trên 50
đồng
người đến
đồng đến
người đến
trở xuống
50 người
50 tỷ đồng
100 người
móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại. Việc sử dụng các công
nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị
trường kém.
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Yếu tố tư bản cấu thành trong
sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao,
tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung
thấp;
+ Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận nguồn thông tin... của các
DNNVV, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước...
đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị
trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác
marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó
tiêu thụ trên thị trường.
- Năng lực quản lý còn thấp: Quản trị nội bộ của DNNVV còn yếu, nhất
là quản lý tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao; còn
lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề.
Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo
7
doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế. Số lượng DNNVV
có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực
quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh
nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu
kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh. Mặt khác, DNNVV
ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ, tay
nghề cao do khó có thể trả lương cao và có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để
thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như những người lao động giỏi.
có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành nghề kém hiệu
quả sang các ngành khác hiệu quả hơn, thoả mãn nhu cầu linh hoạt của dân
cư. Chính sự phát triển đó của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính
linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.
* Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế.
Trước tiên, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng như sự phát triển của các
khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh.
Các DN được phân bố đều hơn về lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền
núi, đồng bằng. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác
dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi như sự tăng mạnh của các cơ
sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước. Sự phát
triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông
qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.
Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển
của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc
văn hoá dân tộc, khai thác thêm nhu cầu đất nước .
* Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế
9
Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác
nhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN
lớn. Nhiều DN nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cấp các sản
phẩm cho các DN lớn. Do dó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp
phần tăng cường mối quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và
giữa các DN lớn. Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẻ và góp
cũng như ở nông thôn là một trong những biện pháp cơ bản góp phần tăng
nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư. Thông qua việc phát triển các
DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhờ đó mà thu
nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao. Đời sống của người dân nông
thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xóa
đói giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và
tăng mức công bằng trong nền kinh tế. Hơn nữa, do có tính năng động và linh
hoạt, khi các DNNVV phát triển sẽ tạo điều kiện phát huy lợi thế mới của
vùng, phát triển các ngành và các khu công nghiệp tạo điều kiện giảm bớt
khoảng cách giữa các vùng trên toàn quốc, xoá bỏ mức chênh lệch về thu
nhập rất lớn giữa các vùng dân cư.
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1. Các hình thức công bố thông tin
Thông tin kế toán là thông tin tiền tệ về các hoạt động kinh tế tài chính
diễn ra ở đơn vị kế toán cụ thể. Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng
sử dụng, giúp họ ra các quyết định kinh tế hiệu quả liên quan đến đơn vị kế
toán.
Công bố thông tin kế toán là cung cấp thông tin kế toán của một doanh
nghiệp thông qua hệ thống các BCTC của trong một thời kỳ nhất định. Mục
đích của công bố thông tin kế toán là để thông báo cho cả nhà đầu tư hiện tại
và nhà đầu tư tiềm năng về các chính sách và phương pháp kế toán được sử
11
dụng để trình bày các thông tin tài chính của doanh nghiệp trong những
khoảng thời gian phát triển nhất định (kỳ kế toán).
Việc công bố thông tin kế toán ra bên ngoài được xem là một yêu cầu
khách quan của thực tiễn để Nhà nước vận hành nền kinh tế tốt hơn; để các tổ
chức kinh tế và cá nhân liên quan có điều kiện đánh giá các khoản vốn đầu tư
công ty. Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông và người quản
lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác và cho
rằng nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty)
đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý
công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho các cổ đông và
công ty [16].
Theo Jensen và Meckling (1976); Chow và Wong-Boren (1987); Lang và
Lundholm, (1993), chú trọng đến việc công bố thông tin tự nguyện và việc
khuyến khích các nhà quản lý tham gia vào các hoạt động này đã chứng minh
được là có sự khác nhau với các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy
kinh doanh và sự phân tán quyền sở hữu ([7], [8], [17], [18], [19], [20]).
1.2.2.2. Lý thuyết Tín hiệu (Signaling theory)
Một cách tiếp cận lý thuyết được sử dụng trong quá trình công bố thông
tin tự nguyện là lý thuyết tín hiệu. Lý thuyết tín hiệu được phát triển để giải
thích việc công bố thông tin tự nguyện. Theo lý thuyết tín hiệu việc công bố
thông tin của một DN có thể truyền những dấu hiệu cho người đầu tư bên
ngoài về thông tin bên trong ở doanh nghiệp.
Dựa trên nghiên cứu của Craven và Marston (1999), nhà quản lý cố gắng
thông qua việc tự nguyện công bố thông tin để phân biệt được đơn vị hoạt
động kinh doanh có hiệu quả cao với các đơn vị có hiệu quả thấp hơn trong
cùng lĩnh vực kinh doanh. Tín hiệu có mức độ khác nhau về độ tin cậy
(Eccles và cộng sự, 2001). Và do đó công bố tự nguyện được coi là một trong
những phương tiện cho các công ty hoặc người quản lý để phân biệt DN này
với những DN khác về chất lượng và hiệu quả. Theo Watts & Zimmerman
(1986), một chiến lược hợp lý để công bố những thông tin bổ sung cho các
13
nhà đầu tư tín hiệu về giá trị công ty. Việc sử dụng các công ty kiểm toán viên
- Giả thuyết kỳ kế toán: Là việc phân chia hoạt động của DN thành
nhiều phân đoạn thời gian bằng nhau, gọi là kỳ kế toán, để lập các báo cáo kế
toán phục vụ cho việc phân tích đánh giá quá trình hoạt động và những thay
đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
- Giả thuyết hoạt động liên tục: DN được giả định là đang hoạt động
liên tục. BCTC không được giả định bất kỳ khả năng nào của sự phá sản hoặc
bất kỳ dự định nào có thể thu hẹp quy mô hoạt động hiện tại.
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: DN phải lập BCTC theo cơ sở kế toán dồn
tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền. Các giao dịch và sự
kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực
thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của các kỳ kế
toán liên quan. BCTC được lập dựa trên cơ sở dồn tích sẽ phản ảnh tình hình
tài chính của DN trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Nguyên tắc giá gốc: Việc đo lường, tính toán tài sản, nợ phải trả,
nguồn vốn chủ sở hữu và chi phí phải đặt trên cơ sở giá gốc tại thời điểm hình
thành. Nguyên tắc này tạo nên một hạn chế của BCTC là nó không phản ánh
giá thị trường của tài sản, nguồn vốn mà chỉ phản ảnh theo giá vốn.
- Nguyên tắc phù hợp: Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế
toán là tính lãi, lỗ kế toán sau một thời kỳ hoạt động của doanh nghiệp.
Nguyên tắc phù hợp đưa ra hướng dẫn trong việc xác định chi phí để tính lợi
nhuận kế táon. Chi phí để tính lưọi nhuận kế toán là toàn bộ khoản chi phí đẻ
tạo nên doanh thu đã ghi nhận trong kỳ. Như vậy, chi phí để tính lợi nhuận kế
toán của một kỳ kế toán phải có sự phù hợp với doanh thu ghi nhận trong kỳ.
- Nguyên tắc nhất quán: Theo nguyên tắc này các quá trình kế toán phải
áp dụng tất cả các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực và các phương pháp tính
toán trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác.
16
- Ghi nhận nợ phải trả : Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối
kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là DN sẽ phải dùng một lượng tiền chi
ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà DN phải thanh toán, và khoản
nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy.
- Ghi nhận doanh thu và thu nhập khác: việc ghi nhận doanh thu xảy
ra đồng thời với việc tăng các lợi ích kinh tế của đơn vị trong một kỳ kế toán,
phát sinh làm một tài sản (lợi ích kinh tế) tăng lên nhưng không làm giảm một
tài sản khác hay không làm tăng một khoản nợ phải trả, phát sinh lên quan
đến một khoản nợ phải trả giảm đi nhưng không giảm một tài sản tương ứng
hoặc không làm tăng một khoản nợ phải trả. Doanh thu và thu nhập khác
được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là tổng giá trị các
lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động kinh
doanh thông thường và các hoạt động khác của DN, góp phần làm tăng vốn
chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của người chủ sở hữu.
- Ghi nhận chi phí: việc ghi nhận chi phí xảy ra đồng thời với việc ghi
nhận khoản nợ phải trả tăng lên hoặc khoản tài sản giảm. Theo cơ sở kế toán
dồn tích, chi phí để xác định lãi lỗ được ghi nhận trên Báo cáo KQHĐKD
trong thời kỳ khi những hao phí của nó được xác định một cách tin cậy, phải
tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
1.3.1.2. Chuẩn mực số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính.
a) Mục đích của chuẩn mực : Quy định và hướng dẫn các yêu cầu và
nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính Mục đích, yêu cầu
và nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo
cáo tài chính
b) Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính: Nguyên tắc lập và
trình bày BCTC tuân thủ theo nguyên tắc kế toán và các yêu cầu của thông tin