Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
LỜI MỞ ĐẦU
Trong doanh nghiệp sản xuất thì chi phí NVL đầu vào rất lớn, cần phải
kiểm soát chi phí một cách hợp lí để không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Đồng thời, có kế hoạch dự trữ NVL tại kho để phục vụ sản xuất. Đối với số
NVL này, ngoài việc doanh nghiệp phải bảo quản tốt để tránh hư hỏng thì
doanh nghiệp cũng phải quản lí tránh hao hụt, mất mát. Doanh nghiệp phải có
các biện pháp theo dõi cả về số lượng và mặt giá trị của NVL trong kho, thông
qua việc theo dõi NVL nhập, xuất, tồn kho. Xuất phát từ yêu cầu của quản lí
NVL trong quá trình dự trữ và sử dụng hình thành công tác tính giá NVL.
Tính giá NVL là việc xác định giá trị ghi sổ của NVL nhập, xuất kho, chiếm
một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động và lập các BCTC của doanh
nghiệp. Nếu việc tính giá NVL có sai sót thì kết quả hoạt động của doanh
nghiệp bị phản ánh sai lệch và thông tin cung cấp cho các đối tượng quan tâm
cũng không chính xác, điều này có thể dẫn đến những quyết định sai lầm,
những thiệt hại không mong muốn. Vì vậy, tính giá là hoạt động thường
xuyên và đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp. Vì vậy em xin chọn đề
tài “Một số đề suất hoàn thiện phương pháp tính giá NVL nhập kho, xuất
kho”. Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta thấy rõ được vai trò của công tác tính
giá, CMKT QT cũng như CMKT VN về tính giá, những bất cập trong lựa
chọn phương pháp tính giá.
Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Văn Công đã giúp đỡ để
em hoàn thành đề án này.
Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2007
nguyễn Quỳnh Anh
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
1
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
PHẦN I: CƠ SỚ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
NHẬP KHO, XUẤT KHO
1.1. Tính giá NVL và bản chất của tính giá NVL
giá NVL trên bảng cân đối kế toán. Tính giá NVL có vai trò quan trọng
tới tính hữu ích của thông tin kế toán trên các báo cáo tài chính để cung
cấp cho các đối tượng sử dụng khác nhau.
Thông thường kế toán sử dụng ít nhất năm phương pháp tính giá NVL
với các mục đích khác nhau, đó là giá phí lịch sử (giá gốc); giá phí hiện tại
xác định bằng giá phí thay thế; giá phí hiện tại xác định bằng giá trị thuần có
thể thực hiện được; giá thấp hơn giá gốc và giá thị trường; và giá phí chuẩn.
Theo các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAAP) yêu cầu phải sử
dụng nguyên tắc đánh giá theo giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường.
1.2.1. Phương pháp giá gốc (giá phí lịch sử)
Theo phương pháp này đánh giá từng đơn vị NVL theo giá phí lịch sử
của chúng cho đến khi bán, sử dụng hàng đó. Mọi biến động giá thị trường
không bị ảnh hưởng cho đến khi sản phẩm đó được bán. Theo phương pháp
này trên bảng cân đối kế toán NVL không phản ánh sát với giá thị trường,
doanh nghiệp càng nắm giữ lâu số NVL này thì giá thị trường sẽ khác so với
giá gốc của NVL.
1.2.2. Phương pháp giá phí hiện tại
Theo phương pháp này, giá đơn vị của NVL phải ánh theo giá thị
trường hiện tại. Có hai phương pháp giá phí hiện tại đó là giá phí hiện tại
nhập vào thường gọi là giá phí thay thế và giá phí hiện tại xuất ra thường gọi
là giá trị thuần có thể thực hiện được. Khi doanh nghiệp phản ánh NVL theo
giá phí hiện tại thì đòi hỏi phải ghi nhận lãi hoặc lỗ do thay đổi đơn giá NVL
trong khoảng thời gian dự trữ đến lúc bán hàng đó. Trong khi theo phương
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
3
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
pháp giá phí lịch sử (giá gốc) thì NVL phản ánh các thông tin khách quan và
sát thực nhưng có thể không cập nhật thì phương pháp giá phí hiện tại cho
biết các thông tin cập nhật và có thể hữu ích hơn cho người sử dụng dạng
thông tin, nhưng việc xác định này sẽ gây khó khăn cho việc phản ánh và
gộp thông thường có thể đạt được của mặt hàng đó. Như vậy, việc xác định
theo phương pháp giá thấp hơn giá gốc và giá thị trường được thực hiện theo
2 bước (minh hoạ trong Bảng1-1).
Bước 1: Xác định giá thị trường.
Giá thị
trường
=
Giá trị giữa (giá phí thay thế, giá trị thuần có thể thực hiện,
giá trị thuần có thể thực hiện trừ lãi gộp thông thường)
Bước 2: Xác định giá thấp hơn giá gốc và giá thị trường.
LCM = Giá trị nhỏ nhất của giá gốc và giá thị trường
Như vậy, từ bảng 1-1 cho thấy theo LCM thì mặt hàng A dùng giá gốc,
mặt hàng B sử dụng giá trị thuần có thể thực hiện, mặt hàng C sử dụng giá phí
thay thế, và mặt hàng D sử dụng giá gốc. Phương pháp LCM trong đánh giá
hàng tồn kho là việc áp dụng chính sách kế toán khá thận trọng. Bởi vì, thứ
nhất phương pháp này ghi nhập các khoản lỗ do sự giảm giá trên thị trường
trước khi doanh nghiệp bán sản phẩm nhưng không ghi nhận các khoản lãi do
việc tăng giá trên thị trường trước khi bán sản phẩm đó. Thứ hai, các số liệu
về NVL trên bảng cân đối kế toán không bao giờ cao hơn giá gốc nhưng có
thể thấp hơn giá gốc. Nói cách khác là việc ghi nhận các khoản lỗ chưa xảy ra
thường xuyên xuất hiện trong các báo cáo tài chính trong khi việc ghi nhận
các khoản lãi chưa thực hiện không xuất hiện cho đến khi doanh nghiệp bán
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
5
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
sản phẩm đó. Tuân thủ theo LCM là thực hiện khá triệt để nguyên tắc thận
trọng trong kế toán. Trong một thời gian dài trước đây, lợi nhuận xác định
bằng dòng tiền vào trừ dòng tiền ra (cơ sở tiền). Đối với từng mặt hàng chỉ có
một số là lãi hoặc lỗ (chênh lệch giữa giá bán và giá gốc của mặt hàng đó).
Nguyên tắc đánh giá chỉ được xác định khi xuất hiện các khoản lãi, lỗ này
toán quản trị và kế toán chi phí.
Kế toán sử dụng phương pháp giá gốc cho hầu hết các tài sản. Giá thị
trường của một số NVL có thể giảm sút một cách đáng kể dưới giá gốc của
chúng do giá của mặt hàng đó thay đổi hoặc do một số mặt hàng trong kho bị
kém phẩm chất (giảm giá trị, xuống cấp,…). Các nguyên tắc kế toán chung
đòi hỏi đánh giá trên phương pháp LCM. Điều này có nghĩa là trong một số
trường hợp kế toán sử dụng giá thị trường. Tính toán giá thị trường đòi hỏi cả
hai giá là giá phí thay thế và giá trị thuần có thể thực hiện được. Do đó, các
nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận áp dụng cho NVL đánh giá và phản
ánh giá vốn hàng bán đòi hỏi một sự kết hợp của ba phương pháp đánh giá đó
là: giá gốc, giá phí thay thế và giá trị thuần có thể thực hiện được.
Khi giá cả tăng lên, giá phí thay thế và giá trị thuần có thể thực hiện
được thường cao hơn giá gốc vì vậy NVL trong trường hợp này đánh giá theo
phương pháp giá gốc và theo phương pháp LCM cho kết quả như nhau.
1.3. Kinh nghiệm tính giá NVL tại một số nước
1.3.1. Kinh nghiệm từ kế toán Mỹ
1.3.1.1. Thực tế đánh giá
Giá gốc được áp dụng phổ biến, tuy nhiên giá thị trường vẫn được áp
dụng khi cần thiết (hợp nhất), hoặc đánh giá theo giá thấp hơn giá thị trường.
Nguyên vật liệu chủ yếu được đánh giá theo phương pháp LIFO cho mục đích
tránh nộp thuế những năm đầu. Điều đó cũng được chấp nhận bởi cơ quan thuế.
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
7
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
Khác với kế toán Pháp, hệ thống kế toán Mỹ chỉ công bố các
nguyên tắc, chuẩn mực, không quy định cụ thể, không bắt buộc các
doanh nghiệp phải hạch toán giống nhau.
1.3.1.2. Đối với kế toán NVL hệ thống kế toán Mỹ qui định
Chế độ kế toán Mỹ xác định rất đầy đủ phạm vi của chỉ tiêu NVL, có
tính đến tất cả trường hợp có thể xẩy ra liên quan đến NVL. Nguyên vật liệu
- Về phương pháp đánh giá NVL: nguyên vật liệu phải được ghi sổ theo
giá thực tế. Cụ thể:
+ Đối với hàng mua vào: là giá mua thực tế. Giá mua thực tế bao gồm
giá thoả thuận và phụ phí mua (không kể thuế di chuyển tài sản, thù lao hay
tiền hoa hồng, lệ phí chứng thư)
+ Đối với hàng xuất kho: Giá hàng xuất kho được tính theo một trong 3
phương pháp: giá bình quân cả kỳ dự trữ, giá bình quân sua mỗi lần nhập và
giá nhập trước - xuất trước.
- Về phương pháp kế toán NVL: kế toán pháp cũng quy định 2 phương
pháp: kiểm kê định kỳ và kê khai thường xuyên.
1.3.3. Kinh nghiệm từ kế toán Trung Quốc
Hệ thống kế toán Trung Quốc chuyển dịch từ việc tập trung cung cấp
thông tin cho các tổ chức chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu kế hoạch
hóa nền kinh tế quốc dân và các chính sách thuế sang cung cấp thông tin kế
toán phục vụ cho các đối tượng rộng rãi hơn bao gồm các nhà đầu tư, nhà tín
dụng và các nhà quản trị doanh nghiệp. Một mặt, hệ thống kế toán vừa cố
gắng theo xu hướng cung cấp những thông tin cho các quyết định thuộc kinh
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
9
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
tế vi mô; mặt khác, nó cố gắng duy trì những cách đánh giá, báo cáo phục vụ
cho nền kinh tế vĩ mô.
Cách đánh giá tài sản của Trung Quốc rất thận trọng và giá vốn thực tế
được vận dụng một cách nghiêm ngặt.
Giá vốn thực tế hàng xuất kho có thể được tính toán theo những
phương pháp sau: bình quân, FIFO và LIFO, phương pháp “thấp hơn giá thị
trường” không được chấp nhận, tuy nhiên có thể lập dự phòng cho hàng hóa
lỗi thời hoặc hư hỏng.
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
10
Trong CMKT VN 02 qui định rõ:
Nguyên tắc tính giá tại điều 4
Phương pháp tính giá được phép áp dụng vời NVL nhập kho, xuất kho
từ điều 5 đến điều 17.
Tiếp đó vào ngày 20/03/2006, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho
các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước từ
năm tài chính 2006, thay thế Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT. Trong Chế
độ kế toán mới này, công tác tính giá NVL nhập kho, xuất kho đã được qui
định một cách đầy đủ, cụ thể và hoàn thiện nhất từ trước đến nay.
2.2. Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về phương pháp tính giá NVL
nhập kho, xuất kho
2.2.1. Nguyên tắc tính giá NVL
Tính giá nguyên vật liệu là một công tác quan trọng trong việc tổ chức
hạch toán nguyên vật liệu.
Nguyên tắc tính giá nguyên vật liệu: áp dụng điều 04 chuẩn mực kế
toán Việt Nam số 02 về hàng tồn kho được ban hành theo Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài chính: " Hàng tồn
kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được
thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được". Trong đó:
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí thu mua, chi phí chế biến và các
chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để được hàng tồn kho ở địa điểm và
trạng thái hiện tại.
Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho
trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn
thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
12
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
Như vậy phù hợp với chuẩn mực kế toán hàng tồn kho trong công tác
Bước 1: Xác định trị giá NVL mua vào.
Trị giá mua của NVL gồm giá mua ghi trên hoá đơn trừ (-) các khoản
giảm giá hàng mua, chiết khấu thương mại khi mua hàng được hưởng cộng
(+) các khoản thuế không được khấu trừ (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt,.v.v..)
Bước 2: Tập hợp toàn bộ chi phí phát sinh liên quan tới quá trình thu
mua NVL.
Chi phí thu mua gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bộ phận thu
mua, chi phí liên quan đền kho hàng, bến bãi, hao hụt trong định mức…
Nếu những chi phí này liên quan đến một loại NVL thì tính trực tiếp
cho NVL đó, còn nếu liên quan đến việc thu mua nhiều loại tài sản thì phân
bổ cho từng loại tài sản theo những tiêu thức thích hợp (trọng lượng, số
lượng, thể tích,…).
Bước 3: Tổng hợp chi phí và tính ra giá thực tế của NVL.
Ví dụ: Doanh nghiệp A mua vật liệu phục vụ sản xuất gồm
Vật liệu X: 10.000 kg, giá mua cả thuế GTGT là 440.000.000 đ.
Vật liệu Y: 40.000 kg, giá mua cả thuế GTGT là 880.000.000 đ.
Các chi phí vận chuyển, bốc dỡ là 12.500.000 đ.
Phân bổ chi phí thu mua cho từng loại vật liệu theo trọng lượng:
Chi phí thu mua phân bổ cho vật liệu X:
Chi phí thu mua phân bổ cho vật liệu Y = 12.500.000 – 2.500.000 = 10.000.000 đ.
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
14
12.500.000
10.000 + 40.000
X = = 2.500.000 đ
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
Giá thực tế của vật liệu X và Y được thể hiện ở bảng dưới đây:
Cách tính thuế GTGT
Vật liệu X Vật liệu Y
Chi phí
vận
chuyển,
bốc dỡ
Chi phí
kho
hàng,
bến bãi
Chi phí
bộ phận
thu
mua
Hao hụt
trong
định
mức
v.v.
GIÁ THỰC TẾ NVL MUA VÀO
Hình 2-1: Mô hình tính giá NVL mua vào
2.2.2.2.Đối với NVL tự sản xuất
Giá thực tế ghi sổ của NVL nhập kho do doanh nghiệp tự sản xuất là
giá thành công xưởng thực tế (giá thành sản xuất thực tế) của NVL được sản
xuất ra cộng với chi phí vận chuyển nếu có.
Giá thực tế
của VL tự sản xuất
=
Giá thành
sản xuất VL
+
Chi phí vận
Giá thực tế
của NVL được cấp
=
Giá theo
biên bản giao nhận
2.2.2.5. Đối với NVL nhận góp vốn liên doanh
Giá thực tế của NVL
nhận góp vốn liên doanh
=
Giá trị vốn góp
do hợp đồng liên doanh đánh giá
2.2.2.6. Đối với NVL được biếu tặng, viện trợ
Giá thực tế của NVL
được biếu tặng, viện trợ
=
Giá thị trường của NVL
tại thời điểm nhận
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
Tổng giá thành sản xuất
Số lượng sản phẩm hoàn thành
Giá thành đơn vị
sản phẩm
=
16
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công
2.2.2.7. Đối với phế liệu thu hồi từ sản xuất
Giá thực tế
của phế liệu thu hồi
=
Giá có thể sử dụng lại
trong 3 phương pháp sau:
2.2.3.2.1. Bình quân cuối kỳ trước
Ưu điểm : Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán
của kế toán vì giá vật liệu xuất kho tính khá đơn giản, cung cấp thông tin kịp
thời về tình hình biến động của vật liệu trong kỳ.
Nhược điểm: Độ chính xác của việc tính giá phụ thuộc tình hình biến
động giá cả nguyên vật liệu. Trường hợp giá cả thị trường nguyên vật liệu có
sự biến động lớn thì việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp
này trở nên thiếu chính xác.
2.2.3.2.2. Bình quân cả kỳ dự trữ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
vật tư nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Ưu điểm : Đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết
nguyên vật liệu, không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm
vật tư.
Nhược điểm : Dồn công việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho vào cuối
kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác.
Nguyênz Quỳnh Anh Lớp kế toán 16A-CQ
Trị giá NVL tồn đầu kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ
Đơn giá bình quân
cuối kỳ trươc
=
18
Trị giá NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đơn giá bình quân
cả kỳ dự trữ
=
Đề án môn học GVHD: PGS.TS.Nguyễn Văn Công