LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách
nhiệm hoàn toàn về những điều đã trình bày trong Luận văn.
Tác giả
Lê Tự Cư
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC
: Báo cáo Tài chính
CNTT
: Công nghệ thông tin
CQT
: Kiểm soát nội bộ
KTNB
: Kiểm tra nội bộ
MST
: Mã số thuế
MTKS
: Môi trường kiểm soát
NSNN
: Ngân sách Nhà nước
NNT
: Người nộp thuế
QLN
: Quản lý nợ
QLT
: Quản lý thuế
Tên bảng
Trang
Thống kê các loại hình DN đang hoạt động đến ngày
30
2.2
31/12/2011
Thống kê kết quả xử lý vi phạm thủ tục về thuế đối với
2.3
2.4
các DN qua các năm
Phân công công việc giữa các bộ phận
Trình độ cán bộ công chức tại Chi cục Thuế quận Hải
31
36
38
2.5
Châu
Kết quả công tác kiểm tra nội bộ từ năm 2007 đến năm
hình
1.1
Sơ đồ mối quan hệ công việc của quy trình nghiệp vụ về
20
1.2
thuế GTGT đối với doanh nghiệp
Sơ đồ quy trình nghiệp vụ về thuế GTGT đối với doanh
1.3
2.1
nghiệp
Sơ đồ kiểm soát thuế GTGT
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi Cục Thuế quận Hải
21
25
2.2
2.3
2.4
2.5
3.1
Châu
Sơ đồ mô hình KSNB tại Chi Cục Thuế
kiểm tra theo chuyên đề
Chuyển từ thanh tra, kiểm tra chủ yếu tại trụ sở NNT
Sang thanh tra, kiểm tra tại cơ quan thuế
84
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế GTGT giữ một vai trò quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách và
ngày càng chiếm tỉ trọng cao khi thuế XNK bị cắt giảm theo cam kết khi Việt
Nam gia nhập WTO; thuế TNDN giảm thuế suất và mở rộng diện miễn, giảm.
Chi cục Thuế quận Hải Châu là cơ quan chuyên môn nằm trong hệ thống
thu thuế Nhà nước, được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế và thu khác trên địa bàn
quận Hải Châu -TP. Đà Nẵng. Số thu từ thuế GTGT bình quân qua 5 năm (từ
2007 – 2011) chiếm 39,66% trong tổng số thu các sắc thuế vào NSNN. Đây là
một tỷ lệ rất thấp so với thực tế các đối tượng đang quản lý trên địa bàn quận Hải
Châu. Nguyên nhân công tác quản lý Nhà nước về thuế cũng như Luật thuế
GTGT đã bộc lộ nhiều hạn chế như: Phương pháp tính thuế GTGT là thuế
GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, hàng hóa mua vào chưa
bán ra nhưng thuế GTGT vẫn được kê khai khấu trừ toàn bộ, Chính sách về thuế
thường xuyên thay đổi; một số qui định trong Luật thuế và các quy trình nghiệp
vụ không phù hợp với tình hình thực tế tại Chi cục thuế Hải châu; tổ chức, bộ
máy chưa theo kịp yêu cầu quản lý; quyền hạn của cơ quan Thuế chưa tương
xứng với chức năng, nhiệm vụ; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn
nhiều hạn chế, chất lượng cán bộ thuế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, từ đó
dẫn đến hiện tượng trốn thuế, lách thuế còn khá phổ biến đối với các DN có qui
sử dụng phương pháp nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm thực tế để đề ra giải
pháp phù hợp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn làm rõ ý nghĩa của việc tăng cường kiểm soát thuế GTGT,
nêu lên thực trạng của hoạt động kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận
Hải Châu, đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả của hoạt động này.
3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tính đến nay đã có rất nhiều tác giả ngiên cứu về vấn đề “ Tăng cường
kiểm soát thuế GTGT” cụ thể:
Luận văn thạc sỹ: “Tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại các doanh
nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phan Xuân Quang –
2008, luận văn đã hệ thống được những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát
nội bộ nói chung và kiểm soát thuế GTGT nói riêng tại các doanh nghiệp trên
địa bàn TP Đà Nẵng; luận văn cũng phản ánh và đánh giá thực trạng công tác
kiểm soát thuế GTGT tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng. Tuy
nhiên trong phần này tác giả chủ yếu nêu được những tồn tại và những vấn đề
còn bất cập, chức năng giải quyết các thủ tục còn trùng lắp tại các Phòng trực
thuộc Cục Thuế (mô hình quản lý cấp Cục thuế) nên không nêu lên được
những tồn tại bất cập hiện tại so với các quy trình, quy định áp dụng tại các
Chi cục Thuế quận, huyện trực thuộc Cục Thuế. Vì thực tế hiện nay đối với
cấp Chi cục thì mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy khác nhau so với cấp Cục.
Các giải pháp mà tác giả đưa ra mặc dù đã có ý tưởng hoàn thiện cơ
cấu tổ chức tại các phòng trực thuộc Cục thuế, cũng như các giải pháp về tăng
cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với các doanh nhiệp từ
khâu lập kế hoạch, xây dựng các tiêu chí đến công tác thanh tra, kiểm tra tại
khai thuế mà không kiểm tra xem xét các yếu tố có liên quan thì sẽ không
mang lại hiệu quả cao.
Sau khi nghiên cứu các luận văn nêu trên và đưa ra những nhận xét ban
đầu như đã trên, tác giả dựa trên những ưu điểm và khắc phục những nhược
điểm của các luận văn trước, ngoài ra trong quá trình thực hiện, tác giả cũng
đã nghiên cứu và tham khảo thêm các thông tin từ các trang web tổng cục
thuế và các tạp chí thuế Nhà nước để làm rõ vấn đề về tăng cường kiểm soát
5
thuế GTGT với hy vọng góp phần tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Chi
cục Thuế quận Hải Châu.
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan tài liệu, danh mục các từ viết
tắt, danh mục các bảng, biểu, hình vẽ và tài liệu tham khảo, kế hoạch tiến độ
thực hiện, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề Lý luận cơ bản về kiểm soát thuế GTGT.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế
quận Hải Châu.
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác kiểm soát thuế GTGT tại
Chi cục Thuế quận Hải Châu.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
KIỂM SOÁT THUẾ GTGT
lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và các
thủ tục quản lý.
Quá trình kiểm soát:
- Triển khai các mục tiêu: xác định mục tiêu cần đạt được;
- Đo lường các kết quả thực hiện theo những mục tiêu đã được xây
dựng để có cơ sở đúng đắn so sánh và phân tích những gì đã thực hiện và có
hành động quản lý phù hợp;
- So sánh thành tích cụ thể với các mục tiêu;
- Phân tích nguyên nhân chênh lệch để tính toán mức độ ảnh hưởng của
mỗi nhân tố. Cần phải xác định nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân
cơ bản, xác định ảnh hưởng cụ thể của những nhân tố cá biệt quan trọng. Đây
là bước chủ yếu đã sử dụng những kết quả miêu tả trong 3 bước trước;
- Xác định hành động quản lý thích hợp;
- Triển khai và đảm bảo hành động được thực hiện như mong muốn;
- Tiếp tục đánh giá lại: là bước cuối cùng của quá trình kiểm soát, đây
chính là kiểm tra tiếp sự đúng đắn của việc xác định hành động cần thiết trước
đây và cách thức tiến hành những hành động đó. Bước này làm rõ sự liên kết
giữa chu kỳ kiểm soát trước với chu kỳ kiểm soát sau, xác định hành động
quản lý tiếp đó. Việc đánh giá sau là một hành động tiếp tục phản ánh những
điều kiện thay đổi, để có thêm kinh nghiệm và biết rõ hơn tất cả các nhân tố.
Mối quan hệ giữa kiểm soát và quá trình quản lý tổng thể:
Như đã đề cập ở trên, chức năng kiểm soát chủ yếu là xem xét tính hiệu
quả của các hành động thực hiện mà nhờ đó các chiến lược được chuyển
thành hành động để đạt các mục tiêu và kết quả đã đặt ra. Hệ thống tiêu chuẩn
pháp lý và kỹ thuật của hoạt động kiểm soát, đó là những chuẩn mực mà
8
người ta dùng để đối chiếu, xem xét kết quả hay quá trình tác nghiệp. Để đánh
soát kế toán
- Kiểm soát hành chính: là tập trung vào các thể thức kiểm tra, nhằm
đảm bảo cho việc điều hành công tác ở đơn vị có nề nếp, nghiêm minh và
hiệu quả. Các thao tác kiểm soát hành chính được thực hiện trên các lĩnh vực
tổ chức và hành chính ở mọi cấp độ như: tuyển chọn nhân viên, xây dựng tác
phong, quy trình làm việc, tổ chức thực hiện các công việc cùng với các thao
tác kiểm soát quá trình chấp hành và mệnh lệnh ở đơn vị.
- Kiểm soát kế toán: kiểm soát thực hiện mục tiêu bảo vệ tài sản và
đảm bảo độ tin cậy của sổ sách tài chính kế toán, kiểm soát phải đảm bảo:
+ Các nghiệp vụ được tiến hành theo sự chỉ đạo chung hoặc cụ thể của
quản lý.
+ Các nghiệp vụ ghi sổ là cần thiết để chuẩn bị các báo cáo tài chính
đúng theo quy định và duy trì khả năng hạch toán của tài sản.
+ Các hoạt động đều được ghi nhận vào các thời điểm thích hợp, giúp
cho việc thiết lập thông tin kinh tế tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế
toán, thể hiện chinh xác, toàn diện nguồn lực hiện có của đơn vị và phái có sự
điều chỉnh khi có những chênh lệch.
+ Cung cấp căn cứ đề ra quyết định xử lý sai lệch, rủi ro có thể gặp
phải.
Như vậy kiểm soát kế toán chỉ quan tâm đến hoạt động tài chính của
đơn vị được phản ánh trên các tài liệu kế toán. Trong khi đó kiểm soát quản lý
yêu cầu một phạm vi rộng hơn của các đối tượng kiểm soát theo mục tiêu
quản lý của toàn bộ tổ chức. Tuy nhiên kiểm soát kế toán lại có vai trò là cơ
sở cho kiểm soát quản lý. Các chứng từ kế toán không chỉ là thông tin mà còn
là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế. Từ đó kiểm
soát kế toán có thể hình thành phương pháp tự kiểm soát: đối ứng tài khoản
10
thời gian trong kiểm soát thực hiện, nó tiên liệu những diễn biến có thể xảy ra
trong quá trình tác nghiệp, đề phòng những rủi ro và các khó khăn tiềm ẩn.
Hoạt động kiểm soát này đặc biệt quan trọng, tuy nhiện nó chưa phổ biến về
mặt kỹ thuật và còn rất hạn chế do nhu cầu về con người thực hiện kiểm soát
phải là những người thực sự có trình độ và có nhiều kinh nghiệm thực tế để có
thể tiên liệu trước những rủi ro có thể xảy ra, mặt khác chi phí cho hoạt động
này khá lớn.
- Kiểm soát hiện hành hay còn gọi là kiểm soát tác nghiệp là hoạt động
kiểm soát được tiến hành ngay trong quá trình tác nghiệp nhằm ngăn ngừa,
phát hiện kịp thời những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình thực hiện các
thao tác tác nghiệp. Do vậy nếu làm tốt công tác kiểm soát tác nghiệp thì mức
độ rủi ro trong quá trình tác nghiệp sẽ giảm đi, đảm bảo được hiệu quả công
việc ở mức tốt nhất.
- Kiểm soát sau khi tác nghiệp hay còn gọi là kiểm soát thông tin phản
hồi ( còn gọi là kiểm soát thông tin trở về trước) là hoạt động kiểm soát thông
dụng nhất hiện nay. Mặc dù bị độ trễ thời gian song bù lại kiểm soát sau khi
tác nghiệp lại có đầy đủ căn cứ để đánh giá, đo lường kết quả tác nghiệp.
1.2. Kiểm soát thuế giá trị gia tăng (GTGT)
1.2.1. Nội dung cơ bản về thuế GTGT
1.2.1.1. Khái niệm về thuế và thuế GTGT
* Khái niệm về thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể
nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật
quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
* Khái niệm về thuế GTGT:
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
12
13
theo công thức sau:
Giá chưa có thuế
giá trị gia tăng
Giá thanh toán
=
1 + thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)
- Thuế suất: hiện nay thuế suất thuế GTGT gồm 0%, 5%, 10%. Việc
qui định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập
và định hướng tiêu dùng đối với hàng hoá dịch vụ.
- Phương pháp tính thuế GTGT:
+ Phương pháp khấu trừ.
+ Phương pháp trực tiếp.
Do thực tế hiện nay trên địa bàn quận Hải Châu đối với doanh nghiệp
sử dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và đối với hộ kinh doanh
nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp ấn định doanh thu (khoán thuế)
thường được ổn định hàng năm và số thu từ thuế GTGT đối với hộ chiếm tỷ
lệ thấp (20%), nên trong luận văn này tác giả chỉ đề cập đến phương pháp thứ
nhất: phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với các DN.
Thuế GTGT phải nộp là khoản chênh lệch giữa số thuế GTGT đầu ra
với số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Công thức tính thuế như sau:
Số Thuế GTGT
phải nộp
Trong đó:
=
tiền hay chưa thu được tiền.
1.2.2. Mục tiêu của việc kiểm soát thuế GTGT
- Thứ nhất, Kiểm soát thuế GTGT là một trong những chức năng quản
lý của Nhà nước trên lĩnh vực thuế, nhằm đảm bảo công tác quản lý nguồn
thu ngân sách được thực hiện một cách tốt nhất với mục tiêu thu đúng, thu đủ,
thu kịp thời các khoản tiền thuế GTGT vào NSNN. Đây là mục tiêu chủ yếu,
vì với mục tiêu này việc kiểm soát thuế GTGT mới thể hiện đầy đủ vai trò của
nó trong việc quản lý chặt chẽ nguồn thu NSNN.
- Thứ hai, đề cao ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về thuế và tạo
điều kiện cho người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế. Mục tiêu này có
tính chất thường xuyên, lâu dài và tác động tới ý thức tự giác của NNT. Để
thực hiện tốt mục tiêu này thì việc kiểm soát thuế GTGT phải tuân thủ một
cách nghiêm chỉnh các quy trình quản lý thuế và các quy định của quá trình
kiểm tra, kiểm soát. Thông qua hoạt động kiểm soát, Nhà nước còn đảm bảo
15
cho Luật thuế GTGT được thực hiện một cách nghiêm túc và đi vào đời sống
kinh tế của Việt Nam.
- Thứ ba, nhằm điều chỉnh những bất hợp lý, những kẽ hở của chính
sách pháp luật trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT, hạn chế các tình
trạng tránh thuế, trốn thuế của NNT; phát hiện và xử lý kịp thời đối với các
hành vi gian lận về thuế. Góp phần tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, đảm
bảo sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh giữa các thành phần
kinh tế.
- Thứ tư, cải tiến các thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ
ràng, chuẩn hoá dần công tác quản lý thuế để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt
động của bộ máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán
bộ công chức thuế.
Do đó, để đánh giá thực trạng của hoạt động kiểm soát nguồn thu thuế
GTGT thì phải dựa trên việc xem xét, đánh giá các yếu tố của KSNB như:
môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát tại CQT. Khi tiến
hành kiểm tra việc chấp hành luật thuế tại đơn vị, phải dựa vào qui trình kiểm
toán đối với một cuộc kiểm toán như: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm
toán, hoàn thành kiểm toán, và phải sử dụng các phương pháp của kiểm toán.
Vì vậy, kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Hải Châu là một
nhu cầu tất yếu của quản lý Nhà nước về thuế. Việc kiểm soát thuế GTGT phải
tuân thủ chặt chẽ qui trình kiểm tra, kiểm soát nói chung và qui trình QLT nói
riêng, từ kiểm soát việc kê khai cho đến việc nộp tiền thuế vào NSNN.
1.2.4. Nội dung của kiểm soát thuế GTGT
Đó là quá trình rà soát lại các bước công việc trong quá trình quản lý
thuế GTGT được thực hiện tuân thủ theo Luật thuế GTGT và Luật Quản lý
thuế ? Qua đó thực hiện kiểm soát nội bộ của ngành thuế.
Như vậy, nội dung kiểm soát thuế GTGT bao gồm hai vấn đề sau:
17
Thứ nhất, căn cứ vào hoạt động kiểm soát thuế GTGT tại đơn vị, thực
hiện việc đánh giá hoạt động đó thông qua việc đánh giá các yếu tố của kiểm
soát nội bộ.
Thứ hai, căn cứ hoạt động kiểm soát đối với việc chấp hành pháp luật
thuế của NNT, tác giả đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT
thông qua việc đánh giá các quy trình nghiệp vụ về thuế và đánh giá hoạt
động thanh tra, kiểm tra thuế GTGT đối với NNT thực hiện kê khai thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ.
1.2.4.1. Hệ thống kiểm soát nội bộ ngành thuế
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành thuế là cơ cấu tổ chức với sự
phân công, phân cấp, phân quyền một cách hợp lý và chặt chẽ trong điều hành
chức bộ máy hợp lý, về việc phải phân công, uỷ nhiệm, giao việc rõ ràng, về
việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế…Môi trường kiểm soát
tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống KSNB.
Môi trường kiểm soát phụ thuộc váo các nhân tố chủ yếu như: đặc thù
quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, kiểm toán nội
bộ, uỷ ban kiểm soát, các nhân tố bên ngoài.
+ Hệ thống thông tin kế toán
Mục đích của hệ thống thông tin kế toán thuế là nhận biết, thu thập,
phân loại, phân tích xử lý thông tin về NNT. Đối với cơ quan thuế, hệ thống
thông tin kế toán là hệ thống phản ánh số liệu về tình hình kê khai, thu nộp
ngân sách của NNT. Thực hiện nghiêm túc công tác kế toán đó chính là một
trong những điều kiện phát huy được tác dụng tự kiểm soát của công tác kế
toán thuế.
+ Các thủ tục kiểm soát: là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho
các chỉ thị của ban lãnh đạo Chi cục Thuế được thực hiện. Các chính sách và
thủ tục này giúp thực thi những hành động với mục đích chính là giúp kiểm
soát các rủi ro mà đơn vị đang hay có thể gặp phải. Hoạt động kiểm soát xây
19
dựng trên cơ sở 3 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc phân cấp, phân quyền: Phân quyền tức là giao quyền hạn
cho cấp dưới gắn liền với trách nhiệm, quyền càng lớn thì trách nhiệm càng
lớn. Việc phân quyền đã được quy định cụ thể trong các quy trình nghiệp vụ
về thuế. Việc phân quyền càng được thể hiện rõ ràng, cụ thể sẽ dễ dàng nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thu, và từ đó tạo sự chuyên môn
hoá, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc.
Nguyên tắc uỷ quyền: Chi cục trưởng Chi cục thuế có quyền uỷ quyền
cho các phó Chi cục trưởng giải quyết các công việc theo từng lĩnh vực quản
(4)
(5)
(8)
Kho bạc Nhà nước,
Ngân hàng
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ công việc của quy trình nghiệp vụ về thuế GTGT
đối với doanh nghiệp
(1) Người nộp thuế kê khai đăng ký thuế.
(2) Cơ quan thuế kiểm tra hồ sơ đăng ký thuế, cấp mã số thuế.
(3) Người nộp thuế khai thuế, cơ quan thuế kiểm tra hồ sơ khai thuế và
thông báo giải trình, điều chỉnh bổ sung.
(4) Người nộp thuế nộp tiền thuế theo kê khai hoặc quyết định của cơ
quan thuế.
(5) Kho bạc, Ngân hàng chuyển chứng từ về cơ quan thuế để kiểm tra
đối chiếu.
(6) Người nộp thuế nộp hồ sơ hoàn thuế.
(7) Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra làm thủ tục hoàn thuế cho người
nộp thuế.
(8) Cơ quan thuế lập lệnh hoàn trả gửi đến Kho bạc, ngân hàng
(9) Kho bạc, ngân hàng thực hiện chuyển tiền vào tài khoản của NNT .