BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC TIỀN MẶT CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Nẵng- 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC TIỀN MẶT CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG TÙNG LÂM
1.2. CÁC CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ............................................................ 10
1.2.1. Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ...................................... 10
1.2.2. Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định........................................... 10
1.2.3. Các chính sách cổ tức khác ....................................................... 11
1.3 HÌNH THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC ........................................................ 11
1.3.1. Hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt ...................................... 11
1.3.2. Hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu ..................................... 11
1.3.3. Hình thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác:............................... 12
1.4. ĐO LƯỜNG CHÍNH SÁCH CỔ TỨC: .............................................. 12
1.4.1. Tỷ lệ chi trả cổ tức( Dividend payout ratio) ............................. 12
1.4.2. Tỷ suất cổ tức ( Dividend yield) ............................................... 12
1.5. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU
ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC ................................................................... 13
1.5.1. Các lý thuyết cơ bản về chính sách cổ tức ................................ 13
1.5.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
đến chính sách cổ tức .................................................................................. 16
1.5.3. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của
cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức ............................................. 22
1.6. PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................................... 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ......................................................................26
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................27
2.1. MẪU NGHIÊN CỨU, CÁCH THU NHẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU ... 27
2.2. MÔ TẢ BIẾN ....................................................................................... 27
2.2.1. Biến phụ thuộc .......................................................................... 27
2.2.2. Biến cấu trúc sở hữu ................................................................. 27
2.2.3. Biến kiểm soát........................................................................... 28
2.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................. 29
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
3.1.
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.
3.6.
Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
hồi quy
Sở hữu chung và chính sách chi trả cổ tức tiền mặt
Sở hữu cổ đông lớn, sở hữu cổ đông nhỏ và chính sách
chi trả cổ tức tiền mặt
Sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu của nhà đầu
tư trong nước và chính sách chi trả cổ tức tiền mặt
Sở hữu chung và chính sách chi trả cổ tức tiền mặt (mô
hình ảnh hưởng cố định (FEM))
Trang
33
35
quan trọng trong việc xác định giá trị của công ty và nó đã trở thành chủ đề
tranh cãi đối với nhiều nhà nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, với giả định là một
thị trường hoàn hảo, thì chính sách cổ tức không tác động gì lên giá trị của
doanh nghiệp, đây là kết quả nghiên cứu của Modigliani và Miller, được công
bố lần đầu vào năm 1961. Nhưng thực tế, thị trường không hoàn hảo như lý
thuyết đã giả định, vì tồn tại chi phí giao dịch, thuế…cho nên câu trả lời sẽ là:
trong thực tế, chính sách cổ tức có tác động không nhỏ đến giá trị của công ty
và vì vậy sẽ có những tác động nhất định lên lợi ích của các cổ đông. Câu hỏi
tại sao các công ty chi trả cổ tức luôn là trọng tâm của nhiều nghiên cứu trong
một thời gian dài? Chính sách cổ tức là một phương tiện kiểm soát để giảm
các xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý và các cổ đông vì các cổ đông quan
tâm đến cổ tức trong khi các nhà quản lý muốn giữ lại thu nhập. Quản trị công
ty lúc này nhận được sự quan tâm rất lớn vì nó giải quyết các vấn đề về chi
phí đại diện. Jensen (1981) và Rozeff (1982) lập luận rằng các doanh nghiệp
có thể sử dụng chính sách chi trả cổ tức để tránh vấn đề chi phí đại diện. Theo
tác giả, nếu cổ tức không được chi trả cho các cổ đông, các nhà quản lý sẽ bắt
đầu sử dụng các nguồn lực cho lợi ích cá nhân của họ. Stouraitis và Wu (
2004) cho rằng cổ tức có thể sử dụng để siết chặt các vấn đề đầu tư quá mức
của các tập đoàn. Chính sách cổ tức không những giúp giảm chi phí đại diện
mà còn được xem như là một tín hiệu cung cấp thông tin cho các cổ đông
định giá công ty. Cổ tức chi trả có thể bị ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu của
doanh nghiệp. Trọng tâm nghiên cứu của tác giả là điều tra tác động ảnh
2
hưởng của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức. Carvalhal-da-Silva và Leal
(2004) lập luận rằng cấu trúc sở hữu rất quan trọng và là yếu tố ảnh hưởng
trong việc xác định hiệu quả của thị trường qua hai thông tin sau: thứ nhất cấu
trúc sở hữu sẽ hiển thị mức độ rủi ro của các cổ đông, thứ hai cung cấp thông
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” trong giai đoạn từ 20072014 để xem xét liệu có tồn tại mối quan hệ nào giữa cấu trúc sở hữu và chính
sách cổ tức tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam như những bằng chứng
đã tìm thấy trong những nghiên cứu trước đó hay không?
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu:
- Hệ thống hóa các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh
hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh
nghiệp.
- Đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu lên chính sách chi trả cổ tức
tiền mặt của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai
đoạn từ 2007- 2014.
- Rút ra các hàm ý đối với nhà đầu tư và nhà quản trị doanh nghiệp về
chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của các doanh nghiệp.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Có những lý thuyết, nghiên cứu nào về chính sách cổ tức và ảnh
hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức?
- Cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng như thế nào đến chính sách chi trả cổ
tức tiền mặt của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
- Các hàm ý nào được rút ra cho nhà đầu tư và nhà quản trị doanh
nghiệp về chính sách chi trả cổ tức?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Chính sách chi trả cổ tức tiền mặt và ảnh
hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức tiền măt. Cụ thể là
4
nghiên cứu ảnh hưởng sở hữu cổ đông lớn, sở hữu cổ đông nhỏ, sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài và sở hữu của nhà đầu tư trong nước đến chính sách
chi trả cổ tức tiền mặt.
Chí Minh”. Luận văn chỉ ra được mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng sở
hữu của tổ chức và tỷ lệ chi trả cổ tức. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện
mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng vốn sở hữu của quản lý với tỷ lệ chi
trả cổ tức, mối tương quan ngược chiều giữa vốn sở hữu của cổ đông nước
ngoài và vốn sở hữu của nhà nước với tỷ lệ chi trả cổ tức. Tuy nhiên, mẫu
nghiên cứu được lấy từ giai đoạn 2008- 2012 trên sàn giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh, mẫu nghiên cứu khá ít nên có thể phản ánh thiếu
chính xác cho toàn bộ thị trường chứng khoán.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Bảy, bảo vệ năm 2013 tại Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh với đề tài: “ Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
lên chính sách cổ tức của doanh nghiệp- bằng chứng tại Việt Nam”. Luận văn
đi sâu nghiên cứu kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu, mà cụ thể là tỷ lệ
sở hữu nhà quản trị, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài tới chính sách cổ tức
tiền mặt của một doanh nghiệp trong mối quan hệ với vấn đề chi phí đại diện.
Kết quả từ phân tích thực nghiệm cho thấy có một mối quan hệ ngược chiều
giữa chính sách chi trả cổ tức và tỷ trọng nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư
nước ngoài, nguyên nhân là do sự có mặt của các cổ đông nước ngoài đưa ra
tác động phát tín hiệu và làm giảm chi phí đại diện, do đó vai trò truyền tải
thông tin và giám sát người đại diện của cổ tức tiền mặt được giảm xuống.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện mối tương quan cùng chiều giữa tỷ lệ
nắm giữ cổ phần của nhà nước và tỷ lệ chi trả cổ tức, nói cách khác nếu tỷ lệ
nắm giữ của các cổ đông này càng lớn thì cổ tức chi trả càng cao. Tuy nhiên,
mẫu nghiên cứu khá nhỏ, chỉ bao gồm 112 công ty niêm yết trên sàn giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và lấy mẫu thu thập trên các trang web
chưa thật sự đáng tin cậy.
6
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Li Li, bảo vệ năm 2013 tại Đại
Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức được nghiên cứu
nhiều ở các nước phát triển, tuy nhiên rất hiếm ở thị trường Việt Nam. Các
nghiên cứu đó tập trung nghiên cứu về sở hữu quản lý, sở hữu các định chế,
sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước và sở hữu tổ chức đến chính sách chi trả
cổ tức. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang có những biện pháp
nhằm tăng cường sự đầu tư nước ngoài thì việc nghiên cứu cấu trúc sở hữu
theo các khía cạnh đối lập như sở hữu trong nước và sở hữu nước ngoài, sở
hữu cổ đông lớn và sở hữu cổ đông nhỏ là cần thiết nhằm giúp cho các doanh
nghiệp và các nhà đầu tư có những chiến lược nhất định cho sự phát triển bền
vững của mình. Hơn nữa, các nhà đầu tư ở thị trường Việt Nam lại ưa thích
chi trả cổ tức bằng tiền mặt hơn là các hình thức chi trả khác. Vì vậy đề tài sẽ
tập trung nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến chính sách
chi trả cổ tức tiền mặt tại thị trường Việt Nam.
7. Bố cục luận văn
Bài luận văn được thiết kế bao gồm 5 phần, nội dung được trình bày
theo thứ tự như sau:
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách cổ tức và ảnh hưởng của cấu
trúc sở hữu đến chính sách cổ tức.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và các hàm ý
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN
trong một công ty. Đây là cơ chế quan trọng để huy động một lượng vốn lớn
cho mô hình tổ chức kinh doanh hiện đại và tạo sự giàu có thông qua việc
phát hành cổ phiếu.
Cấu trúc sở hữu có thể được phân loại theo một vài tiêu chí khác nhau,
gồm:
Nếu chia theo mức độ tập trung nắm giữ thì cấu trúc sở hữu có 2 loại là
sở hữu cổ đông lớn và sở hữu cổ đông nhỏ. Những cổ đông lớn kiểm soát
doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều
hành. Cổ đông lớn có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng có quyền biểu
quyết đáng kể nên vẫn có thể kiểm soát được doanh nghiệp. Các cổ đông nhỏ
ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều
hành công ty.
Nếu chia theo xuất xứ của nhà đầu tư thì có sở hữu cổ đông trong nước
và sở hữu cổ đông nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là những tổ chức, cá
nhân người nước ngoài thực hiện đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Ngược lại,
nhà đầu tư trong nước là những tổ chức, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam
góp vốn vào cổ phần công ty mà không bị hạn chế về mặt pháp lý.
Nếu chia theo thành phần sở hữu thì có sở hữu nhà nước và sở hữu tư
nhân. Sở hữu nhà nước sẽ chịu sự chỉ đạo của nhà nước, ngoài chức năng
kinh doanh còn phải chịu trách nhiệm hỗ trợ nhà nước điều tiết thị trường.
Trái ngược với sở hữu nhà nước chính là sở hữu tư nhân. Các nhà đầu tư tư
nhân sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm về việc lời, lỗ hoặc phá sản của doanh
nghiệp trong quá trình đầu tư.
Nếu chia theo hình thức sở hữu thì có sở hữu tổ chức và sở hữu cá nhân.
10
Nhà đầu tư tổ chức là các nhà đầu tư định chế như công ty bảo hiểm, ngân
hàng, quỹ đầu tư…đứng ra đầu tư kinh doanh với tiềm lực tài chính mạnh và
Ngoài 2 chính sách trên các doanh nghiệp còn có thể sử dụng một số
chính sách cổ tức khác như:
-Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi. Nếu lợi nhuận của doanh
nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì mức chi trả cổ tức cũng
có thể giao động theo.
-Chính sách chi trả cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm
vào cuối năm. Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có
lợi nhuận hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc
cả hai.
Để có thể đưa ra một quyết định cho một chính sách cổ tức cụ thể, các
ban quản lý thường cân nhắc để lựa chọn cho doanh nghiệp mình một chính
sách cổ tức cụ thể, sau đó mới xét đến hình thức chi trả cổ tức như thế nào.
Đây là một phần quan trọng trong một chính sách cổ tức của một doanh
nghiệp và cuối cùng là chia tỷ lệ cổ tức một cách thích hợp.
1.3 HÌNH THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC
1.3.1. Hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Cổ tức tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty lấy ra từ lợi nhuận sau thuế
có được chia cho cổ đông dưới dạng tiền mặt. Cổ tức tiền mặt được trả tính
trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh giá.
1.3.2. Hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy
động vốn của công ty. Tuy cổ đông không nhận được cổ tức bằng tiền mặt
nhưng lại nhận được cổ phiếu, do đó nhà đầu tư sẽ thu được lãi vốn trong
tương lai.
Về bản chất, cổ đông sẽ nhận được nhiều cổ phiếu hơn nhưng giá trị thị
trường của cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm để đảm bảo nguyên tắc công bằng
12
Một tỷ suất cổ tức cao (hay thấp) chưa chắc đã phản ánh được công ty
đó chi trả cổ tức cao ( hay thấp), vì tỷ suất cổ tức còn phụ thuộc vào giá cổ
phiếu trên thị trường. Do vậy, chỉ tiêu này chỉ dùng để so sánh chính sách cổ
tức của những công ty khác nhau nhưng có đặc điểm giống nhau về quy mô,
ngành nghề kinh doanh và có mức giá cổ phiếu tương đương nhau.
1.5. CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU
ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
1.5.1. Các lý thuyết cơ bản về chính sách cổ tức
a. Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling)
Theo lập luận này, một công bố cổ tức sẽ chứa thông tin đánh giá ban
quản lý về khả năng sinh lợi, thu nhập và tỷ lệ tăng tương lai của công ty. Cổ
tức tăng hàm ý nhà quản trị lạc quan về khả năng sinh lợi trong tương lai và
ngược lại. Đến lượt các nhà đầu tư có thể sử dụng thông tin hàm chứa trong
các thông báo cổ tức để đánh giá cổ phiếu của các công ty. H.Kent Baker và
Gary E.Powell ( 1999) khảo sát quan điểm của các nhà quản lý ở 198 công ty
cổ phần ở Mỹ, nhìn chung những người trả lời đồng tình rất cao tín hiệu của
chính sách cổ tức. Lazo ( 1999) nghiên cứu 110 giám đốc từ các công ty S&P
500 và thấy rằng 90% các công ty sử dụng cổ tức như là công cụ phát tín hiệu
về viễn cảnh thu nhập tương lai. Họ rất băn khoăn khi cắt giảm cổ tức bất kể
nguyên nhân cắt giảm là gì.
Tất cả các thông báo của công ty về việc chi trả cổ tức nhiều hơn được
xem như là một tín hiệu cho thấy công ty đang sở hữu nhiều dự án triển vọng
trong tương lai, nói cách khác là công ty đang rất ăn nên làm ra. Sự hợp lý
đằng sau các mô hình tác động tín hiệu của cổ tức chính là lý thuyết trò chơi.
Một nhà quản lý có các cơ hội đầu tư tốt dương như có vẻ muốn phát tín hiệu
cho nhiều nhà đầu tư khác cũng thấy điều đó, và như vậy anh ta mới có thể
15
lợi ích cho cá nhân mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư.
Những tổn thất gây ra trong trường hợp này được gọi là tổn thất do phân
quyền hay còn gọi là chi phí đại diện.
Mặc dù ý thức được vấn đề này nhưng không dễ để các nhà đầu tư có
thể kiểm soát được, bởi trên thực tế tồn tại tình trạng thông tin không cân
xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản lý. Nhà quản lý có những thông tin mà nhà
đầu tư không thể có hoặc không muốn có do chi phí để thu thập các thông tin
đó là quá cao.
Tóm lại, chi phí đại diện được hiểu là chi phí phát sinh khi xảy ra sự
thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu trong một
công ty. Người đại diện là người làm việc thay mặt cho người sở hữu công ty.
Do cổ đông của công ty không hoặc rất ít có điều kiện giám sát thường xuyên
từng hành động của người quản trị, dẫn đến việc phát sinh tình trạng thông tin
bất cân xứng, dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
c. Giả thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng ( Clientele effect)
Trong chuyên đề nghiên cứu của M&M ( 1961) lưu ý rằng giả thuyết
hiệu ứng của khách hàng lên cổ tức có thể đóng một vai trò quan trọng trong
chính sách cổ tức ở điều kiện nhất định. Họ chỉ ra rằng sự lựa chọn danh mục
đầu tư của nhà đầu tư cá nhân có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nhất định
trong thị trường không hoàn hảo. M&M cho rằng những khiếm khuyết này có
thể theo những xu hướng riêng khi lựa chọn cổ phiếu để giảm thiểu những chi
phí phát sinh trong thị trường hoàn hảo. M&M định nghĩa xu hướng của nhà
đầu tư bị thu hút vào một loại cổ phiếu có trả cổ tức là “ hiệu ứng của khách
hàng lên cổ tức”. Tuy nhiên, họ nhấn mạnh rằng dù hiệu ứng khách hàng có
thể thay đổi chính sách cổ tức của một công ty nhằm thu hút lượng khách
hàng nhất định, nhưng trong một môi trường hoàn hảo khách hàng “ ai cũng
tốt như ai”, do đó giá trị công ty không ảnh hưởng, có nghĩa là, chính sách cổ
nghĩa thống kê giữa quyền sở hữu công chúng và cổ tức cổ phiếu. Đặc biệt,
17
mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức là phi tuyến tính.
Mancinelli, Luciana Ozkan, Aydin (2006)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức của
các công ty ở Ý. Cấu trúc sở hữu ở Ý là cấu trúc sở hữu tập trung và chi phí
đại diện là một vấn đề phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông lớn và cổ
đông thiểu số. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các công ty chi trả
cổ tức thấp hơn khi quyền biểu quyết của cổ đông lớn tăng và sự hiện diện
của hợp đồng giữa các cổ đông lớn có thể giải thích khả năng giám sát hạn
chế của các cổ đông không có quyền kiểm soát khác.
Cook và Jeon (2006)
Tác giả khảo sát mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức
trong thị trường mới nổi, mẫu nghiên cứu là các công ty Hàn Quốc. Nghiên cứu
cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt chú ý đến các công ty có chi trả cổ
tức. Nghiên cứu kết luận rằng các nhà đầu tư nước ngoài là những người năng
động qua việc làm giảm vấn đề đại diện và tăng mức độ chi trả cổ tức.
Kouki và Guizani (2009)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức của
29 công ty gồm 29 công ty gồm 18 tổ chức tài chính và 11 công ty ngành
công nghiệp từ năm 1995- 2001. Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy quyền
sở hữu của năm cổ đông lớn nhất càng cao dẫn đến việc chi trả cổ tức càng
lớn. Bên cạnh đó, có mối quan hệ nghịch biến giữa quyền sở hữu tổ chức với
tỷ lệ chi trả cổ tức. Bởi lẽ trong hầu hết các trường hợp, các nhà đầu tư tổ
chức là các ngân hàng và họ là một trong hai, cổ đông hoặc chủ nợ. Họ thích
trả lãi hơn phân phối cổ tức cho các cổ đông. Nghiên cứu cũng cho thấy, dòng
tiền tự do và mức chi trả cổ tức có mối quan hệ đồng biến với nhau. Điều này
Amman ( ASE) trong giai đoạn từ năm 2005- 2007. Tổng số công ty niêm yết
trên sàn ASE năm 2007 là 77 công ty. Sau khi loại những công ty thiếu thông
tin, tổng số quan sát còn lại gồm 168 quan sát. Tác giả sử dụng tỷ lệ lợi nhuận