VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG HỮU PHÚC
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG CUNG CẤP NƢỚC SẠCH TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
HÀ NỘI, năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ
TRỢ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CUNG CẤP NƢỚC SẠCH Ở
VIỆT NAM........................................................................................................ 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản: ............................................................................ 9
1.2. Chủ thể, vai trò và ý nghĩa của chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ
thống cung cấp nước sạch ở Việt Nam hiện nay: ............................................ 12
1.3. Quan điểm, mục tiêu và công cụ chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ
thống cung cấp nước sạch ở Việt Nam hiện nay: ............................................ 14
Nước sạch là loại sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất,
dịch vụ của mọi tầng lớp dân cư. Trong thời gian qua, vấn đề nước sạch luôn
là nội dung được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Chính phủ cũng đã ban
hành nhiều chính sách, pháp luật có liên quan nhằm mục tiêu đảm bảo phục
vụ nhu cầu nước sạch cho toàn thể người dân tại khu vực đô thị, nông thôn và
miền núi trên địa bàn cả nước.
Tuy nhiên, hoạt động cấp nước có những điều kiện đặc thù, bởi nước
sạch là hàng hoá được cung ứng công cộng, cần được đầu tư vốn lớn nhưng
khả năng thu hồi vốn thấp trong một thời gian dài, do đó việc xã hội hoá hoạt
động cấp nước gặp nhiều khó khăn nếu không có cơ chế chính sách hỗ trợ từ
phía nhà nước. Trong quá trình thực hiện Nghị định số 117/2007/NĐ-CP và
Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có thể nhận thấy
một số điểm cần phải xem xét, điều chỉnh lại như: quy hoạch cấp nước đô thị
phải đảm bảo từ 5 năm, 10 năm và dài hạn hơn là 20 năm, đồng thời phải phù
hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng, quy
hoạch phát triển ngành; cơ chế khuyến khích chưa đảm bảo thu hút được nhà
đầu tư.... Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân, cải thiện tình hình cấp nước các đô thị hiện nay, xây dựng nền
tảng cho phát triển lâu dài và bền vững của ngành cấp nước, đáp ứng nhu cầu
phát triển nền kinh tế quốc dân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và phát triển đô thị của đất nước, ngày 12 tháng 9 năm 2008, Chính phủ
đã có Quyết định số 1251/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch cấp nước 3
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và phía Nam đến năm 2020.
Trong đó, giao trách nhiệm cho các địa phương sớm lập chương trình và quy
1
hoạch cấp nước trong thời gian tới cho các đô thị tại địa phương mình, phù
hợp với định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020. Đối với tỉnh
ích phục vụ xã hội, đảm bảo yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Là người đang tham gia quá trình quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư
xây dựng, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Chính sách hỗ trợ đầu tư phát
triển hệ thống cung cấp nước sạch từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" làm luận văn
thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công với mong muốn thâu nhận thêm những
tri thức để hoàn thiện, củng cố các khả năng quản lý, điều hành trong công tác
của mình, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
trong lĩnh vực này tại địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những nghiên cứu về nước sạch và cung cấp nước sạch phục vụ cho sự
tồn tại sống còn của con người và xã hội đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đặc
biệt trong những thập niên vừa qua. Mặc dù vậy, những nghiên cứu chuyên
biệt từ phương diện chính sách về vấn đề này, nhất là ở Việt Nam còn rất ít ỏi.
Trong phạm vi tài liệu thu thập được liên quan đến đề tài luận văn, có thể
điểm qua một số công trình, đề tài chủ yếu như sau:
- Đinh Tiến Dũng (2001), Thực trạng và tình hình giá tiêu thụ nước sạch
hiện nay, Tham luận hội nghị cấp nước toàn quốc lần thứ IV.
- Nguyễn Văn Tình (2001), Tiếp tục hoàn thiện về quản lý và tổ chức
nâng cao hiệu quả cấp nước đô thị, Tham luận hội thảo.
- Hội Cấp thoát nước Việt Nam (2002), Đổi mới cơ chế chính sách quản
lý sản phẩm công ích cấp nước, thoát nước và vệ sinh đô thị Việt Nam, Hội
thảo quốc tế.
- Hồ Xuân Hùng (2002), Đổi mới cơ chế quản lý giá bán nước sạch để
công ty cấp nước chuyển sang kinh doanh, Tham luận hội thảo.
- Arjun Thapan - Ngân hàng phát triển Châu Á (2002), Đổi mới cơ chế,
3
- Tạp chí Khoa học Thủy lợi và Môi trường (2010), “Nghiên cứu mô
hình quản lý cấp nước sạch nông thôn” – PGS.TS. Ngô Thị Thanh Vân,
trường Đại học Thủy lợi và KS. Hoàng Thị Thắm, trường Cao đẳng nghề Cơ
điện và Thủy lợi Hưng Yên.
- Báo cáo “Cấp nước và vệ sinh môi trường tại Việt Nam: Biến đầu tư tài
chính thành dịch vụ trong tương lai”, World Bank, 2014.
- Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động (2016), “Cụm cấp
nước sạch quy mô nhỏ cho khu vực nông thôn và miền núi”.
- Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2016), Hội thảo: “Giải pháp công
nghệ xử lý và cấp nước sạch thích ứng với điều kiện vùng cao, vùng khan
hiếm nước”.
- Viện Môi Trường (ITET) với đề tài nghiên cứu khoa học "Nước sạch
cho vùng biên giới các tỉnh Tây Bắc", 2017.
- Nghiên cứu mô hình quy hoạch và quản lý hiệu quả hệ thống cấp nước
đô thị Việt Nam, -http://www.moc.gov.vn/ Vietnam/ Management.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến đổi mới cơ chế tài
chính, tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước và quản lý nhà nước ở
tầm quốc gia với nhiều cách tiếp cận, lý giải khác nhau nhằm đưa ra các giải
pháp cụ thể để các bên có liên quan tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn trong
quá trình xây dựng, tổ chức hoạt động tại đơn vị. Bên cạnh đó, một số công
trình, đề tài nghiên cứu có liên quan đến hoạt động cấp nước sạch đô thị và
nông thôn trên phạm vi cả nước và tại một số địa phương, vùng miền cụ thể
nhưng chỉ tập trung dưới dạng điều tra, đánh giá thực trạng, giải pháp mô hình
quản lý nước sạch ở nông thôn và giải pháp nước sạch cho các khu vực khó
khăn về nguồn nước là chủ yếu. Trong khi đó, vấn đề nghiên cứu liên quan đến
khung pháp lý về hỗ trợ trong quá trình xã hội hóa trên lĩnh vực này cũng đã
được đề cập nhưng còn khá ít, chưa có giải pháp mang tính cải cách, đặc biệt là
5
6
nguồn lực cho chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống cung cấp nước
sạch của khu vực đô thị và khu dân cư nông thôn tập trung thuộc các huyện,
thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu xây dựng hoàn thiện chính sách hỗ trợ
đầu tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch tại khu vực đô thị và khu dân
cư nông thôn tập trung thuộc các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam, cụ thể: về công tác quy hoạch và đầu tư phát triển, các công cụ
chính sách để hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch tập trung
nhằm thu hút, đẩy mạnh xã hội hóa đối với lĩnh vực cung cấp nước. Các vấn
đề khác có đề cập trong chừng mực để đảm bảo tính hệ thống của đề tài
nghiên cứu.
Thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng giai đoạn 2010-2015; đề xuất
chính sách và giải pháp thực hiện đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, trong đó coi trọng mối liên hệ giữa lý luận và thực
tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, tri thức khoa học kinh tế-xã hội,
nhất là khoa học chính sách công và kinh nghiệm thực tiễn phù hợp với địa
bàn tỉnh Quảng Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn trực tiếp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như:
phương pháp thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát, lấy ý kiến nhà chuyên môn
và có đối chiếu quy trình, quy phạm của pháp luật có liên quan.
Luận văn cũng kế thừa số liệu của các cá nhân, tổ chức đang thực hiện
và các công trình, dự án, tài liệu khoa học của các tác giả có liên quan đến đề
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CUNG CẤP NƢỚC SẠCH
Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến đầu tư phát triển và chính sách hỗ
trợ đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển:
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi
công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về
nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh
đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những
kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học ,..), tài sản trí tuệ
(trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân
lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản
xuất xã hội.
Đầu tư phát triển: là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra
những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm
việc làm và vì mục tiêu phát triển. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại
nguồn lực, bao gồm là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài
nguyên… Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất, tài
sản trí tuệ và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền). Các kết
9
quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm những năng lực sản xuất của
mới, được tiến hành từ bước khảo sát, thiết kế, lập dự án đầu tư và thi công
xây dựng công trình.
Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp mở rộng công suất cấp nước: là dự án đầu
tư bao gồm các hạng mục: Nâng cấp công trình trạm, khu xử lý để tăng công
suất cấp nước, cải tạo, mở rộng các tuyến đường ống cấp nước và các hạng
mục trên tuyến, nâng chất lượng nước cấp nhằm đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật
Quốc gia về chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt của Bộ Y tế theo QCVN
01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT từ một công trình cấp nước đã có.
Dự án đầu tư mở rộng phạm vi cấp nước: Là dự án đầu tư xây dựng mới
tuyến đường ống cấp nước và các hạng mục trên tuyến đấu nối với một công
trình cấp nước đã có nhằm mở rộng phạm vi cấp nước.
1.1.2. Các khái niệm liên quan đến nước sạch và cung cấp nước sạch
Nước sạch: Nước sạch là khái niệm chung cho các loại nước dùng trong
sinh hoạt, công nghiệp, công cộng... Theo Nghị định 117/2007/NĐ-CP thì:
Nước sạch là nước đã qua xử lý có chất lượng đảm bảo, đáp ứng yêu cầu sử
dụng [45, tr.2.].
Tiêu chuẩn nước sạch:
Hiện tại, tiêu chuẩn nước sạch ở Việt Nam do Bộ Y tế ban hành với 112
tiêu chí xác định [4, tr.1-5]. Theo đó, quy định tiêu chuẩn nước dùng trong ăn
uống, chế biến thực phẩm, dùng trong các cơ sở sản xuất; nước cấp theo
đường ống từ nhà máy đến các khu đô thị, nước cấp theo đường ống từ trạm
cấp nước tập trung dùng cho từ 500 người trở lên.
Đối với thế giới: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ban hành tiêu chuẩn nước
sạch cho ăn uống và sinh hoạt với 30 tiêu chí cơ bản. Trong 30 tiêu chí của
WTO có 10 tiêu chí chưa có quy định cụ thể; các tiêu chí là thống nhất, không
phân biệt thành thị, nông thôn, nước mặt, nước ngầm [29, tr.53].
11
thực hiện nhưng phải được định hướng theo mục tiêu mà nhà nước đã định ra
trước đó. Chính sách này được ban hành trong khuôn khổ pháp lý của quốc
gia và được cụ thể hóa để các bên liên quan ở bên trong nhà nước và ngoài
nhà nước tham gia thực thi chính sách. Các cơ quan nhà nước trực tiếp tham
gia trong hoạch định, thực thi chính sách và đánh giá chính sách. Các tổ chức,
cá nhân ngoài nhà nước và nhân dân tổ chức thực thi chính sách và giám sát,
đánh giá hiệu quả của chính sách.
Vai trò, tác dụng của chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống cung
cấp nước sạch được thể hiện như sau: Nhà nước ban hành chính sách nhằm
định hướng cho các hoạt động phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
Cùng với mục tiêu đảm bảo cung cấp nước sạch phục vụ cho người dân ở khu
vực đô thị và nông thôn, các biện pháp chính sách mang tính hỗ trợ cũng có
vai trò định hướng cách thức hành động của các chủ thể đầu tư trong lĩnh vực
này như: khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, ưu đãi về thuế, đất đai, Giải phóng mặt
bằng, ưu đãi tín dụng, ưu đãi về giá, phí, lệ phí… Trong kinh tế thị trường,
chính sách này được sử dụng để phát huy những mặt tích cực của thị trường,
đồng thời khắc phục những hạn chế do chính thị trường gây ra. Ngoài ra, Nhà
nước có thể dùng chính sách hỗ trợ để tạo lập các cân đối trong phát triển; thu
hút nhưng có kiểm soát các nguồn lực trong xã hội; tạo lập môi trường thuận
lợi cho các hoạt động kinh tế – xã hội; tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa
các cấp chính quyền vì mục tiêu phát triển.
Từ khi có chính sách này và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
thực thi thì đây chính là công cụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền quản lý nhà nước của Chính phủ nhằm hướng đến mục đích là giải
quyết các vấn đề đang bức xúc về nước sạch hiện nay trên phạm vi cả nước,
nhất là các khu vực bị ô nhiễm môi trường nước, đảm bảo sức khỏe cho người
dân và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các thành phần kinh tế vào đầu tư
13
14
sạch đô thị và nông thôn được quản lý và thực hiện theo quy định của pháp
luật hiện hành. [41, tr.2 và 51, tr.2]
1.3.2. Mục tiêu
Để vấn đề chính sách phát huy hiệu quả cần phải đề ra những mục tiêu
nhằm cụ thể hóa các nội dung mà chủ thể ban hành đã hoạch định, tạo thuận
lợi cho quá trình thực thi chính sách cũng như trong phân tích, đánh giá hiệu
quả của chính sách, bao gồm các mục tiêu chung và cụ thể như sau:
Mục tiêu chung:
Tăng cường sức khỏe cho người dân bằng cách giảm thiểu các bệnh có
liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp nước sạch.
Các công trình cấp nước hiện nay nếu được đầu tư xây dựng, nâng cấp
và mở rộng sẽ đem lại tiện ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho người dân,
góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong hoạt động sản xuất, cung ứng tiêu thụ nước sạch là phát triển hệ
thống cấp nước một cách ổn định, đáp ứng yêu cầu tiêu thụ cho sản xuất và
tiêu dùng; thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, có điều kiện
quản lý đặc thù của Nhà nước.
Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2020, cả nước có 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông
thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối
thiểu 60lít/người/ngày đối với khu vực nông thôn và từ 120-150
lít/người/ngày đối với khu vực đô thị [12, tr.6].
Tập trung và ưu tiên giải quyết các yêu cầu cấp thiết về nước sinh hoạt
cho những vùng thiếu nước như vùng bị hạn hán, vùng biên giới, hải đảo,
vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng bị nhiễm mặn và vùng nước bị ô
nhiễm như vùng bị lũ lụt, vùng bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp.
Chống cạn kiệt, chống ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nguồn nước ngầm và
đòi hỏi chất lượng cung cấp dịch vụ ngày một nâng cao, để đáp ứng nhu cầu
16
này nhà nước phải có chính sách hỗ trợ kịp thời nhằm khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia mạnh mẽ vào quá trình hoạt động trong lĩnh vực này
làm cho tình hình cung ứng dịch vụ cấp nước sạch được cải thiện đáng kể,
đồng thời cũng phù hợp với chủ trương của Đảng và nhà nước về chuyển hóa
dần từ “làm thay” sang “hỗ trợ” đối với các loại hình mang tính chất dịch vụ
và khi các loại hình này phát triển thì sẽ tác động trở lại, làm cho nguồn thu
ngân sách được tăng lên. Nhưng nếu điều kinh kinh tế khó khăn, ngân sách
không đảm bảo cân đối hoặc hỗ trợ ở mức độ chưa phù hợp thì sẽ khó khăn
trong thu hút đầu tư phát triển dẫn đến hiệu quả của chính sách không đạt yêu
cầu và làm cho mục tiêu phát triển chậm lại.
1.4.3. Môi trường xã hội
Những thay đổi về các điều kiện xã hội như cơ cấu dân số, trình độ dân
trí, tập quán, cơ cấu gia đình, dân tộc, tôn giáo… có thể ảnh hưởng đến các
việc giải thích một số vấn đề của chính sách hỗ trợ và vì thế tác động đến quá
trình hoạch định và thực hiện chính sách, có khi làm cho chính sách không đạt
mục tiêu đề ra như: Khuyến khích nhà đầu tư vào lĩnh vực này mà hoạt động
của nhà đầu tư có hiệu quả hay không phần lớn nhờ vào mức độ sử dụng nước
của người dân, nhưng ý thức của người dân về vấn đề sử dụng nước sạch
chưa cao, vẫn còn mang tính tự cung, tự cấp bằng các giải pháp tự khai thác
nước ngầm để phục vụ nhu cầu của mình thì dẫn đến hiệu quả của nhà đầu tư
thấp và có thể dẫn đến chính sách khó khả thi.
1.4.4. Môi trường công nghệ
Những công nghệ có sẵn sẽ quy định cách thức thiết kế văn bản, chương
trình thực thi chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch.
Nhưng nếu công nghệ có sự thay đổi mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn thì
người thụ hưởng chính sách, các đối tác, đối tượng thu hút, khuyến khích và
những người liên quan khác có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực thi chính
18
sách được thể hiện ở các phương diện như: tiềm năng về chính trị và kinh tế,
động cơ và lợi ích, sự ủng hộ của nhân dân.
1.4.7. Các yếu tố có liên quan khác
Vai trò, đặc điểm của tài nguyên nước ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt
động cấp nước cũng như chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống cung
cấp nước sạch, nếu nguồn nước không đảm bảo hoặc có vị trí không thuận lợi
sẽ tác động đến vấn đề hỗ trợ đầu tư, làm cho chi phí đầu tư tăng cao dẫn đến
mức hỗ trợ sẽ tăng, khả năng đáp ứng ngân sách cho chính sách sẽ hạn chế và
thu hút đầu tư sẽ bị chậm lại.
Quy hoạch, kế hoạch cấp nước có ảnh hưởng quan trọng đến hoạch định
chính sách. Các quy hoạch được lập, phê duyệt làm cơ sở định hướng cho
việc xây dựng chính sách hỗ trợ đầu tư phù hợp. Bởi lẽ, dựa trên cơ sở nhu
cầu và định hướng quy hoạch được duyệt, chủ thể ban hành chính sách này
xác định vấn đề chính sách có cấp thiết hay không để lựa chọn có nên hay
không nên ban hành để triển khai thực hiện.
Quy mô đầu tư phải phù hợp với nhu cầu thực tế và đón đầu quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, tránh đón đầu quá xa gây thất
thoát, kém hiệu quả trong đầu tư. Đây cũng là những yếu tác động đến hiệu
quả của chính sách nếu không tuân thủ sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả phần vốn
hỗ trợ đầu tư từ chính sách cũng như nguồn vốn bỏ ra của doanh nghiệp.
Nguồn vốn đầu tư là yếu tố rất quan trọng để thực hiện chính sách hỗ trợ
đầu tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch, cụ thể:
- Đối với Nhà nước: Nguồn vốn chủ yếu được lấy từ nguồn vốn đầu tư
phát triển của ngân sách Nhà nước; ngoài nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước,
- Đối với vốn ngoài Nhà nước: vốn đầu tư từ doanh nghiệp và vay tín
dụng ngân hàng được các nhà đầu tư sử dụng để đầu tư xây dựng và tổ chức
các hoạt động cung ứng dịch vụ cấp nước trong quá trình hoạt động của đơn
vị. Đây là nguồn vốn tương đối lớn và dồi dào nếu nhà đầu tư sử dụng hợp lý
20
thì sẽ tạo động lực và tác động mạnh mẽ đến quá trình đầu tư phát triển, dẫn
đến hiệu quả của chính sách sẽ mang lại khá cao, đồng thời thì đây vẫn là
kênh chủ đạo trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của Việt
Nam, trong đó có lĩnh vực cấp nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cho phép phát
hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, đây là một kênh huy động vốn thuận
lợi cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp cấp nước nói riêng. Thị
trường vốn Việt Nam đã có những phát triển mạnh, mở ra một kênh huy động
vốn trung dài hạn mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và của doanh
nghiệp, đồng thời thúc đẩy quá trình minh bạch hoá hoạt động của các doanh
nghiệp. Tuy nhiên, mức độ tự chủ của các công ty cấp nước đô thị còn yếu và
đặc biệt là chính sách giá nước chưa phù hợp, không đảm bảo được sự bền
vững về tài chính cho doanh nghiệp là nguyên nhân cơ bản hạn chế các thành
phần kinh tế tham gia đầu tư.
Đánh giá chung:
Nhìn chung, đối với chính sách công nói chung và chính sách hỗ trợ đầu
tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch nói riêng thì tất cả các chính sách
đều chịu sự tác động và ảnh hưởng của các yếu tố như môi trường, đặc điểm,
tính chất và các nguồn lực. Những ảnh hưởng này thể hiện trong toàn quá
trình hoạch định và thực thi chính sách. Để chính sách phát huy tối đa hiệu
lực, hiệu quả và đạt mục tiêu đề ra thì chủ thể ban hành chính sách này cần
phải lường định các yếu tố ảnh hưởng này để xây dựng chính sách hỗ trợ đầu
tư phát triển hệ thống cung cấp nước sạch đảm bảo khoa học, bám sát thực
định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung
cấp và tiêu thụ nước sạch; Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011
của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 117/2007/NĐCP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước
sạch; Thông tư số 01/2008/TT-BXD ngày 02 tháng 01 năm 2008 "Hướng dẫn
thực hiện một số nội dung của Nghị định số 117/2007/NĐ-CP của Chính Phủ
22