Thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN SINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU GOM,
VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI QUANG TUẤN

HÀ NỘI, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi. Tất cả các số
liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và
tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên

NGUYỄN VĂN SINH

thải rắn .......................................................................................................................68
KẾT LUẬN ..............................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MTĐT

: Môi trường đô thị

TGVC&XLCTR

: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn

BCL

: Bãi chôn lấp

BVMT

: Bảo vệ môi trường

CTR

: Chất thải rắn

CTRSH

: Chất thải rắn sinh hoạt


: Tài nguyên và Môi trường

UBND

: Ủy ban Nhân dân


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Bảng 2.1.

Tên bảng

Trang

Thống kê chất thải rắn sinh hoạt do Công ty thu gom, vận

27

chuyển, xử lý trong năm 2015
Bảng 2.2.

Bảng Thống kê khối lượng rác thải công cộng thu gom.

29

Bảng 2.3.

Số lượng CTNH phát sinh, thu gom, xử lý hoặc lưu giữ tại



DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Tên hình, sơ đồ

Số hiệu

Trang

Hình 2.1:

Điểm tập kết rác thải theo đề án CTR của tỉnh Quảng Nam

53

Hình 2.2:

Hoạt động thu mua chai lọ, phế liệu của chị Thúy

72

Sơ đồ 2.1.

Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty cổ phần môi trường đô thị

43

Quảng Nam


MỞ ĐẦU


rác thải trong sinh hoạt, chất thải công nghiệp nguy hại, rác thải y tế, chất thải chăn
nuôi, và dịch vụ du lịch. Đã đến lúc chúng ta phải đề cao việc thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn, đặc biệt, xử lý chất thải nguy hại bảo vệ môi trường để cứu
lấy môi trường sinh thái thực hiện phát triển bền vững.
Ngoài ra, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa
được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp
giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế từ chất thải rắn dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải
chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất, tại nhiều khu vực chất thải chôn lấp ở các bãi
chôn lấp tạm, lộ thiên, hiện đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra,
công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thải rắn tại các địa phương còn chậm;
việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng khu xử lý, đầu tư nhà máy xử lý chất
thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải rắn còn chưa
tương xứng; nhiều công trình xử lý chất thải rắn đã được xây dựng và vận hành,
nhưng cơ sở vật chất, năng lực và hiệu suất xử lý chất thải rắn chưa đạt yêu cầu.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường của tỉnh Quảng Nam nói
chung, và các tỉnh duyên hải miền trung cũng đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh
tế mạnh mẽ, tốc độ đô thị hóa nhanh, đang thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc
gia về nông thôn mới, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển cũng bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm, tình trạng ô
nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của
con người gây ra.
Trong thời gian qua, công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã có nhiều cố gắng, các cấp, các ngành các địa
phương đã thật sự vào cuộc, nhưng nhìn chung chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn
sinh hoạt tại địa bàn các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều
bất cập do ý thức của người dân chưa cao, dẫn đến môi trường cuộc sống nông thôn
còn ô nhiễm chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; nguyên nhân chủ yếu là do
ý thức trách nhiệm và nhận thức của người dân, doanh nghiệp về công tác, nhiều
khó khăn trong ký hợp đồng kinh tế, trong giao dịch, quan hệ công việc thu gom và

các ngành, các cấp và nhân dân ngày càng quan tâm, chú trọng. Đã có nhiều bài viết
trên các báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về vấn đề
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. Dưới đây là một số bài viết có liên quan
đến đề tài:
9


- Thuyết minh tổng hợp: quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế
nguy hại đến năm 2025 của Viện Kiến trúc - Quy hoạch Nông thôn thuộc Bộ Xây
Dựng. Đề tài làm rõ tính cấp bách của việc xử lý CTR nguy hại hiện nay và trong giai
đoạn đến.
- Nguyễn Văn Hưng, “Tình hình nhập khẩu phế liệu và công tác quản lý môi
trường trong nhập khẩu phế liệu của Việt Nam”- Tổng cục Môi trường. Bài viết đưa
ra thực trạng nhập phế liệu chất thải rắn nói chung và quy định nhà nước về bảo vệ
môi trường cũng như các đề xuất liên quan.
- Vũ Quang Thái luận văn về “Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn quận Hoàng Mai,
thành phố Hà Nội”. Đề tài này đưa ra giải pháp phân loại rác tại nguồn, phương pháp
xử lý rác thải theo công nghệ đốt hợp vệ sinh.
- TS. Trần Văn Quang, “Đề xuất phương án tổ chức phân loại rác tại thành
phố Đà Nẵng”, Đại học Bách Khoa - Đại học Đà Nẵng.
- Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã
hội của tác giả Đặng Thị Hà “Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ
thực tiễn thành phố Đà nẵng”, Luận văn này nghiên cứu tập trung vào việc cụ thể
hóa chính sách và thực hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở
thành phố Đà Nẵng và trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường thực
hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô
thị nói riêng ở thành phố Đà Nẵng.
- Bài viết của GS TS Bùi Văn Ga, Lê Thị Hải Anh, Cao Xuân Tuấn, Trần
Hồng Loan, “Nâng cao hiệu quả thu gom và phân loại rác tại thành phố Đà Nẵng”,

chưa có giải pháp cho xử lý chất thải rắn hiệu quả nhất.
- Bài viết của TS. Nguyễn Thị Thanh Hà – phó vụ trưởng Vụ KHXH&TN, Bộ
KH&CN: Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường
giai đoạn 2011- 2015.
Các nghiên cứu trên nêu ra nhiều vấn đề liên quan đến thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào làm rõ thực trạng thực hiện
chính sách thu gom vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và
11


xử lý chất thải rắn tại tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh
thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại tỉnh Quảng Nam
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách sách thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và thực hiện chính sách sách thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn.
- Tổng hợp các chính sách hiện hành liên quan đến thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn tại tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất hoàn thiện các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách thu gom,
vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
Luận văn đánh giá thực tiễn của một trường hợp địa phương, từ đó đề xuất
giải pháp tăng cường thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn của một địa phương cụ thể là tỉnh Quảng Nam nhưng có thể khái quát thành
chính sách cho nhiều địa phương.
7. Cơ cấu luận văn
Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung về thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn ở nước ta;
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn ở nước ta hiện nay.

13


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
1.1. Các khái niệm liên quan đến chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải rắn
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm
để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường.
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ thực hiện nhằm
giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [13]. Như vậy,
chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị liên quan của Đảng và Nhà

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến
nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung
chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển.
Chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực
hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định.
Chủ xử lý chất thải là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử lý
chất thải. (Điều 3, Nghị định của Chính phủ số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4
năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu).
Từ lý luận về “Chính sách công”, “Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn” nêu trên, có thể định nghĩa sau: “Chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải rắn là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải
pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường theo mục tiêu
tổng thể đã xác định”.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn
Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thu gom, vận
chuyển và xử lý chất thải rắn. Quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện hoạt động thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với các biện

15


pháp hành chính, biện pháp kinh tế, kỹ thuật và các biện pháp khác để thực hiện công
tác quản lý, tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. Đẩy mạnh tái chế, tái
sử dụng và giảm thiểu chất thải trong phạm vi quản lý chính sách môi trường. Ưu tiên
xử lý các vấn đề nóng chất thải nguy hại, chất thải rắn gây ô nhiểm, vệ sinh môi
trường cộng đồng. Đa dạng các nguồn vốn đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn, bố trí kinh phí chi riêng thường xuyên cho thu gom, vận
chuyển và xử lý CTR. Hỗ trợ ưu đãi về tài chính, đất đai, công nghệ. Tăng cường đào
tạo nguồn nhân lực công nghiệp môi trường đô thị đáp ứng nhiệm vụ thu gom, vận

mục đích mới. Chất thải tái chế, tái sử dụng được lưu giữ riêng.
Giảm thiểu chất thải rắn là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất
thải rắn bao gồm giảm lượng chất thải rắn tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể
tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát có chặt chẻ trong quá trình thực hành
tác nghiệp và phân loại chất thải chính xác. Hạn chế sử dụng túi nilon khó phân
hủy trong tiêu dùng hàng ngày.
+ Nguồn gốc phát sinh CTR
- Tại các khu dân cư:
Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt gia đình, cá nhân là chất thải rắn sinh
hoạt bao gồm: rác do chế biến thức ăn, quét dọn nhà cửa, tro bếp, rác dọn vườn, các
đồ dùng cũ hay bị hư hỏng, bao gói.v.v.
Bên cạnh đó, rác tại các khu dân cư này có thể chứa một phần các chất thải
nguy hại như ắc quy, bóng đèn huỳnh quang, rác thải điện tử, chai lọ đựng thuốc
BVTV, thuốc trừ sâu, từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: thu hoạch, sơ chế
nông sản, các chất thải từ chăn nuôi và giết mổ động, thực vật.
- Tại các chợ, cơ quan, trường học:
Các chợ vùng nông thôn thường là các chợ nhỏ, thành phần chủ yếu là rác hữu
cơ bao gồm rau, củ, quả thừa, hư hỏng, thực phẩm hỏng.
Chất thải tại các cơ quan, trường học chủ yếu là giấy. Ngoài ra, tại các trường
học còn phát sinh thêm các hộp nhựa, vỏ lon, lá cây, thức ăn thừa.
+ Thành phần, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
Với tốc độ đô thị hóa nhanh như hiện nay, lượng rác thải càng tăng cao đáng kể.
Do đó, công tác quản lý CTR, rác thải sinh hoạt nói riêng cũng như rác thải nông thôn
nói chung đòi hỏi phải kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương.

17


+ Thành phần rác thải sinh hoạt
THÀNH PHẦN


1.4. Phân động vật

3,2

Các chất hữu cơ bền vững

4,5

2.1. Nylon

3,8

2.2. Nhựa các loại

1,6

2.3. Giả da

0,5

Các chất có thể cháy được

7,9

3.1. Vải vụn

2,3

3.2. Cao su vụn


Các tạp chất khác

7,1

Phân loại chất thải rắn tại nguồn trong quá trình thu gom phát huy công tác tái
chế, giảm thiểu, tái sử dụng. Thu gom chất thải rắn thông thường tại đô thị theo lịch
cụ thể hàng ngày xe chuyên dùng của công ty môi trường đến thu gom, vận chuyển
đi xử lý theo quy định. Thu gom tại vùng nông thôn rác thải được các tổ thu gom
đưa về điểm tập kết tạm thời đủ khối lượng xe cuốn ép đến vận chuyển đi xử lý tập
trung. Thu gom chất thải rắn công nghiệp nguy hại rác thải chưa phân loại tại
18


nguồn. Thu gom chất thải rắn y tế nguy hại đã phân loại tại nguồn thải quy định
ngày theo lich thu gom, chất thải y tế nguy hại lây nhiểm, chất thải y tế sắc nhọn
nguy hại, chất thải hoá học nguy hại, chất phóng xạ, chất thải tái chế.
Rác thải công nghiệp nguy hại tiêu hủy bằng lò đốt: các loại chất thải này
được lưu chứa trong các loại thùng rác chuyên dùng. Đối với chất thải công
nghiệp dạng rắn: đựng trong thùng rác đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, sử dụng xe
chuyên dùng để vận chuyển về xử lý. Đối với chất thải công nghiệp dạng lỏng:
được chứa trong loại thùng phi (nhựa hoặc sắt tùy theo loại chất thải) xe chuyên
dụng vận chuyển chất thải nguy hại dạng lỏng. Đối với bùn thải: một số đơn vị
chủ nguồn thải có đầu tư máy ép bùn, bùn thải được ép khô, cho vào bao PE rồi xe
của đơn vị dến vận chuyển đi xử lý. Riêng đối với bùn thải chưa được tách nước,
sử dụng xe hút chân không hút và vận chuyển đi về tập kết tại sân phơi bùn của
khu xử lý. Sau khi tách nước bùn được đưa vào lò đốt tiêu hủy. Vận chuyển chất
thải rắn theo quy định và theo giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp,
phương tiện vận chuyển sử dụng xe thùng kín cuốn ép chuyên dùng cho môi
trường. Tránh tối đa sự cố giao thông và ô nhiểm môi trường, đoạn đường di

một quốc gia và một địa phương.
- Yếu tố bên trong:
Các yếu tố bên trong bao gồm nhiều yếu tố khác như nhận thức, năng lực thực
thi của bộ máy, trình độ của nguồn nhân lực, các nguồn lực vật chất về vốn và kỹ
thuật để thực hiện.
Trong số đó, các yếu tố nhận thức và nâng cao nhận thức và ý thức về bảo vệ
môi trường và giữ gìn vệ sinh, tại mỗi gia đình và nơi công cộng đóng vai trò quan
trọng bậc nhất. Để đảm bảo các yếu tố đó là một loạt các giải pháp liên quan đến
giáo dục tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môi trường sống
và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân với cộng đồng.
Ngoài ra, các yếu tố về năng lực thực thi của bộ máy, trình độ của nguồn nhân
lực, các nguồn lực vật chất về vốn và kỹ thuật là để đảm bảo các chính sách đưa ra
được thực hiện một cách thực tế và hiệu quả.
1.4. Kinh nghiệm của một số nước trong việc thực hiện chính sách thu
gom, vận chuyển và xử ý CTR
Ở đất nước Singapo người ta chọn đốt và tiêu hủy chất thải rắn hợp vệ sinh
môi trường nhằm hạn chế sử dụng đất cho công tác xử lý chất thải rắn nhưng đảm
20


bảo cho môi trường sống của người dân Singapo.
Ở Thái Lan cho phân loại tại nguồn, mô hình này tiết kiệm cho xã hội, lợi ích
môi trường, kinh tế, đặc biệt văn minh xã hội và ý thức bảo vệ môi trường. Tuyên
truyền cho cộng đồng Asean về công tác quản lý chất thải rắn đảm bảo môi trường.
Ở Đức, sản xuất điện từ nhiệt tận thu trong công nghệ đốt xử lý chất thải rắn,
chôn lấp hợp vệ sinh rác thải. Công nghệ xử lý chất thải rắn tiên tiến phù hợp nếp
sống văn minh Châu Âu cần được tiếp cận, áp dụng tại Việt Nam.
Ngoài ra, Thụy Điển người dân mang đồ dùng gia đình cũ như: tivi, tủ lạnh,
máy giặc, áo quần… đi sữa lại để dùng, được chính phủ hỗ trợ thêm tiền, khuyến
khích người dân mua hàng tốt, ít hư hỏng, hạn chế sản xuất đồ dùng rẽ hay hư hỏng,



CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU GOM VẬN CHUYỂN VÀ
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Khái quát về đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Quảng
Nam
2.1.1. Vị trí địa lý
Với vị trí địa lý thuận lợi để kết nối với các địa phương khác trong nước và
thế giới thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cách thủ đô Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh 01 giờ bay, giáp ranh thành phố Đà Nẵng là trung tâm chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội của miền Trung và Tây Nguyên. Nằm ở trung tâm khu vực
ASEAN, trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây, rất thuận lợi về vận chuyển
đường bộ sang Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và đường biển sang các nước
khác thuộc khu vực ASEAN.
Tỉnh Quảng Nam chính thức tái lập vào ngày 01/01/1997, có tọa độ địa lý từ
108 độ 26’16’’ đến 108 độ 44’04’’ độ kinh Đông, và từ 15 độ 23’38’’ đến 15 độ
38’43’’ độ vĩ Bắc, cách thủ đô Hà Nội 860 km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí
Minh 865 km về phía nam. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên
Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông
với chiều dài bờ biển 125 km (gồm 18 xã giáp biển và 01 xã đảo), phía tây giáp
tỉnh Sê Kông của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với chiều dài 142 km
bao gồm 14 xã biên giới.
Quảng Nam có diện tích tự nhiên là 1.040.878 ha, có hai thành phố trực
thuộc tỉnh là thành phố Tam Kỳ và Hội An, có 16 huyện, thị xã với 244 xã,
phường, thị trấn; là tỉnh có hai di sản văn hóa thế giới nổi tiếng là thành phố cổ
Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên); có cảng biển Kỳ Hà, cảng biển
Tam Hiệp và sân bay Chu Lai (huyện Núi Thành), cửa khẩu đường bộ Đắc Ôc
(huyện Nam Giang).
Về dân số, dân cư: Tính đến hết năm 2012, dân số Quảng Nam là 396.423

kiện lớn của khu vực và quốc tế, nhất là trong lĩnh vực khách sạn, từ 98 khách sạn
năm 2010 lên 115 khách sạn năm 2015 (Trong đó, có nhiều khách sạn từ 4 đến 5
sao). Thị trường du lịch từng bước được mở rộng. Thu nhập từ du lịch tăng mạnh,

24


bình quân khoảng 28-30%/năm, góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về lĩnh vực văn hóa - xã hội: Công tác giáo dục - đào tạo, dạy nghề được
quan tâm đầu tư; trong điều kiện ngân sách hạn hẹp nhưng chi ngân sách nhà nước
cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo, dạy nghề tăng và cùng với các nguồn vốn khác đã
cải thiện đáng kể cơ sở vật chất, trường lớp, thiết bị phục vụ dạy và học; chất
lượng giáo dục - đào tạo được nâng lên. Công tác xã hội hóa giáo dục, xây dựng
xã hội học tập, khuyến học, khuyến tài được đẩy mạnh. Các trung tâm đào tạo
nghề của tỉnh được củng cố, đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học.
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện. Cơ sở
vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường, đầu tư theo hướng chuyên sâu và phù
hợp với yêu cầu từng tuyến điều trị. Xã hội hóa trong lĩnh vực y tế tiếp tục được
khuyến khích.
Môi trường sống đảm bảo, thiên nhiên hài hòa bao gồm cả núi, sông và biển
có núi Trường Sơn, có các sông lớn Trường giang, Thu Bồn, mát mẻ vào mùa hè,
ấm áp mùa đông. Công tác bảo vệ môi trường chú trọng, trước khi dự án được đầu
tư phải có đánh giá tác tác động môi trường sống của cộng đồng, dự án khả thi
tiếp tục hoàn thiện đầu tư nhằm bảo vệ môi trường.
2.1.2. Thực trạng môi trường tại Quảng Nam
Nằm trong xu hướng phát triển chung của cả nước, tỉnh Quảng Nam là một
trong những tỉnh phát triển mạnh, tốc độ đô thị hóa nhanh. Hoạt động sản xuất của
các Khu công nghiệp, khu dân cư, khu đô thị, làm gia tăng về khối lượng của chất
thải rắn, tác động không nhỏ vào việc gây ô nhiễm môi trường. Theo thống kê của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status