Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HOA

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHẠM THỊ THU GIANG

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở
VIỆT NAM .....................................................................................................................4
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp ................. 4
1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ...... 7
1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt
Nam hiện nay ................................................................................................. 9
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á ............................................ 33
2.1. Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở

Doanh nghiệp

GTGT

Giá trị gia tăng

HSC

Hội sở chính

KCN

Khu công nghiệp

NHNN

Ngân hàng nhà nước

TMCP

Thương mại cổ phần

TNCN

Thu nhập cá nhân

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn


1. Tính cấp thiết của đề tài
Như bất kỳ một quốc gia nào, đối với nền kinh tế xã hội, thuế đóng một vai
trò và là công cụ vô cùng quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý, điều tiết sản
xuất kinh doanh cũng như phân phối tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là
công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta trong quá trình vận hành và đổi mới nền kinh
tế đã rất chú trọng đến việc cải cách hệ thống thuế, những chính sách về thuế thu
nhập doanh nghiệp (TNDN) thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với các đối
tượng nộp thuế, khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển.
Việc ban hành những văn bản pháp luật về thuế TNDN có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội và về mặt pháp lý. Tuy
nhiên trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật về thuế TNDN thì thực tiễn vẫn
còn một khoảng cách khá lớn giữa văn bản và thực tế áp dụng, vẫn còn những khó
khăn, bất cập trong việc áp dụng những quy định này. Đặc biệt là những trung tâm
kinh tế, những vùng kinh tế trọng điểm thì vấn đề này lại càng trở nên nhức nhối,
cấp bách hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, ngày càng phát triển bắt nhịp được gần hơn với các nước phát triển
khác trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước (NSNN),
đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô kinh tế - Xã hội. Tuy nhiên do
nhiều nguyên nhân khác nhau mà những năm qua việc động viên thuế TNDN vào
NSNN vẫn còn gặp khó khăn, đặc biệt có hiện tượng gian lận thuế, trốn thuế, nợ
thuế. Để đi sau vào vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tại “Pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp từ thực tiễn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á” để
nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề pháp luật thuế TNDN đã được đề cập nhiều trong các công trình
nghiên cứu trước đây, tuy nhiên các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác
về một góc độ nhất định nào đó như: Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp hiện nay – một số vấn đề lý luận và thực tiễn năm

Nhiệm vụ của đề tài: Làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế TNDN hiện
hành; nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và đề
xuất phương hướng nhằm nâng cao vai trò của pháp luật thuế TNDN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về thuế TNDN
và thực tiễn thực thi pháp luật này tại Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Từ nghiên cứu thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Bắc Á và những bất cập của
pháp luật về thuế TNDN luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về thuế TNDN ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Như nhiều công trình khoa học pháp lý khác, đề tài này được thực hiện dựa
trên cơ sở phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa MácLê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng và một số vấn đề lý luận có liên quan.
Ngoài ra luận văn còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản khác tùy
thuộc vào từng nội dung cụ thể như:
-

Phương pháp logic

-

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

-

Phương pháp thống kê để làm rõ các nội dung trong luận văn

nhập chịu thuế chính là một bộ phận của thu nhập quốc dân được sáng tạo ra từ
nhiều nguồn khác nhau, như từ lao động, từ kinh doanh, từ đầu tư, từ tài sản…
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của
thuế TNDN thể hiện ở chỗ nó điều tiết trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế.
Tức là có sự đồng nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế, điều này khác hẳn
với thuế gián thu.
Đối với thuế gián thu, như thuế giá trị gia tăng, người nộp thuế là các doanh
nghiệp, nhưng họ chuyển ngay việc chịu thuế đó cho người tiêu dùng thông qua
việc cộng thuế vào giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua hoặc sử
dụng. Đối với thuế trực thu, như thuế TNDN thì người nộp thuế phải trích từ chính
phần thu nhập có được của mình để nộp thuế.
Thuế thu nhập được tồn tại ở một số dạng khác nhau. Thông thường người ta
dựa vào đối tượng nộp thuế, với tính chất hình thành thu nhập khác nhau để thu
thuế. Theo cách này, thuế thu nhập thường được hình thành dưới hai dạng: thuế thu
nhập đối với các pháp nhân (thường là các tổ chức kinh doanh) và thuế thu nhập đối
với các thể nhân. Hiện nay trên thế giới, hai loại thuế này thường được định danh là
thuế thu nhập công ty và thuế thu nhập cá nhân

4


Ở Việt Nam hiện nay tồn tại hai sắc thuế thu nhập là thuế TNDN và thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao.
Trước khi có thuế TNDN, ở nước ta tồn tại một loại thuế có tên là thuế lợi tức.
Đây là một loại thuế có cùng tình chất và đối tượng thu thuế như thuế TNDN,
nhưng phạm vi đối tượng nộp thuế, lợi tức chịu thuế có sự khác nhau.
Do yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, khuyến khích đầu tư, phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, vào những đầu năm 90 nhà
nước ta đã thực hiện cải cách hệ thống thuế, nhằm xây dựng một hệ thống thuế mới
áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng, cạch tranh giữa

tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật. Các doanh
nghiệp (DN) với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì
doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các
doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được
thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước
sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể
có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân
sách Nhà nước được công bằng, hợp lý. Các doanh nghiệp thua lỗ trong sản xuất
kinh doanh vừa không phải đóng thuế TNDN, vừa có thể được chuyển lỗ sang các
năm sau để có cơ hội phục hồi và giảm tình trạng phá sản doanh nghiệp.
Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh,
hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ có phát sinh thu nhập chịu thuế. Một khi nền kinh tế thị trường phát triển, tăng
trưởng kinh tế được bảo đảm, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng
mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách nhà
nước thông qua thuế TNDN sẽ ngày càng dồi dào.
Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản
xuất, kinh doanh phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện
của Nhà nước.
Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào
những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà nhà nước ưu tiên khuyến khích
phát triển trong từng giai đoạn nhất định.

6


Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng của
Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội
trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.

với các loại thuế khác ở một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, thuế TNDN có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh, vì thế,
một trong nội dung quan trọng trong chính sách thuế thu nhập là phải xác định
được thu nhập chịu thuế.
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, ngoài mục tiêu tạo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hòa
thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hội của nhà nước. Bởi
vậy, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước thường có quy định về chế độ
ưu đãi, miễn, giảm thuế để bảo đảm chức năng khuyến khích của thuế TNDN.
Thứ ba, thuế TNDN là loại thuế có tính ổn định không cao, việc quản lý thuế
tương đối khó khăn, chi phí quản lý thường lớn hơn so với các loại thuế khác. Đối
với thuế TNDN ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định
nguồn gốc thu nhập, tính ổn định của thu nhập…Phải xác định được các khoản
được trừ hợp lý để tiến hành trừ khi xác định thu nhập chịu thuế nhằm đảm bảo mục
tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế.
Thứ tư, Nguồn điều chỉnh quan hệ của thuế TNDN bao gồm các văn bản
pháp luật quốc gia và cả luật quốc tế. Bởi thuế TNDN là thuế trực thu nên nó là đối
tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần.[21, tr.192]
Quan hệ pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là quan hệ thu, nộp thuế
phát sinh giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế có thu nhập được các quy phạm
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh.
Do quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp loại quan hệ pháp luât thuế cụ thể
nên cơ cấu chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế này xác định cụ thể bao gồm 2 loại
chủ thể sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện quyền thu thuế
Trong quan hệ pháp luật thuế TNDN, do là loại thuế nội địa và hoạt động tạo ra thu
nhập của đối tượng nộp thuế không bị giới hạn bởi địa giới hành chính nên chủ thể
được nhân danh Nhà nước thực hiện quyền thu thuế TNDN đối với đối tượng nộp

8

1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay
Hiện nay các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực thuế TNDN được điều chỉnh
bởi Luật thuế TNDN hiện hành. Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 được Quốc hội
thông qua vào ngày 03 tháng 06 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2009, được sửa đổi bổ sung bởi Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 ngày 09
tháng 6 năm 2013 và Luật thuế 71/2014/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của luật

9


về thuế. Luật thuế TNDN có 4 chương, 20 điều, trong đó chương 1 quy định về
những những quy định chung, chương 2 quy định về căn cứ và phương pháp tính
thuế, chương 3 quy định về ưu đãi thuế TNDN, chương 4 quy định về điều khoản
thi hành.
1.3.1. Người nộp thuế
Theo quy định tại khoản 1 điều 2 của luật thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 và Nghị định số 218/2013NĐ-CP ngày
26 tháng 12 năm 2013 thì: Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (gọi là doanh nghiệp) gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau
đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở
thường trú tại Việt Nam;
- Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
- Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có sơ
sở thường trú tại Việt Nam
- Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu

chịu thuế

Thu nhập
được

-

miễn thuế

Các
+

khoản lỗ

được kết chuyển
theo quy định

Thu nhập chịu thuế
Theo Khoản 2 Điều 7 Luật thuế TNDN hiện hành thì thu nhập chịu thuế

được xác định như sau:
Thu nhập
chịu thuế

=

Doanh
thu

Chi phí



đầu tư (trừ dự án thăm dò, khai thác khoáng sản) nếu bị lỗ thì số lỗ này được bù trừ
với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm cả thu nhập khác quy định tại
Điều 7 Thông tư số 78/2014/TT-BTC), sau khi bù trừ vẫn còn lỗ thì tiếp tục được
chuyển sang các năm tiếp theo trong thời hạn chuyển lỗ theo quy định.
- Đối với số lỗ của hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự
án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia thực hiện dự án đầu tư (trừ dự án thăm
dò, khai thác khoáng sản) của các năm 2013 trở về trước còn trong thời hạn chuyển
lỗ thì doanh nghiệp phải chuyển vào thu nhập của hoạt động chuyển nhượng bất
động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia thực hiện
dự án đầu tư, nếu chuyển không hết thì được chuyển lỗ vào thu nhập của hoạt động
sản xuất kinh doanh (bao gồm cả thu nhập khác) từ năm 2014 trở đi.
- Trường hợp doanh nghiệp làm thủ tục giải thể doanh nghiệp, sau khi có
quyết định giải thể nếu có chuyển nhượng bất động sản là tài sản cố định của doanh
nghiệp thì thu nhập (lãi) từ chuyển nhượng bất động sản (nếu có) được bù trừ với lỗ
từ hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm cả số lỗ của các năm trước được chuyển
sang theo quy định) vào kỳ tính thuế phát sinh hoạt động chuyển nhượng bất động
sản”.
 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Doanh thu theo quy định của luật thuế TNDN là toàn bộ tiền bán hàng, tiền
gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được
hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Doanh thu được
tính bằng đồng Việt Nam; trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi
ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh
doanh thu bằng ngoại tệ.
Căn cứ để xác định doanh thu là hóa đơn bán hàng. Tùy theo đối tượng là
hàng hóa, dịch vụ mà thời điểm xác định doanh thu có sự quy định khác nhau. Theo
điều 3 thông tư 96/2015/TT-BTC thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập

quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; có đủ hóa đơn, chứng
từ hợp pháp theo quy định của pháp luật; hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần
có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải
có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
 Các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
- Các khoản không đáp ứng được những điều kiện trên

14


- Trường hợp doanh nghiệp có chi phí liên quan đến phần giá trị tổn thất do thiên
tai, dịch bệnh, hỏa hoạn và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường thì
khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
- Chi khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Riêng tài sản cố định phục vụ cho người lao động
làm việc tại doanh nghiệp như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo,
nhà vệ sinh, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo, dạy nghề và
các thiết bị, nội thất đủ điều kiện là tài sản cố định lắp đặt trong nhà nghỉ giữa ca,
bể chứa nước sạch, nhà để xe, xe đưa đón người lao động, nhà ở trực tiếp cho người
lao động được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế; Tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của doanh nghiệp.
- Phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe
đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải
hành khách, du lịch, khách sạn); phần trích khấu hao đối với tài sản cố định là tài
bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển
hàng hóa, hành khách, du lịch.
- Trường hợp tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đang dùng
cho sản xuất kinh doanh nhưng phải tạm thời dừng do sản xuất theo mùa vụ với
thời gian dưới 09 tháng; tạm thời dừng để sửa chữa, để di dời di chuyển địa điểm,
để bảo trì, bảo dưỡng theo định kỳ, với thời gian dưới 12 tháng, sau đó tài sản cố

Bộ Tài chính về trích lập dự phòng: dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn
thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo hành
sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp và dự phòng rủi ro nghề nghiệp của doanh
nghiệp thẩm định giá, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập.
 Thu nhập khác
Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản
thu nhập này không thuộc các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký
kinh doanh của doanh nghiệp như: Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển
nhượng chứng khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng
quyền tham gia dự án đầu tư; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến
khoáng sản theo quy định của pháp luật; Thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng

16


tài sản bao gồm cả tiền thu về bản quyền dưới mọi hình thức trả cho quyền sở hữu,
quyền sử dụng tài sản; thu nhập về quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công
nghệ theo quy định của pháp luật; Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài
sản (trừ bất động sản), các loại giấy tờ có giá khác.
Khoản thu nhập này được xác định bằng (=) doanh thu thu được từ việc chuyển
nhượng tài sản, thanh lý tài sản trừ (-) giá trị còn lại của tài sản chuyển nhượng,
thanh lý tại thời điểm chuyển nhượng, thanh lý và các khoản chi phí được trừ liên
quan đến việc chuyển nhượng, thanh lý tài sản; Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay
vốn bao gồm cả tiền lãi trả chậm, lãi trả góp, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí
khác trong hợp đồng cho vay vốn; Khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; Thu
nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót phát hiện ra;
Trường hợp doanh nghiệp có khoản thu về tiền phạt, tiền bồi thường do bên đối tác
vi phạm hợp đồng hoặc các khoản thưởng do thực hiện tốt cam kết theo hợp đồng
phát sinh cao hơn khoản chi tiền phạt, tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng (các
khoản phạt này không thuộc các khoản tiền phạt về vi phạm hành chính theo quy


Bảng 1.1 Thuế TNDN tại một số nước Châu Á
35%
30%
25%
20%
15%
Series 1

10%
5%
0%

Nguồn: Misa.com.vn ngày 02/07/2016 [20]
Hàn Quốc quy định các mức thuế suất khác nhau cho các doanh nghiệp có
quy mô khác nhau theo tiêu chí: Doanh nghiệp càng nhỏ càng được ưu đãi. Mức
thuế suất trong bảng dành cho doanh nghiệp có vốn điều lệ hơn 20 tỷ won, doanh
nghiệp có vốn điều lệ từ 200 triệu - 20 tỷ won sẽ được hưởng thuế suất 22%. Doanh
nghiệp vốn dưới 200 triệu won (tương đương gần 175.000 USD) thì thuế chỉ còn
11% [20]

18


Singapore áp dụng thuế suất phổ thông là 17% trong đó giai đoạn từ năm
2013 – 2017 có giảm từ 30 -50% số thuế phải nộp với doanh nghiệp có doanh thu
bán hàng năm dưới 100 triệu đô la Singapore hoặc sử dụng dưới 200 lao động.
Thái Lan có thuế suất phổ thông là 20% trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thu nhập chịu thuế dưới 300.000 bath thì được miễn thuế, từ 300.000 bath đến
3.000.000 bath áp dụng mức thuế suất 15% [17]

x

Thuế suất thuế
TNDN

- Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài chuyển phần thu nhập sau khi
đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ngoài của doanh nghiệp về Việt Nam đối
với các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì thực hiện theo quy định

19


của Hiệp định; đối với các nước chưa ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì
trường hợp thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước mà doanh nghiệp đầu tư chuyển
về có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn thì thu phần chênh lệch
so với số thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
của Việt Nam.
- Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thu nhập từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh tại nước ngoài, thực hiện kê khai và nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của Việt
Nam, kể cả trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế
thu nhập theo quy định của nước doanh nghiệp đầu tư. Mức thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp để tính và kê khai thuế đối với các khoản thu nhập từ nước
ngoài là 20%, không áp dụng mức thuế suất ưu đãi (nếu có) mà doanh nghiệp
Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đang được hưởng theo Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp hiện hành.
- Trường hợp khoản thu nhập từ dự án đầu tư tại nước ngoài đã chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp (hoặc một loại thuế có bản chất tương tự như thuế thu nhập
doanh nghiệp) ở nước ngoài, khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt
Nam, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài được trừ số thuế đã nộp ở nước

sở hữu, hợp nhất, sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 3
tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với doanh nghiệp mới thành
lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước đó (đối với DN chuyển đổi loại hình DN) để hình
thành một kỳ tính thuế TNDN. Kỳ tính thuế TNDN năm đầu tiên hoặc kỳ tính thuế
TNDN năm cuối cùng không vượt quá 15 tháng.
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi kỳ tính thuế TNDN thì kỳ tính thuế
TNDN

của

năm

chuyển

đổi

không

vượt

quá

12

tháng.

DN đang trong thời gian được hưởng ưu đãi thuế TNDN mà có thực hiện chuyển
đổi kỳ tính thuế thì DN được lựa chọn: Ưu đãi trong năm chuyển đổi kỳ tính thuế
hoặc nộp thuế theo mức thuế suất phổ thông của năm chuyển đổi kỳ tính thuế và
hưởng ưu đãi thuế sang năm tiếp theo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status