Áp dụng hình phạt từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC THƯƠNG HIỀN

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC THƯƠNG HIỀN

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƯƠNG QUANG VINH

Hà Nội – 2017

Chương 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TRONG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC
GIANG ........................................................................................................... 61
3.1. Một số quan điểm về nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt trong xét xử
hình sự ............................................................................................................. 61
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong áp dụng hình phạt trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang ................................................................................................. 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CTTP

Cấu thành tội phạm

HĐXX

Hội đồng xét xử

TAND

và loại tội, với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ngày càng
tăng; tội phạm có tổ chức có xu hướng tăng; hành vi phạm tội chống đối người
thi hành công vụ mang tính manh động cao; tội phạm sử dụng vũ khí có chiều
hướng gia tăng, thủ đoạn phạm tội tinh vi, manh động, liều lĩnh, tội phạm giết
người mang tính dã man, tàn bạo, gây bức xúc trong xã hội… thì từ năm 2014
cho đến năm 2016 tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật dần được kiềm chế và
đặc biệt năm 2016 thì về tổng thể tình hình tội phạm có giảm.
Đạt được kết quả trên một phần là nhờ quan điểm quán triệt chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng và nhà nước ta theo Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW)
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến
hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [3]. Theo đó, nội dung quan trọng là nâng cao
chất lượng xét xử của Tòa, lấy Tòa án làm trung tâm, hoạt động xét xử là trọng
tâm của cải cách tư pháp. Trong cải cách tư pháp thì hoạt động xét xử hình sự,
trong đó có hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án là quan trọng nhất [4].
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, các trung tâm thủ
đô Hà Nội 50km, có diện tích tự nhiên 3.849,7 km², dân số 1.624.456 người
(tính đến năm 2014), gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố và 09
huyện), có 05 dân tộc anh em sinh sống là Kinh, Nùng, Sán Chay, Hoa và Tày.

1


Trong những năm gần đây, kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện
và đang dần khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh tế lớn thứ hai của
vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, trong các năm từ 2012 đến
2016, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì tình hình tội phạm trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang có diễn biến phức tạp về số lượng người phạm tội, quy mô,
phương thức, hành vi tội phạm tinh vi, trẻ hóa về độ tuổi phạm tội, không những

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đình Tuyên: “Quyết định hình phạt
trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam”, năm 2015;
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Minh Loan: “Áp dụng hình phạt theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiến huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội”,
năm 2017;
- Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài: “Bàn về áp dụng pháp luật trong công
tác xét xử”, Tạp chí TAND, số tháng 5/2005;
- Tác giả Chu Thị Trang Vân với bài: “Vai trò sáng tạo của Tòa án trong
thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự”, Tạp chí Lập pháp, số 27, tháng 9/2007;
- Tác giả Nguyễn Ngọc Chí với bài: “Chức năng của Tòa án trong tố tụng
hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà
Nội, năm 2009;
- Tác giả Trịnh Quốc Toản với bài: “Những kiến nghị và giải pháp hoàn
thiện hình phạt bổ sung trong Bộ luật hình sự 1999 và nâng cao hiệu quả của
chế định này trong thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học
26 (2010);
- Tác giả Trịnh Quốc Toản với bài: “Một số lý luận về hình phạt trong
Luật hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011);
- Tác giả Trịnh Tiến Việt và Trần Thị Quỳnh với bài: “Miễn hình phạt
theo Luật hình sự Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Luật học 27 (2011);
Tuy nhiên, cho đến hiện nay rất ít đề tài ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học
nghiên cứu cụ thể về “Áp dụng hình phạt” trên một địa bàn cụ thể. Do đó, việc chọn
vấn đề nghiên cứu của tác giải càng cho thấy ý nghĩa lý luận thực tiễn và sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng hình
phạt trong xét xử hình sự của Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nêu

3

nghĩa Mac – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử và lô gic,
phương pháp thống kê, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài là công trình nghiên cứu cơ bản và toàn diện ở cấp độ luận văn thạc
sĩ luật học về vấn đề áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân trong thực tiễn xét
xử. Đề tài đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về áp dụng hình phạt; cũng như
đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt của Tòa án trên địa bàn cụ thể là tỉnh Bắc
Giang. Qua đó, đưa ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình
phạt của Tòa án nhân dân trong thực tiễn xét xử.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm góp
phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự của TAND đáp ứng nhu
cầu công cuộc cải cách Tư pháp hiện nay.
Luận văn còn có thể làm tài liệu trong tham khảo của các cán bộ làm công
tác pháp luật, những tác giả nghiên cứu khoa học cũng như sinh viên và học viên
các của cơ sở đào tạo luật.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
kết cấu thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả trong áp

mới có quyền áp dụng hình phạt.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định
“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

6


Nam..”. Theo Từ điển Luật học năm 1999, xét xử là “hoạt động đặc trưng, là
chức năng, nhiệm vụ của Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất được đảm nhiệm
chức năng xét xử”. Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 cũng quy định
“Tòa án xét xử những vụ án hình sự…”.
Trong quá trình xét xử một vụ án hình sự, việc tuyên bố một người là có tội
và phải chịu hình phạt nhất thiết phải thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Một
người được coi là có tội khi người đó đã bị Tòa án xét xử và chịu hình phạt theo các
quy định của pháp luật bằng một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tương
tự như vậy, chủ thể mới của tội phạm (theo BLHS 2015) là pháp nhân thương mại
nếu thực hiện hành vi bị coi là tội phạm, xâm hại đến các quan hệ xã hội được Nhà
nước và pháp luật bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật bằng một bản án có hiệu lực của Tòa án.
Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước áp dụng pháp luật hình sự kết tội và
xử phạt đối với người thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhất định. Việc
xét xử của Tòa án (HĐXX) là sự kết hợp giữa áp dụng pháp luật nội dung (Bộ
luật hình sự) và áp dụng pháp luật hình thức (Bộ luật tố tụng hình sự) với mục
đích áp dụng hình phạt chính xác. Hoạt động áp dụng hình phạt dựa trên những
bước đi theo trình tự tố tụng chặt chẽ để quyết định chính xác trách nhiệm hình
sự nhằm bảo đảm nguyên tắc khách quan, công bằng, tạo ảnh hưởng tích cực
trong việc trừng trị kết hợp giáo dục, cải tạo người phạm tội thành công dân có
ích cho xã hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Như vậy, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án và áp dụng
hình phạt của HĐXX là một nội dung cụ thể, đặc biệt và quan trọng của hình

phạt có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng hình phạt trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự là
hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, do Tòa án tiến hành được thực hiện
bởi người có thẩm quyền là Hội đồng xét xử.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước

8


là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [14].
Trong việc thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất
có chức năng xét xử. Tòa án nhân danh nhà nước thông qua hoạt động áp dụng
hình phạt khi xét xử, cùng với các cơ quan tư pháp khác bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền tự
do, dân chủ của công dân..
Trong hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng hình phạt khi
xét xử các vụ án hình sự, Tòa án nhân dân phải tuân thủ các nguyên tắc chung
của tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, các nguyên tắc của tổ chức và hoạt
động tư pháp, các nguyên tắc đặc trưng cho hoạt động xét xử như: nguyên tắc
bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự; nguyên tắc xét xử công khai;
nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; nguyên tắc Thẩm
phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc hai cấp
xét xử; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án…
Chức năng xét xử vụ án hình sự của Tòa án được thực hiện thông quan
hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử, gồm: 01 Thẩm phán
và 02 Hội thẩm nhân dân đối với HĐXX sơ thẩm (nếu vụ án có tính chất nghiêm

hỏi, tranh luận, xem xét các chứng cứ…thể hiện rõ nét tính dân chủ của phiên
tòa. Trong vụ án hình sự, bị cáo được trình bày ý kiến của mình, đối đáp, tranh
luận với việc buộc tội của Viện kiểm sát.
Phiên tòa cũng là nơi Tòa án (HĐXX) kiểm tra lại một cách công khai
việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
trước đó đã thực hiện. Việc Tòa án tiến hành kiểm tra, đánh giá, xem xét các kết
quả áp dụng pháp luật trước đó càng thận trọng bao nhiêu thì việc áp dụng pháp
luật trong hoạt động xét xử của Tòa án càng chính xác bấy nhiêu.
Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại
phiên tòa cùng các kết quả tranh luận tại phiên tòa cũng như ý kiến của kiểm sát
viên và bị cáo được HĐXX lấy làm căn cứ để ban hành một bản án công khai. Bản
án công khai này là một văn bản áp dụng pháp luật đặc thù tổng hợp đầy đủ giá trị
pháp lý của các quy định pháp luật cả về hình thức lẫn nội dung, nhằm xác định
người bị buộc tội có tội hay không có tội. Như vậy, bản án là kết quả của hoạt động

10


áp dụng hình phạt của HĐXX tại phiên tòa, là sự bảo đảm cho việc kiểm tra, giám
sát hoạt động xét xử nói chung, hoạt động áp dụng hình phạt nói riêng của HĐXX.
Việc tuyên công khai bản án khẳng định tính minh bạch, nghiêm minh và khách
quan của HĐXX trong hoạt động tố tụng.
Thứ ba, áp dụng hình phạt trong xét xử hình sự của Tòa án phải tuân thủ
chặt chẽ về trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Theo nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình
sự, mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng (trong đó có Tòa
án), người tiến hành tố tụng tại giai đoạn xét xử vụ án hình sự (Thẩm phán,
HTND, Thư ký Tòa án) và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự [12].
Như vậy, hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án phải đúng quy định về

nước thông qua những thiết chế của nó thực hiện. Tương tự như vậy, áp dụng hình
phạt trong xét xử hình sự của Tòa án là một quá trình cá biệt hóa những quy phạm
pháp luật hình sự đối với người bị buộc tội (bị cáo).
Kết quả của quá trình cá biệt hóa những quy phạm pháp luật đó là bản án
hình sự. Bản án là văn bản áp dụng pháp luật cá biệt, chỉ áp dụng một lần, đối với
những bị cáo cụ thể và được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành,
được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Kết quả áp dụng hình phạt được tuyên trong bản án được xác định từ các
dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm được quy định trong luật và có sự viện dẫn
điều khoản cụ thể của BLHS. Cấu thành tội phạm là cơ sở duy nhất của việc
định tội danh, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để truy cứu trách
nhiệm hình sự. Cấu thành tội phạm là mô hình chung nhất cho tất cả các hành vi
nguy hiểm cho xã hội cùng loại. Nó không đề cập tới tất cả các dấu hiệu, đặc
điểm của tội phạm ấy mà chỉ đề cập tới tất cả các dấu hiệu điển hình nhất, cần và
đủ trong các hành vi tội phạm cùng loại đó và thể hiện bản chất của tội phạm đó.
Trong một vụ án, việc xác định các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là đủ cho
việc định tội đối với một hành vi phạm tội cụ thể.
Sau khi định được tội danh, HĐXX phải quyết định hình phạt, trong
khoảng mà điều luật đối với tội danh đó quy định. Khi quyết định hình phạt, Tòa
án phải tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định

12


hình phạt. BLHS chỉ đề cập các căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 45 BLHS,
thứ nhất là quy định của BLHS, thứ hai là tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội, thứ ba là nhân thân người phạm tội, thứ tư là các tình tiết tăng
nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, còn có một số căn cứ khác như:
nguyên tắc xử lý (Điều 3 BLHS), miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25 BLHS),
miễn hình phạt (Điều 54 BLHS), chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52

dụng hình phạt, HĐXX cần nghiên cứu từng trường hợp cụ thể, của từng bị cáo
cụ thể để có thể áp dụng một mức hình phạt thông qua nguyên tắc cá thể hóa
hình phạt đối với người phạm tội.
Ngoài ra tính sáng tạo còn thể hiện ở việc, Tòa án khi nghiên cứu hồ sơ vụ án
và trường hợp phạm tội cụ thể có thể quyết định miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt hoặc áp dụng hình phạt chính hay hình phạt bổ sung với bị cáo.
1.1.2.2. Vai trò của áp dụng hình phạt
Một, hoạt động áp dụng hình phạt là một hoạt động, thể hiện ở việc Tòa
án tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự để tuyên
một hình phạt đảm bảo tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật với người
phạm tội bị kết án.
Hai, áp dụng hình phạt trong xét xử của TAND góp phần tích cực vào
việc bảo vệ các quyền con người và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm,
thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại Điều 1 BLHS 1999.
Ba, áp dụng hình phạt trong xét xử của TAND có vai trò to lớn trong việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Bốn, áp dụng hình phạt trong xét xử của TAND có vai trò quan trọng
trong việc nâng cao ý thức pháp luật đối với nhân dân.
Năm, áp dụng hình phạt của TAND có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
các chính sách của nhà nước và đường lối của Đảng công sản Việt Nam.
1.1.2.3. Ý nghĩa của áp dụng hình phạt
Thứ nhất, áp dụng hình phạt đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích
của hình phạt
Điều 27 BLHS 1999 quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị
người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức
tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa

14



15


Hiệu quả của hình phạt là mức độ đạt được mục đích của hình phạt trên cơ
sở sự dụng tối thiểu cần thiết yếu tố cưỡng chế [30] Như vậy, nói đến hiệu quả
của hình phạt cần nói đến: Mức độ đạt được cao, thấp hay không đạt được của
mục đích hình phạt, mức độ cưỡng chế được sử dụng và mức độ chi phí vật chất
cùng các chi phí khác.
Để bảo đảm hiệu quả hình phạt cần các yếu tố như yếu tố thuộc công tác
lập pháp (quy định hình phạt), những yếu tố thuộc áp dụng hình phạt, những yếu
tố trong quá trình chấp hành hình phạt và những điều kiện xã hội trực tiếp liên
quan đến hình phạt. Trong đó, những yếu tố thuộc áp dụng hình phạt (hay các
hoạt động áp dụng hình phạt) mang tính quyết định và quan trọng nhất trong việc
đảm bảo và nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt. Áp dụng hình phạt đúng
phụ thuộc vào hiệu quả của việc Tòa án vận dụng các nguyên tắc luật hình sự khi
áp dụng hình phạt như: Nguyên tắc pháp chế XHCN; Nguyên tắc nhân đạo
XHCN; Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt; Nguyên tắc công bằng. Dựa vào căn cứ
nào để áp dụng hình phạt. Làm rõ những vấn này về lý luận giúp cho việc nâng
cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án cũng như hiệu quả của hình phạt. Do
đó, các yếu tố thuộc về xây dựng hệ thống pháp luật chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi
hình phạt được quyết định đúng và đảm bảo tốt việc chấp hành hình phạt.
Tóm lại, việc Tòa án áp dụng hình phạt đúng khi tuân thủ các nguyên tắc
và căn cứ luật định góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt. Hiệu quả của hình
phạt phụ thuộc vào mức độ tuân thủ các nguyên tắc đó và đánh giá các căn cứ
luật định của Tòa án trong thực tế từng vụ án cụ thể.
Thứ ba, áp dụng hình phạt đúng là điều kiện đảm bảo tính khả thi của hệ
thống hình phạt
Hệ thống hình phạt là một chỉnh thể bao gồm những hình phạt được quy
định trong Bộ luật hình sự, có phương thức liên kết với nhau theo một trật tự
tăng dần về tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt.

đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự: “Mọi hoạt động tố tụng
hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham
gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”.
Bản án hình sự được HĐXX tuyên là kết quả của họat động áp dụng hình
phạt dựa trên các quy định được ghi nhận trong pháp luật hình sự. Hình phạt áp

17


dụng có đúng, công bằng mới tạo được lòng tin và tác động được tới ý thức chấp
hành pháp luật của công dân, khiến cho không chỉ người bị kết án mà những
công dân khác thấy rõ được tính nghiêm minh của hình phạt, tính bảo vệ của
pháp luật đối với đời sống, từ đó có niềm tin vào pháp luật, tự giác chấp hành
pháp luật, có ý thức chủ động và tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng
ngừa và phòng chống tội phạm, góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nước
CHXH chủ nghĩa Việt Nam.
1.2. Trình tự áp dụng hình phạt, giới hạn áp dụng hình phạt và các
căn cứ áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân

1.2.1. Trình tự áp dụng hình phạt
Việc áp dụng hình phạt tại Tòa án phải thông qua các giai đoạn tố tụng
hình sự được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt. Toàn bộ quá trình tố tụng
hình sự đưa đến việc Tòa án xét xử để định tội và áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội đều do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước tiến hành, đó
là: Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm; Viện kiểm sát
thực hiện công tác kiểm sát điều tra, thực hiện quyền công tố của Nhà nước,
thay mặt nhà nước truy tố bị can và buộc tội bị cáo trước Tòa án. Còn Tòa án
thực hiện hoạt động xét xử theo trình tự luật tố tụng hình sự quy định..
Quy trình của quá trình áp dụng hình phạt chính là việc Tòa án phải xác
định tội danh đối với bị cáo bị đưa ra xét xử, sau đó quyết định áp dụng một

phạt chính xác, có phân biệt phù hợp với từng trường hợp phạm tội và nhân
thân người phạm tội cụ thể giúp cho hình phạt được áp dụng đạt được kết quả
mong muốn. Nhưng điều này cũng dễ dẫn đến sự tùy tiện, thiếu thống nhất,
bất bình đẳng trong thực tiễn xét xử và như vậy làm ảnh hưởng đến hiệu quả
của việc áp dụng hình phạt. Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn đó, về mặt lập
pháp phải làm thế nào để quy định một phạm vi hợp lý tối ưu; về mặt tổ chức,
quản lý phải xây dựng được một đội ngũ thẩm phán tinh thông nghiệp vụ và
có ý thức pháp luật; về thực tiễn phải tăng cường công tác tổng kết kinh
nghiệm để kịp thời có những hướng dẫn xét xử phù hợp.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status