ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN THÁI
Tên chuyên đề:
NGHIÊN CỨU SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LANDRACE NUÔI
TẠI TRẠI CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính qui
Chuyên ngành
: Chăn nuôi Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y,
cùng các thầy cô giáo trong khoa, đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập. Đặc biệt, thầy giáo hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Phùng đã chỉ bảo
và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chú Phạm Đức Hùng – chủ trại và
tập thể cán bộ nhân viên, ban lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật và các anh, chị công
nhân viên tại trại công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm
Khê, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
tại cơ sở.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ
vũ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và
thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu
khoa học.
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em
kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Văn Thái
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Nxb
: Nhà xuất bản
PGS.TS
: Phó giáo sư tiến sĩ
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TT
: Thể trọng
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ............................................ iii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iv
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề .......................................................................................................... 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của chuyên đề..................................................................... 1
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................... 2
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ............................................................................ 2
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập. ............................... 2
4.2.1 Kết quả theo dõi về số lượng lợn con .......................................................44
4.2.2. Tỷ lệ nuôi sống lợn con qua từng giai đoạn ..............................................45
4.2.3. Kết quả theo dõi về khối lượng lợn con của đàn nái Landrace ...............46
4.2.4 Kết quả theo dõi về sản lượng sữa của lợn nái...........................................47
4.2.5. Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh của lợn nái Landrace sinh sản......47
4.2.6 Kết quả theo dõi về tình hình mắc bệnh của lợn con ................................49
4.2.7 Kết quả về các chỉ tiêu về kinh tế ................................................................51
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.....................................................................52
5.1. Kết luận ............................................................................................................52
5.2. Đề nghị .............................................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................54
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đóng vai trò
quan trọng trong hệ thống chăn nuôi. Lợn là loài gia súc được nuôi nhiều và
cung cấp lương thực lớn nhất cho con người.
Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chăn nuôi chưa phát triển,
năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm không cao. Kết quả này một
phần là do khó khăn về điều kiện tự nhiên, nhưng quan trọng hơn là do kỹ
thuật chăn nuôi còn hạn chế, hơn thế nữa các giống lợn được sử dụng cho
chăn nuôi có khả năng sản suất và chất lượng sản phẩm chưa cao.
Để chăn nuôi đàn lợn ngoại đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức
ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi... thì một yếu tố hết sức quan trọng cần
được đảm bảo là phải có đàn giống tốt.
Tuy nhiên, các giống lợn ngoại được nuôi phổ biến tại các trang trại ở
nước ta chủ yếu là nuôi sinh sản để sản xuất thương phẩm, do đó việc kiểm
- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa, ranh giới là ngòi Giành - một chi lưu nhỏ
của dòng sông Thao.
Huyện có 31 đơn vị hành chính. Dân số huyện Cẩm Khê gần 13 vạn
người, tổng diện tích tự nhiên là 234,55 km².
2.1.1.2. Đặc điểm khí hậu
Theo phân vùng của Nha khí tượng thuỷ văn thành phố, trại lợn của công
ty TNHH Phương Hà nằm trong vùng có khí hậu đặc trưng của khu vực đó là
nóng ẩm vào mùa hè, có mùa đông lạnh, mưa nhiều điển hình của kiểu khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Hướng vòng cung của các dãy núi tạo thành hành lang
hút gió rất mạnh, đón nhận trực tiếp khối không khí lạnh từ phương bắc tràn
xuống làm cho mùa đông đến sớm, kết thúc muộn, nền nhiệt bị hạ thấp. Khí
hậu vùng này thích hợp cho thực vật nhiệt đới như chè, thuốc lá, hồi. Tuy
3
nhiên, thời tiết khu vực này hay nhiễu động trong năm gây ra những khó khăn
đáng kể, nhất là vào các thời kỳ chuyển tiếp.
Nhiệt độ trung bình: 23ºC, ẩm độ trung bình: 85 - 87%.
Tổng lượng mưa: 1.800 mm.
+ Mùa mưa: Nóng ẩm, mưa nhiều.
+ Mùa khô: Thời tiết khô, rét, ít mưa.
2.1.1.3. Kinh tế xã hội
Cẩm Khê có lợi thế nhiều hồ, đầm lớn và đồng chiêm trũng với diện tích
mặt nước là 3.370 ha và diện tích trồng lúa một vụ là 1.900 ha. Rất thuận lợi
cho nuôi trồng thuỷ sản. Bởi vậy mà nhiều tôm, cá và thuỷ sản khác. Nghề cá
nuôi ở Cẩm Khê xuất hiện từ rất sớm. Với sản lượng 2.200 tấn cá hàng năm,
cá Cẩm Khê không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn có mặt ở các tỉnh,
thành phố khác.
Cẩm Khê đã có đề án phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó, người
chăn nuôi được hỗ trợ về giống, vốn và kỹ thuật. Đề án đã tạo nên phong trào
2
Lao động trực tiếp có 26 người
+ 2 kỹ sư chăn nuôi
+ 24 công nhân
2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại
- Hệ thống chuồng trại
Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát
nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh. Xung
quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để
ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào. Chuồng nuôi được xây dựng
theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông
và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước, có 3
chuồng đẻ mỗi chuồng có 120 ô chuồng, 1 chuồng bầu có 1056 ô chuồng, 4
chuồng cách li với 40 con/chuồng và 1 chuồng đực với 20 ô chuồng, mỗi
chuồng đều có lối đi ở giữa.
Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông. Các
chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động,
mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và vòi phun nước trên mái. Mùa
đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại.
5
Tổng diện tích của trang trại là 5 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi,
1 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại
gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác.
Hệ thống nước sạch được lấy từ suối đầu nguồn về bể lớn rồi được xử lý
bằng chlorine với nồng độ khoảng 3 - 5 ppm. Sau đó nước được đưa tới các ô
chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn. Nước tắm cho
các ngành các cấp liên quan như: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Trung tâm khuyến nông, Công ty vật tư nông nghiệp, Chi cục thú y tỉnh, Sở
Tài nguyên và môi trường, Hiệp hội chăn nuôi tỉnh Phú Thọ, giúp đỡ và tạo
điều kiện cho trại chăn nuôi phát triển.
Ban lãnh đạo trại có năng lực, trình độ cao, nhiệt tình. Cán bộ kỹ thuật
giỏi, công nhân lao động, năng động, có tinh thần trách nhiệm và kinh nghiệm
cao. Toàn bộ cán bộ công nhân viên của trại là 1 tập thể đoàn kết có ý thức
trách nhiệm cao và lòng yêu nghề.
Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất
và nâng cao đời sống cho cán bộ, nhân viên.
2.1.4.2. Khó khăn
Trại chăn nuôi nằm trên địa bàn hiểm trở, thời tiết diễn biến phức tạp,
thường xuyên xảy ra rét đậm, rét hại, nguy cơ hạn hán, thiên tai, dịch bệnh có
thể xảy ra trên diện rộng, nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn,
không triệt để, chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tới giá thành
chăn nuôi.
Do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản
xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên lâu thu hồi vốn, mặt khác để đầu tư
cho một chu kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn.
7
Do nguồn nước có nhiều đá vôi, đây cũng là nguyên nhân không nhỏ gây
ảnh hưởng cho sức khỏe của đàn lợn.
- Cơ sở vật chất đã được sử dụng lâu năm nên một số bị xuống cấp tốn
nhiều chi phí cho việc sản xuất.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành tục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo ảnh hưởng
tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của
chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục.
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi
động dục. Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông,
điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi gắn liền với mức tăng
trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự do thì xuất
hiện thành thục sớm hơn nhũng con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa
xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp
hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục
về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112
giờ mỗi ngày.
+ Mật độ nuôi nhốt: mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong
suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Nhưng cần tránh nuôi cái
hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc
nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm thành thục động dục so
với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm. Bên cạnh những yếu tố trên thì đực
9
giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tuổi động dục của lợn cái
hậu bị. Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh thành
thục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống. Lợn cái hậu bị ngoài 90
kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp
xúc 15 – 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu.
* Sự thành thục về thể vóc
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể
chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn
định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính.
Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên.
cm và có đường kính ngoài 2 – 3 cm.
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [6]: tử cung có nhiều chức năng.
Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản
xuất bao gồm các chức năng sau: vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng
của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ.
- Âm đạo: có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm. Đây
là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử
cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ.
- Bộ phận sinh dục bên ngoài: là phần có thể sờ thấy và quan sát được,
bao gồm âm môn, âm vật và tiền đình.
2.2.1.3 Chu kỳ động dục
Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [19]: Gia súc phát triển đến một giai
đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục. Lợn nái khi thành thục về tính sẽ
xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng. Đồng
thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc. Tuy
nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kì động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm
11
mức tăng trọng so với bình thường. Chu kì động dục của lợn nái được chia
thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục: lúc này buồng trứng của lợn nái bắt đầu có
các noãn phát triển, đồng thời buồng trứng tăng cường tiết oestrogen, bầu vú
cũng dần phát triển. Giai đoạn này kéo dài từ 2 - 3 ngày.
- Giai đoạn động dục: buồng trứng có các noãn bao, bắt đầu chín và chuẩn bị
rụng. Đồng thời kèm theo các triệu chứng bên ngoài như lợn bắt đầu kêu la, phá
chuồng, bỏ ăn và đi tìm con đực. Âm hộ dần dần sưng lên và xuất hiện màu cà
chua chín và chuyển sang màu mận chín và lúc này trứng chín rụng xuống loa
kèn. Lợn ở vào trạng thái mê ì. Thời gian này thường kéo dài từ 3 - 5 ngày.
- Giai đoạn sau động dục: lợn bắt đầu trở lại bình thường, các triệu
dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định thời điểm phối tinh thích
hợp cho chúng. Biểu hiện của chu kỳ động dục: khi động dục lợn nái biểu
hiện không yên tĩnh: kêu la, phá chuồng, tìm đực, nhảy lên lưng con khác, âm
hộ xung huyết đỏ tươi, thích gần con đực. Nếu ta ấn tay lên lưng thì nó đứng
yên, đuôi cong lên thích giao phối. Nhưng cũng có lợn nái biểu hiện động dục
không rõ nét. Đối với những trường hợp này phải theo dõi để quyết định thời
điểm phối thích hợp. Hoặc dùng lợn đực thí tình hay sử dụng con đực để phát
hiện thời điểm phối thích hợp, tránh nhỡ thời điểm phối giống, để nâng cao
khả năng sinh sản. Qua hình biểu diễn các hàm lượng hormone ở dưới đây
cho chúng ta thấy sự thay đổi của các hormone khác nhau qua các ngày trong
chu kì động dục của lợn nái. Trong thời kì động dục, hàm lượng hormone của
lợn nái thay đổi, oestrogen tăng mạnh từ ngày thứ 10 và cao nhất ở ngày 20 21 (29 – 30 ng/ml trong huyết thanh), sau đó giảm dần xuống 7 - 8 ở ngày thứ
8 sau động dục. Hàm lượng prostaglandin trong tĩnh mạch tử cung thay đổi và
đột nhiên tăng cao ở ngày 15 (6 ng/ml), trong khi bình thường tỷ lệ này 0,3 -
13
0,5 ng/ml. Hormone progesterone tăng tiết từ ngày 1 đến 13 (32 ng/ml) trong
huyết thanh và giảm dần và xuống tỷ lệ thấp nhất ở ngày thứ 20, chỉ còn 0,8 1ng/ml. Hàm lượng prolactin huyết thanh thay đổi liên tục từ ngày 13 đến
ngày thứ 5 sau chu kì động dục biến động lên đến 15 ng/ml và sau 1 ngày
xuống lại 1,5 - 1,8ng/ml, cứ thay đổi lên xuống theo chu kì 2-3 ngày nhưng ở
ngày đầu chu kì từ 2 - 13 có hàm lượng thấp 1,8ng/ml. FSH và LH thay đổi
và khi động dục tỷ lệ FSH/LH = 1/3. Sau khi phối tinh được 15 phút, tinh
trùng vận động đến tử cung lợn cái, sau 1 - 2 h tinh trùng sẽ vận chuyển đến
vị trí thụ tinh thích hợp (1/3 phía trên của ống dẫn trứng). Thời gian sống của
tinh trùng trong đường sinh dục của con cái khoảng 12 - 20 h. Số tinh trùng
cần cho lần phối tinh để có tỷ lệ thụ thai cao là 3 tỷ. Tế bào trứng, sau khi
xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên khoảng 40 - 48 h thì tế bào trứng bắt
đầu rụng (cuối giai đoạn T1, đầu T2) lúc lợn cái biểu hiện "mê ì". Thời gian
rụng trứng của lợn nái kéo dài 8 - 12 h. Sau khi trứng rụng xuống loa kèn,
- Mùa vụ:
Mùa vụ có ảnh hưởng đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa
và tuổi đẻ lứa đầu. Số con sơ sinh sống và số con cai sữa ở mùa xuân đều cao
hơn so với các mùa khác. Tuổi đẻ lứa đầu ở mùa xuân sớm hơn mùa hạ và
mùa thu nhưng lại cao hơn so với mùa đông. Kết quả này cho thấy, cần thực
hiện các biện pháp kỹ thuật tốt hơn nữa để nâng cao năng suất chăn nuôi
trong mùa hạ (mùa nắng nóng).
- Chế độ dinh dưỡng:
Anderson (1967) [20] tiến hành 9 thí nghiệm mức ăn hạn chế về
năng lượng đã làm chậm tuổi thành thục về tính dục 16 ngày. Nhưng ở 5
thí nghiệm khác mức ăn hạn chế làm cho tuổi thành thục về tính dục sớm
hơn 11 ngày. Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau trong thực tiễn sản
xuất người ta thấy cần nuôi dưỡng lợn nái sao cho không quá béo, không
15
quá gầy, mức độ dinh dưỡng cho lợn cái tùy thuộc vào giống, tuổi, thời
tiết mùa vụ......
- Sự có mặt của lợn đực:
Sự có mặt của lợn đực đã đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có
trứng rụng. Brooks (1976) [21] cho biết có thể sử dụng những con đực đã
thành thục về tính dục để thúc đẩy sự thành thục về tính sớm hơn đối với
những lợn cái hậu bị. Như vậy, hầu hết các nhân tố giống, chế độ dinh dưỡng,
mùa vụ, sự có mặt của lợn đực, đều có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát dục của
lợn nái, từ đó sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản.
2.2.1.4. Qúa trình sinh trưởng và phát triển của bào thai
Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và
nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai. Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và
trên con.
với nái chửa trong 3 tuần đàu sau khi thụ tinh.
- Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày).
Thời kỳ này nhau thai phát triển đày đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra
mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới. Ở cuối thời kỳ này, hàu hết các cơ
quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam.
- Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày).
Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai. Các cơ quan bộ phận
được hoàn chỉnh dần. Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt. Đặc
điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện (khoang, đốm, loang...). Khối
lượng của bào thai tăng mạnh, đặc biệt từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất
mạnh. Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước.
2.2.1.5. Đặc điểm lợn nái chửa
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [7]: thời gian chửa của lợn trung bình là
114 ngày, dao động trong vòng từ 111 ngày đến 118 ngày chia làm hai giai đoạn:
17
+ Giai đoạn chửa kỳ I: từ lúc phối giống có chửa đến ngày chửa thứ 84.
Bào thai phát triển chậm, chỉ chiếm 1/4 khối lượng lợn con lúc sơ sinh.
+ Giai đoạn chửa kỳ II: từ ngày 84 đến khi đẻ, bào thai lớn nhanh chiếm
3/4 trọng lượng sơ sinh.
Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II
được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày.
- Giai đoạn 2: 100 -114 ngày.
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau. Đặc biệt chú
ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý.
Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát hiển của
bào thai. Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì
vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng. Trong thời kỳ
thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú mẹ của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau
đó đột nhiên nằm im hoàn toàn và tiến hành bú. Sữa tiết ra thể hiện rõ nhất
lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thằng vào
đầu vú, nằm yên mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ. Do thời gian tiết sữa của
lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 – 30 giây nên một ngày lợn con phải bú nhiều
lần mới đủ so với nhu cầu. Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ
20 – 25 lần/ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra khoảng 25 – 35 gam/con.
Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc
21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần.
* Đặc điểm sữa lợn mẹ:
Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, sữa lợn mẹ được tiết ra
trong vòng 2 – 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu. Sữa đầu có đặc điểm là
màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết. Thành phần dinh dưỡng của