Nghiên cứu khả năng sản xuất của 3 tỏ hợp đực lai cuối cùng (pietrain x duroc, pietrain x landrace, duroc x landrace) và sức sản xuất của lợn lai thương phẩm tại thái nguyên - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA 3 TỔ
HỢP ĐỰC LAI CUỐI CÙNG (PIETRAIN X DUROC,
PIETRAIN X LANDRACE, DUROC X LANDRACE)
VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN LAI THƯƠNG PHẨM
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA 3 TỔ
HỢP ĐỰC LAI CUỐI CÙNG (PIETRAIN X DUROC,
PIETRAIN X LANDRACE, DUROC X LANDRACE)
VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN LAI THƯƠNG PHẨM
TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. NGUYỄN VĂN BÌNH
2. TS. TRẦN TRANG NHUNG
Thái Nguyên - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1. Lai giống và ưu thế lai 4
1.1.1.1. Lai giống 4
1.1.1.2. Ưu thế lai 5
1.1.2. Đặc điểm và tính năng sản xuất của một số giống lợn ngoại nhập nội
trong nghiên cứu của đề tài 8
1.1.2.1. Lợn Duroc Jersey (còn gọi là lợn Duroc) 8
1.1.2.2. Lợn Pietrain 10
1.1.2.3. Landrace 12
1.1.3. Năng suất sinh sản của lợn đực giống 14
iv
1.1.3.1. Đặc điểm hoạt động sinh lý sinh dục của lợn đực giống 14
1.1.3.2. Đặc điểm và thành phần hóa học của tinh dịch lợn 17
1.1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá phẩm chất tinh dịch 19
1.1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch 22
1.1.3.5. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn đực giống 23
1.1.4. Năng suất sinh trưởng và cho thịt của lợn 24
1.1.4.1. Một số quy luật sinh trưởng phát dục của lợn 24
1.1.4.2. Các phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn 25
1.1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn 26
1.1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt của lợn 29
1.1.4.5. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt của lợn 34

2.3.1.5. Phương pháp xác định hiệu quả phối giống của ba tổ hợp đực lai PD,
PL và DL 51
2.3.2. Nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai thương phẩm của ba tổ hợp
đực lai 53
2.3.2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm kiểm tra khả năng sinh trưởng của con lai
thương phẩm của ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL 53
2.3.2.2. Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn 53
2.3.2.3. Phương pháp nghiên cứu đánh giá khả năng cho thịt và độ dày
mỡ lưng 54
2.3.3. Phương pháp xác định ưu thế lai tổng thể 55
2.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 56
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 57
vi
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA BA TỔ
HỢP ĐỰC LAI PD, PL VÀ DL 57
3.1.1. Khả năng sinh trưởng 57
3.1.1.1. Sinh trưởng tích luỹ 57
3.1.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày) 59
3.1.1.3. Sinh trưởng tương đối 61
3.1.2. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng 62
3.1.3. Độ dày mỡ lưng 64
3.1.4. Phẩm chất tinh dịch 65
3.1.5. Hiệu quả phối giống 70
3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA
CON LAI THƯƠNG PHẨM CỦA BA TỔ HỢP ĐỰC LAI 73
3.2.1. Khả năng sinh trưởng 73
3.2.1.1. Sinh trưởng tích luỹ 73
3.2.1.2. Sinh trưởng tuyệt đối của con lai thương phẩm 75
3.2.1.3. Sinh trưởng tương đối của con lai thương phẩm 77
3.3.2. Khả năng cho thịt 79

Cái
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của tinh dịch lợn 19
Bảng 1.2: Thang điểm đánh giá hoạt lực của tinh trùng 20
Bảng 2.1: Công thức lai tạo đực lai F1 47
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 53
Bảng 3.1. Khả năng sinh trưởng tích luỹ của ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL 58
Bảng 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL
(g/con/ngày) 59
Bảng 3.3. Sinh trưởng tương đối của ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL qua các
giai đoạn nuôi (%) 61
Bảng 3.4. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của ba tổ hợp đực lai PD, PL
và DL 62
Bảng 3.5. Độ dày mỡ lưng của ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL 64
Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch của va tổ hợp đực lai PD,
PL và DL được thể hiện ở Bảng 3.6 như sau: 65
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá phẩm chất tinh dịch của ba tổ hợp đực giống lai PD,
PL và DL 65
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra khả năng sinh sản của ba tổ hợp đực lai PD, PL
và DL 71
Bảng 3.8. Sinh trưởng tích luỹ của con lai thương phẩm 73
Bảng 3.9. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thương phẩm qua các giai đoạn nuôi
(g/con/ngày) 76
Bảng 3.10. Sinh trưởng tương đối của lợn qua các giai đoạn nuôi (%) 78
Bảng 3.11. Kết quả mổ khảo sát của con lai thương phẩm 80
Bảng 3.12. Ưu thế lai tổng thể của một số tính trạng ở con lai thương phẩm so
với ba tổ hợp đực lai PD, PL và DL (%) 82
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH

Nam trước đây (nay trực thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương) được
sử dụng trong các công thức lai cuối cùng tạo ra lợn lai thương phẩm 4 và 5
máu có tỷ lệ nạc từ 58-59%. Công ty France Hybrid cũng liên tục đưa ra hàng
loạt các dòng đực với nhiều mục đích sử dụng khác nhau như các dòng SP15,
SP16… Tóm lại, việc sử dụng đực lai nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
của đàn lợn thương phẩm là một hướng đi đúng đắn, mang lại hiệu quả cao.
Chính vì vậy, việc sử dụng đực lai cuối cùng trong hệ thống sản xuất lợn
thịt thương phẩm ngày càng được quan tâm nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu các dòng đực cuối cùng trong nước mới chỉ dừng lại ở việc xác
định tổ hợp lai và chuyển giao cho sản xuất các công thức lai giữa các dòng bố
thuần (đực lai Duroc x Pietrain, Landrace x Yorkshire). Xuất phát từ yêu cầu
của thực tiễn sản xuất và đòi hỏi của người chăn nuôi là cần có nhóm đực lai
khác nhau, phù hợp cho từng vùng chăn nuôi với điều kiện kinh tế khác nhau,
vậy nên việc nghiên cứu đánh giá các tổ hợp đực lai cuối cùng phù hợp cho
từng vùng chăn nuôi là hết sức cần thiết.
Hiện nay, ở tỉnh Thái Nguyên cũng đã có nhiều nguồn đực lai khác nhau
được sử dụng trong việc tạo con lai thương phẩm. Tuy nhiên, các đực lai này
mới chỉ dừng lại ở việc bước đầu tạo các tổ hợp lai đưa vào sản xuất, việc
nghiên cứu đánh giá chất lượng các nguồn đực lai hiện có để đưa ra các tổ hợp
2
đực lai cuối cùng có năng suất chất lượng cao phù hợp cho tỉnh Thái Nguyên
thì chưa được nghiên cứu nào đề cập đến.
Từ các vấn đề trên, trong nghiên cứu này việc đánh giá khả năng sản xuất
của các tổ hợp đực lai cuối cùng qua nhiều thế hệ để có năng suất, chất lượng
cao và ổn định các đặc tính di truyền về năng suất, về các đặc điểm ngoại hình
đáp ứng thị hiếu người chăn nuôi là hết sức cần thiết và đã được các nhà nghiên
cứu chuyên ngành đề cập tới.
Với tính cấp thiết đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
khả năng sản xuất của 3 tổ hợp đực lai cuối cùng (Pietrain x Duroc, Pietrain
x Landrace, Duroc x Landrace) và sức sản xuất của lợn lai thương phẩm tại

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Lai giống và ưu thế lai
1.1.1.1. Lai giống
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của
quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối
với một số tính trạng nhất định.
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều
giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa các động vật thuộc các
dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết
thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương
tự nhau (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995 [18])
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn
tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên.
Các phương pháp lai phổ biến
- Lai cải tạo: là phương pháp dùng một lợn cao sản, thường là giống nhập
nội để cải tạo hẳn đặc điểm di truyền của giống địa phương. Giống lợn dùng để
cải tạo giống kia gọi là giống đi cải tạo và giống địa phương được cải tạo gọi là
giống bị cải tạo.
- Lai kinh tế: là lai giữa hai cá thể, hai dòng khác giống, khác loài hoặc
khác cá thể của hai dòng phân hóa về di truyền cũng như hai dòng cận huyết
trong cùng một giống. Các con lai sinh ra không dùng để làm giống mà dùng
làm thương phẩm.
- Lai luân chuyển: là một bước phát triển của lai kinh tế và được hiểu như là
một hệ thống lai có sự tham gia của hai giống (dòng) trở lên. Trong phép lai này
luôn luôn thay đổi con đực giống nên có thường xuyên sản phẩm F1, tức là luôn
5
có tổ hợp gen mới mong muốn để giữ hay tăng ưu thế lai. Như vậy con lai nào tốt
được giữ lại để tiếp tục sử dụng, con lai được dùng vào mục đích sản xuất mà chủ

- Ưu thế lai của đực giống lai.
b) Đối với đàn lợn đực giống
Người ta đã cho phối giống tạp giao giữa các giống lợn. Đây là phương
thức chính để sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, tạp giao pha máu thường áp
dụng trong các trường hợp khi đã có một giống vật nuôi mà tính năng sản xuất
của nó tương đối tốt, nhưng nó vẫn còn một số nhược điểm nào đó. Nếu áp
dụng biện pháp chọn lọc nhân thuần để cải tiến nhược điểm này thì mất rất
nhiều thời gian. Khi đó, chúng ta có thể dùng giống vật nuôi này (bị pha máu)
và giống vật nuôi khác có các ưu điểm mà giống kia không có để làm giống (đi
pha máu). Đem con giống này tạp giao pha máu với nhau tạo thành con lai để
làm giống luôn có sức sống cao hơn, sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.
c) Đối với lợn lai thuộc các công thức lai
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế cho thấy, việc lai giống đã mang lại
hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi lợn. Hiện nay trên thế giới ở những
nước phát triển, trong chăn nuôi lợn, người ta sử dụng tới 99% con giống
thương phẩm là con lai. Tuy nhiên việc kết hợp giữa lai giống nào có ưu thế lai
cao còn phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên
giá trị giống.
Để có được đàn lợn lai nuôi thịt có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn
thức ăn/kg tăng trọng thấp, tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai còn
được tổ chức theo sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa nhiều
dòng giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau:
- Đàn cụ kỵ (GGP - Great Grand Parents): có nhiệm vụ nhân các dòng,
giống thuần.
7
- Đàn ông bà (GP - Grand Parents): lai giữa hai dòng, hai giống thuần với
nhau tạo ra đời ông bà. Nếu dùng công thức lai giữa bốn dòng giống khác nhau,
cần có hai đàn ông bà khác nhau, một đàn ông bà tạo ra dòng bố, còn đàn kia
tạo ra dòng mẹ. Còn nếu sử dụng công thức lai giữa ba dòng khác nhau, chỉ cần
một đàn ông bà, đàn này thường xuyên dùng để tạo ra dòng mẹ, còn đàn bố

đó qua tạp giao có thể đem các gen trội của cả hai bên bố và mẹ tổ hợp lại ở đời
lai, làm cho đời lai có giá trị cao hơn hẳn so với bố mẹ.
Ưu thế lai mang đến từ 3 kiểu: từ cá thể, từ con mẹ, từ con bố. Con lợn
lai thể hiện ưu thế lai cá thể, làm cho tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nuôi sống cao
hơn so với bố mẹ thuần chủng. Ưu thế lai từ con mẹ làm cho con nái lai đẻ ra
nhiều lợn con hơn, cai sữa con nặng cân hơn, nhiều hơn so với mẹ thuần. Ưu
thế lai từ bố làm cho con đực lai động dục sớm hơn và tính dục hăng hơn so với
bố thuần (Pork industry, 1996) [34].
Theo Falcomer (1990) giá trị các tính trạng của con lai thường vượt lên
trên trung bình của bố và mẹ:
X bố + X mẹ
X con lai >
2
1.1.2. Đặc điểm và tính năng sản xuất của một số giống lợn ngoại nhập nội
trong nghiên cứu của đề tài
1.1.2.1. Lợn Duroc Jersey (còn gọi là lợn Duroc)
a) Nguồn gốc và sự phân bố
Lợn Duroc được hình thành ở khu vực miền đông của nước Mỹ vào
khoảng những năm 1860. Mầu lông đỏ của lợn Duroc là do lai tạo với giống
lợn đỏ - nâu nhập vào nước Mỹ từ nước Ghi nê của Châu Phi. Ngoài ra một số
nhà nghiên cứu còn cho rằng các giống lợn đỏ này được các nhà thám hiểm
9
Columbus và de Soto đem từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đến nước Mỹ. Hai
dòng lợn tham gia vào việc tạo nên giống lợn Duroc Jersey là giống lợn Jersey
Red ở vùng New Jersey và lợn Duroc của New York.
Lợn Duroc được nhập vào miền Nam Việt Nam trước khi nước nhà thống
nhất. Năm 1976 được đưa ra nuôi tại trường Đại học Nông nghiệp I và trường Đại
học Nông nghiệp III. Năm 1978 chúng ta nhập Duroc từ Cu Ba về nuôi ở Viện
Chăn nuôi, trong một thời gian lợn Duroc dường như không phát triển thuận lợi ở
miền Bắc do con lai giữa lợn Duroc và nái địa phương không đáp ứng được nhu

nhanh, khả năng chuyển hoá thức ăn thành thịt cao, phẩm chất thịt tốt. Là giống lợn
có tính thích ứng và khả năng chịu đựng kham khổ cao. Về mặt sinh sản đây là
giống lợn đẻ ít con, khả năng tiết sữa không cao. Lợn Duroc nuôi tại Việt Nam được
sử dụng trong các công thức lai hai máu, ba máu hoặc bốn máu giữa các giống lợn
ngoại đạt hiệu quả cao về năng suất và chất lượng thịt.
1.1.2.2. Lợn Pietrain
a) Nguồn gốc và sự phân bố
Giống lợn Pietrain có nguồn gốc xuất sứ từ nước Bỉ vào khoảng năm 1920
11
và mang tên làng Pietrain thuộc vùng Wallon Brabant. Năm 1953 được công nhận
là giống mới tại tỉnh Wallon Brabant và công nhận là giống mới trong phạm vi cả
nước Bỉ năm 1956.
Lợn Pietrain được nuôi ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam hiện nay
chưa chính thức nhập giống lợn này, chỉ có một số tinh cọng rạ được nhập vào nước
ta theo con đường không chính thức, tuy nhiên việc tạo con lai chưa có kết quả cao.
Hình 1.2: Lợn Pietrain
b) Đặc điểm ngoại hình
Giống lợn Pietrain có mầu lông trắng đen xen lẫn từng đám, tai thẳng
đứng, đầu to vừa phải, mõm thẳng, bốn chân thẳng, mông rất nở, lưng rộng, đùi
to. Lợn Pietrain là điển hình về vết lang đen trắng không ổn định trên lông da,
nhưng năng suất rất ổn định. Khi cho lai với lợn có mầu lông da trắng thì mầu
trắng sẽ trội.
c) Đặc điểm sinh trưởng
Lợn Pietrain là giống lợn hướng nạc, có tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ cao nhất
trong các giống. Là giống lợn có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng tăng khối
lượng ở giai đoạn 35 đến 90 kg là 770 g/ngày, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
12
lượng là 2,58 kg. Các chỉ tiêu năng suất thịt như sau (khối lượng khi mổ thịt là
100kg): chiều dài thân thịt 93,2 cm; tỷ lệ thịt xẻ là 75,9%; tỷ lệ thịt nạc trên thịt
xẻ là 61,35% trong khi đó của lợn Yorkshire Pháp là 54,11%, Landrace Pháp là

tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ
xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu. Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng,
mông phát triển, tròn. Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú. Lợn Landrace là giống
lợn hướng nạc.
c) Đặc điểm sinh trưởng
Giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng
nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối
lượng bình quân/ngày từ 700 - 800 g; tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60% (một số
trạm kiểm tra năng suất thông báo tỷ lệ nạc của lợn Landrace đạt từ 59,65 -
63,10%). Khối lượng cơ thể của lợn đực từ 280 - 320kg, lợn nái từ 220 - 250kg.
Hình 1.3: Lợn Landrace
14
d) Khả năng sinh sản
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và khả năng nuôi con khéo
(trừ Landrace của Bỉ, ngoài ra lợn Landrace của Bỉ còn có gen Halothal gây
bệnh yếu tim) và lợn Landrace thường được chọn làm “dòng cái” trong các
công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau.
e) Kết luận
Lợn Landrace là giống lợn chuyên hướng nạc, tốc độ sinh trưởng nhanh,
khả năng chuyển hoá thức ăn thành thịt cao, là giống lợn có khả năng sinh sản
cao, nuôi con khéo. Tuy nhiên khả năng thích nghi kém hơn Yorkshire trong
điều kiện nóng ẩm.
Ở Việt nam, lợn Landrace được dùng để lai kinh tế và nuôi thuần dùng
trong chương trình nạc hoá đàn lợn.
Các công thức lai chủ yếu hiện đang dùng là:
Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái (hoặc lợn địa phương) để lấy con
lai F1 nuôi thịt.
Sử dụng lợn Landrace trong các công thức lai kinh tế hai giống hoặc 3
giống giữa các giống lợn ngoại để tăng tỷ lệ nạc từ 52 - 60%.
1.1.3. Năng suất sinh sản của lợn đực giống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status